• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Bin-Đinh Cửu Long

Sai Gon 1970Theo tôi biết Sài Gòn trước năm 1975 có 2 Bin-đinh nổi tiếng: Bin-đinh Cửu Long đường Hai Bà Trưng, Bin-đinh Everest, trên đường D’Ypres, con đường ngắn từ đường Nguyễn Trãi sang đường Lê Lai. Tôi không nhớ tên Việt của đường này.

Từ sau năm 1956 ngôn ngữ người Sài Gòn có tiếng “Bin-đinh.” Building, nhà nhiều tầng, nhiều phòng. Cả hai Bin-đinh Cửu Long, Everest đều có nhiều ký giả, văn nghệ sĩ là thân chủ. Bin-đinh Cửu Long được Quân Đội Pháp xây lên khoảng năm 1948, dùng làm nơi ở của những Nữ Trợ Tá Quân Đội Pháp. Sau năm 1956, người Pháp đi khỏi Sài Gòn, người Việt vào ở Bin-đinh Cửu Long và những vi-la của người Pháp ở quanh Bệnh Viện Grall.

Đa số người ở Bin-đinh là người độc thân: chưa vợ, chưa chồng. Phòng ở một người vừa vặn, hai người thì hơi hẹp. Tôi có vợ năm 1954, tôi chỉ đến Bin-đinh Cửu Long chơi với các bạn tôi, không có thời gian nào tôi mướn phòng ở đó.

Hôm nay tôi tìm được bài viết của Ký giả Phan Nghị về Bin-đinh Cửu Long, về những em Ca-ve từng sống trong Bin-đinh đó. Mời quí vị cùng tôi trở về Sài Gòn thăm Bin-đinh Cửu Long Xưa. Phan Nghị đã qua đời ở Sài Gòn.

CA VE SÀI GÒN. Phóng sự – Hồi ký của Phan Nghị. Viết ở Sài Gòn.

Bắt đầu từ những con đường chính của thành phố. Khu Catinat — Charner — Tự Do-Nguyễn Huệ với những Dancing Majestic, Maxim’s, Croix du Sud sau đổi là Tự Do. Bên đường Nguyễn Huệ có Đêm Màu Hồng của Trần Quí Phong, Rex của Ưng Thi, rồi Queen Bee. Phía gần bờ sông, có Dancing Mỹ Phụng. Sau năm 1975 người ta thấy bà chủ Mỹ Phụng ngồi bán bánh giày, bánh giò ở đầu cầu Mac Mahon. Ở đường Hàm Nghi có Dancing Victory rồi Đại Nam của Tú Vopco., thêm Dangcing Tabarin. Từ đầu đường Trần Hưng Đạo vào tới Chợ Lớn thì nhan nhản Dancing: Côte d’Ivoire, Au Chalet — bây giờ là một trạm xăng, không còn vết tích một tiệm nhảy — Moulin Rouge, nay là tiệm thuốc Bắc, rồi Arc en Ciel, Đại Kim Đô, Lai Uyn. Viết về Dancing Sài Gòn thì hông thể không nhắc đến Dancing Baccara của Mông sừ Hợp Béo ở đường Trần quí Cáp, với sàn nhảy nhỏ như cái lỗ mũi, và Ma Cabane ở xế cổng Vuờn Tao Đàn.

Tính sơ sơ, số các em hành nghề ca-ve ở Sài Gòn — từ 1960 đến 1970 — từ 400 đến 500 em! Hôm nay các em ở đâu, sinh sống ra sao? Em nào còn, em nào mất? Có em nào phải ca bài “Quê em miền Nancy, chiều ra bến xe đò, về vùng kinh tế mới” không? Gọi là các em, chẳng qua là quen miệng, bởi người ít tuổi nhất trong các em là Tâm Điệu, năm nay cũng đã ngoài 50, và nhiều tuổi nhất, bà Hạnh 76 tuổi, ca-ve nhảy ở Fantasio (Hà Nội) từ trước 1954. Lại cũng có người trở thành bà cố, như Minh Châu (Croix du Sud): cháu ngoại nàng 21 tuổi mới sinh hạ một bé trai.

Những ngày tươi sáng của Ca- ve Sài Gòn diễn ra từ 1956 đến 1960. Những năm ấy chiến tranh chưa dữ dội, Sài Gòn chưa bị đánh mìn, chưa có cuộc binh biến đảo chính nào, chưa có thiết quân luật! Người ta nhảy đầm vung vít. Giá 100 đồng một ticket tại những tiệm nhẩy cao cấp như Maxim’s, Arc en Ciel, và 30 tì, tại những nơi bình dân như Lai Uyn.

Thời điểm ấy, dân giang hồ tay chơi thường tụ tập ở Bin-đinh Cửu Long mà những kẻ nghịch ngợm gọi là Bin-đinh “9 Con Rồng Lộn”. Bin-đinh Cửu Long do Tây xây. Tây về nước, dân Mít tới thay thế. Bin-đinh có 4 tầng: tầng trệt, tầng A, tầng B, tầng C.

Tại lầu C Bin-đinh Cửu Long có hai em ca ve: Vinh và Hòe. Ba văn nghệ sĩ Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư ở phòng C5, C7 bên cạnh phòng Nhân Mũi đỏ, xế cửa phòng Võ Đức Duy. Trần đình Lâm, nhân viên Hãng TiVi Mỹ ABC ở bên số chẵn, Phòng 16, cạnh phòng em Vinh, người nấu cơm tháng, mang đến phòng, cho tất cả những khưá nào muốn ăn cơm nhà ở Bin-đinh.

Từ trưa thứ bẩy, Bin-đinh Cửu Long đã bắt đầu mở hội. Ai muốn chơi Xì Phé thì tới phòng Võ Đức Duy, muốn uýnh Chắn thì tới chỗ Trần Đình Lâm. Chợ chưa họp các em đã có mặt vì sợ mất chân! Đôi khi Cúc, Mỹ kéo theo một, hai em đồng nghiệp. Các em, người mặc đầm, kẻ mặc áo dài, cậu Lâm, chủ phòng kiêm chủ phòng, cho may 3 bộ pyjama cho các em mượn mặc, ngồi chơi bài cho thoải mái. Nhưng thật ra cậu có ý đồ: cậu dùng lưỡi lam rạch một đường dài ở đũng quần. Ca-ve Mỹ, tinh ma quỷ quái nhất trong bọn, là người đầu tiên phát hiện ra cái trò rạch đũng quần ma tịt đó, bèn giở ngay chiêu số Gậy ông đập lưng ông. Khi nào “ù xịa”, nàng chỉ việc ngồi xổm, hai tay huơ lên, miệng cười toe. Các cậu trố mắt ra nhìn cái vết quần rách, đâu còn thiết gì đến chuyện kiểm soát bài của em. Sau này, khi bể mánh, Mỹ nói tỉnh bơ:

– Nhảy với người ta thì phải trả tích-kê, còn xem của người ta cũng phải trả tiền chứ bộ!

Một hôm, mọi người đang mải mê chơi bài, chợt có tiếng đập cửa thình thình. Hỏi: “Ai?” Tiếng đập cửa dữ dội hơn, kèm theo mấy tiếng quát: “Mở cửa!” Thế là các cậu, các mợ, mạnh ai nấy chạy: leo cửa sổ chuồn sang những phòng bên cạnh. Mỹ, tuy chậm chân, nhưng cũng cố leo ra được thành cửa sổ. Nhưng khi từ trên cao nhìn xuống phía dưới thấy sâu thăm thẳm, khiếp hãi quá, nàng cứ bám chặt lấy thành cửa rồi khóc um lên! Rút cuộc, không phải Cớm đi bắt bạc, mà là Nhân Mũi Đỏ, say rượu bét nhè, đập của đòi vào phòng. Số là thời bấy giờ đang có Chiến dịch Bài trừ Tứ đổ tường. Cờ bịch, hút xách, đĩ điếm, đều bị bắt bỏ bót và có thể bị lôi ra tòa, lãnh án.

Trên cõi đời này, lên voi mãi rồi cũng phải xuống chó! Năêm 1961, sau cuộc đảo chính hụt, ông Nhà nước bèn ra cái lệnh “Cấm nhảy đầm“. Đăng-xinh biến thành phòng trà, ca-ve trở thành nữ tiếp viên. Khách chơi không còn được nhảy mà chỉ được ngồi nghe ca nhạc rồi tán gẫu với các em, để rồi uống Cái Xanh hoặc Cái Đỏ. Cái Xanh là pippermint, một loại rượu nhẹ pha với nước có màu xanh lợt, còn Cái Đỏ la Cognac, Whisky. Cái Xanh, Cái Đỏ xuất hiện trong Dancing Sài Gòn cùng một thời với Đô-la Xanh, Đô-la Đỏ.

Sau cuộc đảo chính lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm, Tháng 11-1963, Tướng Tôn Thất Đính, khi ấy là Tổng Trưởng Bộ Nội Vụ, nói với đám ký giả nhà báo chạy theo ông để hỏi về vụ Sài Gòn Nhảy Nhót:

Trên thế giới này không có nước nào cấm Nhảy Đầm. Các bạn cứ việc nhảy líp ba-ga.

Cuộc đời các ca-ve lên hương trở lại. Và Bin-đinh Cửu Long nhộn nhịp hơn xưa. Tuy nhiên, cũng có một vài thay đổi. Hai kép ở lầu C, bên số Lẻ, chán đời nhưng không dám nhảy lầu, nốc cả chục viên Valium để phiêu diêu miền cực … khổ. Kép Thanh Nam, tác giả “Cuộc đời một thiếu nữ” (Hà Nội 1953), cười toe, giã từ Bin -đinh, đi mướn nhà xây dựng tổ ấm với Nữ tác giả “Tôi nhìn tôi trên vách“. Cậu Thái Thủy đi làm con rể Mông-sừ Mặc Thu mặc dù trước đó họ toa moa búa xua với nhau. Trần Đình Lâm cũng bỏ Bin-đinh để đi lấy vợ.

Sau 30-4, 1975, 3 chị em Ca-ve Lệ Hằng bán cà phê ở Vườn Hoa Tao Đàn. Em Th. Tàu — người đã từng dùng giầy cao gót đập lủng trán Ca sĩ Hiền Lương, chủ tiệm thuốc mọc râu mọc tóc — mở một quầy bán đồ hộp. Em Mỹ, thì vồ được một kép làm ở Kiểm Lâm, nên trong nhà, từ cầu thang đến bàn ghế, giường tủ, đều làm bằng những thứ gỗ đắt giá. Em Cúc có một dạo mở quán bia ôm. Một hôm tình cờ gặp Cúc ở giữa đường, bèn hỏi:

– Dạo này ra sao?

Nàng trả lời:

– Vũ như Cẩn! Vẫn một mình nuôi con.

Nói lái: vẫn như cũ.

– Thế bố nó không phát tiền cho em à?

Tức thì nàng cong cớn đáp:

– Thỉnh thoảng nó phát cho vài ba trăm (ngàn) không đủ tiền mua xà phòng rửa…

Tính Cúc vẫn thế. Đanh đá, chua ngoa, mỗi khi nhắc tới những người tình cũ, nàng đều bắt đầu bằng câu: “Tiên sư cha nó..”

Chỉ có Minh Châu là khá nhất. Hôm đi ăn phở Bà Dậu, gặp nàng ở đầu ngõ, thấy nàng vẫn cười tươi như hoa cứt lợn, ngồi xe Dream — Dân Saigon đi xe Honda Dream là dân có cuộc sống dư giả — nàng ngúng ngóay cái mông rồi kêu lên: “Ố… Ố.. Bernadine!” Nàng giải thích:

– Khi vui cũng như khi buồn, em đều “sủa” bài ca ấy để nhớ Phụng Cao Bồi, và hồi tưởng lại những ngày xa xưa!

– Phụng Cao Bồi còn sống hay “đai” rồi? Tôi hỏi.

– Không dám đâu! Còn lâu mới “đai”. Anh ấy đi Tây, đi Canada như người ta đi chợ Bến Thành.

Minh Châu nhất định trả tiền phở, không những thế còn mua một gói bánh rán cho tôi mang về, đồng thời mời tôi đến nhà nàng.

– Hồi này coi bộ em sống dễ thở hả?

– Anh đến chơi, rồi anh thấy.

Nhà Minh Châu ở Cư xá Hàng Không Việt Nam, gần ngay Phở Dậu. Ở sân trước và nhà trong chật ních những xe máy. Nàng nói:

– Nhà em giữ xe. Gửi xe lấy ngay trong ngày thì 2000đ một xe, nếu gửi tháng thì mỗi tháng trả em 40.000 đồng. Tháng nào em cũng có thu nhập hơn một triệu đồng.

Có tiếng trẻ con khóc. Nàng chạy vào buồng, bế ra một bé trai kháu khỉnh.

– Không phải cháu em đâu, chắt em đấy. Em thành bà cố rồi chớ bộ!

Thằng bé vẫn khóc. Nàng vỗ nhẹ vào mông nó và khe khẽ ru nó bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt: “What will be will be. Muốn ra sao thì ra…” Nàng cười:

– Thằng nhóc này chỉ thích nghe nhạc nhảy đầm. Dỗ nó bằng những bài hát ru em Việt Nam, nó không chịu, cứ khóc hoài!

Gĩã từ Minh Châu. Ra tới đầu cổng cư xá, tiếng hát của nàng vẫn còn đuổi theo ở sau lưng “Muốn ra sao thì ra…”

Ừ phải. Muốn ra sao thì ra! Đó là thái độ thật đúng đối với cuộc đời, nhất là trong thời loạn hay trong thời bình mà xã hội có nhiều thay đổi.

Phan Nghị

Tôi — CTHĐ — viết thêm:

500.000 Lính Mỹ vào Việt Nam, Quân Đội Mỹ in giấy đô-la mầu Đỏ cho Lính Mỹ sài. Đô-la Đỏ không có giá trị bên ngoài những căn cứ, cửa hàng PX Mỹ.

Military Dollar
Một trong những cư dân nổi tiếng của Bin-đinh Cửu Long là anh Trần Văn Hiếu, em ông Trần Văn Chương, chú của bà Trần Lệ Xuân. Anh có cái ve ở tai nên có tên là Hiếu Ve. Sau Ngày 30 Tháng Tư, 1975, anh chán đời, anh từng nói với nhiều người anh sẽ nhẩy lầu tự tử. Một đêm anh lên sân thượng của Bin-đinh, nhẩy xuống.

Tôi biết có 2 cư dân Bin-đinh Cửu Long hiện sống ở Mỹ: Thi sĩ Thái Thủy, ở Cali, và Trần Đình Lâm, ABC, ở Virginia.

Thi sĩ Thanh Nam, năm 1978, ở thành phố Seattle, Kỳ Hoa, thương nhớ Sài Gòn, làm bài Thơ trong có 2 câu:

Lầu hoa từng buổi đuà nhan sắc,
Giấc ngủ thềm sương rộn tiếng hài.

Lầu hoa” là Bin-đinh Cửu Long, “Thềm sương” là thang lầu Bin-đinh, “Tiếng hài” là tiếng giày cao gót của các em Ca-ve gõ lách cách trên những bậc thang. Còn “Nhan sắc” tôi không biết Thi sĩ muốn nói đến ai, hay cái gì.

Năm xua, Thi sĩ Nguyễn Bính làm Thơ:

Hôm nay có một người du khách,
Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên.

Người anh em cùng vợ với tôi — H2T — cảm khái làm Thơ:

Kỳ Hoa có một người ly khách,
Không Cửu Long mà nhớ Cửu Long.

Người anh em cùng vợ của tôi mần thơ, cảm khái, tôi — CTHĐ- tôi cũng mần Thơ:

Anh không ở Bin-đinh Cửu Long,
Tại sao anh thuơng nhớ Cửu Long?
Tại vì Cửu Long như Vũ Nữ,
Nên không Cửu Long mà nhớ Cửu Long!

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: