• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Mèo Già Hóa Cáo

Những năm 1952, 1953 Đại Uý Nguyễn Ngọc Loan từ Hà Nội vào làm việc ở Sài Gòn. Những năm ấy tôi cũng sống ở Sài Gòn nhưng tôi không được quen biết Đại Úy Nguyễn Ngọc Loan. Mười mấy năm sau, khi ông là Thiếu Tướng, tôi mới được biết những năm 1952, 1953 ông có sống ở Sài Gòn khi tôi nghe Thanh Nam nói với một ông bạn:

– Hồi thằng Loan nó ở với chúng mình ở nhà Nguyễn Bá Châu, nó hiền như cục đất, sao bây giờ nó dữ thế?

Bo DoiTôi không biết những năm 1952, 1953, Đại Uý Nguyễn Ngọc Loan đã có vợ chưa. Khi tôi lần đầu gặp Thanh Nam, năm 1952, anh độc thân, ở trọ, ăn cơm tháng ở nhà anh Trúc Giang, đường Frère Louis, sau năm 1956 là đường Võ Tánh, khoảng gần Ngã Sáu Gia Long. Trúc Giang được kể là thi sĩ, nghe nói từng là bạn thân của Nguyễn Bính. Sau đó, Thanh Nam sang ở nhà anh Nguyễn Bá Châu, Nhà Xuất Bản Á Châu, đường Lê Lai. Đại uý Nguyễn Ngọc Loan, từ Hà Nội vào Sài Gòn làm việc, cũng ở nhà anh Nguyễn Bá Châu.

Nguyen Ngoc LoanThế rồi trong một tiệc tất niên — sau Tết Mậu Thân — của Nhật báo Tia Sáng trong một nhà hàng Tầu ở Chợ Lớn, Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan ghé qua buổi tiệc. Ông chỉ ở lại chừng mươi, mười lăm phút, việc ghé qua của ông là một vinh dự cho ông chủ nhiệm Nhật báo Tia Sáng. Anh em ký giả sau đó kể cho nhau nghe chuyện trong tiệc tất niên ấy, Thanh Nam, ngồi uống rượu, rung đùi như những ông đồ sồn sồn, râu rậm, những móng tay dài đóng ghét đen sì, lưng quần mùa đông lổm ngổm đầy rận ở xứ Bắc Kỳ ngày xưa — Thanh Nam chuyên môn rung đùi, Hoài Bắc kể Thanh Nam ngay cả khi đứng, tay cầm ly rượu, cũng rung đùi — Thanh Nam lớn tiếng gọi Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan:

– … Ê.. Loan..! Lại đây uống với tao một ly, mày..!

Năm 1952 tôi gặp Phạm Huy Khuê qua Thanh Nam. Khuê, văn nghệ văn gừng, từ Hà Nội vào, quen Thanh Nam từ Hà Nội, ở nhà anh Trúc Giang với Thanh Nam. Khuê trạc tuổi tôi, chúng tôi hai mươi tuổi những năm ấy, Khuê trắng trẻo, vẻ người thư sinh, ăn nói nhỏ nhẹ, có duyên, dễ mến. Nghe nói Khuê từng viết báo xi-nê ở Hà Nội, có mộng ra một tuần báo chuyên về xi-nê ở Sài Gòn. Rồi ngày tháng qua… Sau ngày ký Hiệp Định Geneve chia đôi đất nước, tôi được tin Khuê về Hà Nội.

Di Cu

Ba tháng sau ngày ký hiệp định Geneve, Việt Minh về Hà Nội, nhưng cả năm sau chính quyền Quốc Gia, và quân đội Pháp, vẫn còn ở Hải Phòng. Rồi tôi được tin Khuê trở vào Sài Gòn, đem theo nhiều sách Việt Minh cho người nọ, người kia. Khuê đem đến cho tôi quyển Thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Tôi không bằng lòng:

– Mày đem bao nhiêu sách hay vào, mày cho chúng nó hết, không nhớ gì đến tao. Cho tao có quyển này thôi à?

Khuê an ủi tôi:

– Yên trí. Tao còn về Hà Nội lần nữa. Rồi tao vào ở luôn. Lần này vào tao mang thật nhiều sách văn nghệ vào cho chúng mày.

Khuê trở về Hà Nội lần thứ hai, nhưng không thấy anh trở vào Sài Gòn như anh nói. Tôi quên Khuê. Cho đến một buổi sáng cuối năm 1975, tôi ngồi trong căn nhà tối nhìn ra thấy có người đến cửa. Tôi ra mở cưả, câu đầu tiên tôi nói với người đến là câu hỏi:

– Khuê hở mày?

Phạm Huy Khuê từ Hà Nội trở vào Sài Gòn, chuyến trở vào chậm đúng hai mươi năm. Khuê không đổi khác mấy, tôi nhận ra Khuê ngay. Tôi hỏi Khuê:

– Sao ngày đó mày nói mày trở vào? Mày đổi ý mày ở lại à?

Khuê cho biết khi anh từ Hà Nội đi sang Hải Phòng để vào Sài Gòn, anh mang theo quá nhiều sách báo Việt Minh. Giữ đúng lời hứa với anh em, Khuê mang số văn hoá phẩm ấy vào Sài Gòn làm quà tặng bọn chúng tôi. Tầu hỏa Khuê đi từ ga Hàng Cỏ Hà Nội đến ga Phạm Xá giữa đường Số 5 thì dừng lại, đổi tầu, nhân viên Hoả xa Hải Phòng, phe Quốc Gia, lên đoàn tầu từ Hà Nội xuống, đưa tầu về Hải Phòng, nhân viên hoả xa Hà Nội, phe Việt Minh, lên đoàn tầu từ Hải Phòng lên, đưa tầu về Hà Nội.

Tầu đến ga Hải Phòng, cảnh sát Quốc Gia kiểm xoát, Khuê bị giữ lại vì anh mang theo nhiều sách báo Việt Minh. Hiệp Định Geneve có điều hai phe không được cho người tuyên truyền sang địa phận của nhau. Vì mang theo một lô sách báo Việt Minh, Khuê bị nghi là cán bộ tuyên truyền Việt Minh xâm nhập Hải Phòng. Khuê bị giữ trong nhà tù Hải Phòng. Pháp và nhân viên chính quyền Quốc Gia đi khỏi Hải Phòng, Việt Minh vào thành phố Cảng, Khuê ra khỏi tù, anh ở lại Hà Nội.

Câu “Nhất ẩm, nhất trác giai do tiền định..” thật đúng trong trường hợp bất đắc dĩ phải sống với “Bác và Đảng” trong hai mươi năm của Phạm Huy Khuê. Sau cùng Khuê cũng trở vào được Sài Gòn, chỉ có điều là anh vào Sài Gòn chậm hai mươi năm, lẽ ra anh trở vào Sài Gòn năm 1955 chứ không phải năm 1975.

Ở Virginia, tôi có vài lần được nói chuyện với ông Phạm Huy Ty, vị Cựu Đại Sứ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà ở Trụ sở Liên Hiệp Quốc. Có lần tình cờ tôi nói đến Phạm Huy Khuê, ông Phạm Huy Ty nói:

– Nó là cháu tôi nhưng nay nó là trưởng tộc họ Phạm Huy chúng tôi đấy.

Ông Cựu Đại Sứ đã qua đời. Tôi nhớ một lời ông nói, một chuyện ông kể. Ông nói:

– Mình chửi cộng sản, mình chửi mình nghe, chúng nó có nghe đâu.

Ông kể những năm 1948, 1949 ông Bảo Đại, khi ấy là Quốc Trưởng, mới về nước, ông làm việc trong văn phòng Quốc Trưởng ở Đàlạt. Thời ấy ông Bảo Đại thường được những cận thần gọi bằng cái tên “Ngài ngự“, “Ngài ngự hồi loan, Ngài ngự tuyên bố..” Một hôm ông Bảo Đại cần cây bút, ông hoàng thân hầu cận ông Bảo Đại ra văn phòng bảo đưa cây bút cho Quốc Trưởng dùng. Mấy ông nhân viên văn phòng quíu lên vì văn phòng chỉ có mấy cây bút Bic, không có cây bút nào xứng đáng để Quốc Trưởng dùng cả. Ông hoàng thân trách:

– Các ông phải có sẵn bút để “Ngài ngự” dùng chứ.

Ông Phan Huy Ty kết thúc câu chuyện:

– Sau đó chúng tôi nói với nhau: “Ngài ngự” có viết cái gì bao giờ đâu mà cần có bút!

Ông Phan Huy Ty nói thật đúng về “Ngài ngự,” quả thật là cả đời “Ngài ngự” chẳng viết một chữ nào. Hồi ký của “Ngài ngự” do một ông Tây viết.

Phạm Huy Khuê nói cho tôi nghe nhiều chuyện linh tinh của miền Bắc Xã Hội Chủ nghiã, anh dặn tôi:

– Với bọn cộng sản thì tội nào cũng có thể tha thứ được, chỉ có tội xúc phạm Bác Hồ của chúng nó là chúng nó không tha. Mày nhớ đấy, đừng bao giờ đụng đến Ông Hồ!

Những ngày u ám ghê khiếp liên tiếp theo nhau đến với tôi.. Sống quẩn quanh ngày tháng nó nặng triền triền… Ngày qua ngày muộn, đêm phiền theo đêm.. Những năm1976, 1977…, tôi buồn quá đỗi, buồn đến không thể nào chịu được, đến không sao có thể sống được. Tôi đâu có muốn làm thơ. Tôi biết sống trong gông cùm của cộng sản mà làm thơ sầu buồn, oán hận, cộng sản ác ôn nó vớ được là mình không chết cũng khốn khổ khốn nạn mí nó. Sống với nó mình chỉ than buồn thôi nó đã đem mình đi nó cất kỹ năm, bẩy năm. Nhưng vì sầu buồn quá đỗi tâm trí tôi cứ tự động làm thơ, trái tim tôi làm thơ mà phớt lờ khối óc. Tôi làm mấy bài Vịnh 12 Con Giáp:

Gà què ăn quẩn cối xay
Đùi teo, cật lép lại hay động tình.
Đêm không chịu ngủ một mình,
Ngày thì gạ mái cứ inh cả nhà.
Cà-ri ta đến tiệm Chà,
Mua ngay mấy gói cho gà đi đoong!

HEO

Nhiều loài ở bẩn hơn tôi,
Sao tôi chịu tiếng để đời: như heo!
Chủ về chẳng kịp đi theo,
Não nùng cám mốc gặp bèo phôi pha.
Chán chường vì nỗi người ta,
Lợn lành đem chữa hoá ra lợn què!

NGỰA

Đường dài hay sức ngựa phi,
Một thời tuyệt-phích, dzô-kề đã xa.
Ngựa già cho đến ba-toa,
Ngựa non cám mốc, roi da đã đời!

MÈO

Mèo già đuôi lại dài đuôi,
Đã không bắt chuột lại lười, ngủ trưa.
Lưỡi dài chỉ giỏi liếm bùa,
Bao giờ hóa cáo cho ra Ba Đình.

Ta có câu “dán bùa l.. mèo” để gọi những việc làm qua loa, qua quít. làm cho có làm, làm được ít ngày là hỏng ngay, như việc dán lá bùa vào l.. em mèo cái, em này liếm một cái là lá bùa rơi ra liền một khi. Lại có câu “mèo già hóa cáo.” Với mấy câu vịnh Mèo tôi ngầm nhắc đến Già Hồ, nhiều người gọi Già Hồ là Cáo Hồ. Con mèo trong bài Thơ vịnh 12 Con Giáp của tôi bao giờ hoá cáo sẽ được tôi cho ra Ba Đình, nơi có lăng Cáo Hồ, để nằm với Cáo Hồ.

Bọn Công An Thành Hồ đến nhà bắt tôi vớ được tập Thơ của tôi trong có ghi mấy bài Vịnh 12 Con Giáp. Những đêm dài nằm trằn trọc trong xà-lim Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, nhớ đến bài Mèo Già, và nhớ đến lời Phạm Huy Khuê: “Xúc phạm Bác Hồ của chúng nó là chúng nó không tha..!” tôi ân hận ơi là ân hận. Trong đời tôi có làm vài việc để tôi phải ân hận, nhưng không có việc nào làm tôi sợ bằng việc tôi làm Thơ đặt loài Mèo Lưỡi Dài Liếm Bùa ngang hàng với “Bác Hồ muôn kính, ngàn yêu” của bọn Bắc Cộng. Tôi ân hận và tôi sợ. Sợ quá là sợ. Tôi nghĩ: Nó tó được bài thơ mình chửi Bác chúng nó, chúng nó sẽ không tha mình. Chúng nó sẽ cho mình đi tù mút mùa không có ngày về..! Mình.. chắc chít quá..!

Nhưng qua hai lần tù đày — 8 niên — tôi không chết. Nhiều người tù đày ác liệt, ghê khiếp gấp không phải trăm lần mà gấp ngàn lần tôi, nhưng những người ấy vẫn không chết. Hôm nay, một ngày cuối năm ở Xứ Người, tôi vẫn sống để viết những dòng chữ này.

Tôi thả hồn trở về những khu cư xá đèn vàng của Sài gòn thương yêu. Mắt tôi thấy đèn sao Noel sáng trước cửa những căn nhà Sài Gòn, tai tôi nghe tiếng Nhạc Silent Night, Jingle Bell..

Đêm Giáng Sinh vẫn năm năm trở lại Sài Gòn!

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: