• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Người Trăm Năm Cũ

NGƯỜI TRĂM NĂM CŨ, tiểu thuyết của Hoàng Khởi Phong, 864 trang, đến Rừng Phong một chiều thu muộn. Đêm lạnh, phòng ấm, đèn vàng — yên lặng, an ninh năm chăm phần chăm, không sợ hai, ba giờ sáng đang ngủ choàng dậy vì tiếng đập cửa, nhìn ra thấy lố nhố bầy đầu trâu, mặt ngựa đưa xe bông đến rước mình đi tù — nằm đọc sách là một khoái lạc cực kỳ. Tôi cảm khái khi đọc HKP viết trong lời Tựa:

…Thời gian không viết này tôi làm ca ba từ 11 giờ đêm đến 6 giờ sáng. Để cho đêm dài chóng qua, để cho không buồn ngủ, tôi hay nghĩ về những đoạn đường đã qua trong đời sống tôi. Ban đầu tôi nghĩ đến người thật việc thật. Tôi nghĩ đến những người tôi yêu và cả những người tôi ghét, riết rồi người thật, việc thật cũng cạn dần…

De Tham Lời kể làm tôi nhớ lại thời gian tôi nằm phơi rốn trong sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu năm 1977, lần thứ nhất tôi bị Công An Thành Hồ tó. Người thẩm vấn tôi là anh Huỳnh bá Thành, tức Ba Trung, Việt Cộng nằm vùng, tức anh họa sĩ Ớt vẽ hí họa ở nhật báo Điện Tín. Chắc không có anh tù nạn nhân cộng sản nào ngu dại như tôi — không thể nói là ngây thơ, phải nói là ngu dại — tôi là tên có tật ỷ lại, hay dựa dẫm người khác, nằm sà-lim một mình buồn quá, nhìn sang những phòng tập thể thấy anh em tù bên ấy sống thoải mái, chuyện tếu cười cợt suốt ngày, tôi ngỏ lời xin Ba Trung Huỳnh bá Thành cho tôi sang phòng tập thể, hắn hỏi tại sao tôi muốn sang phòng tập thể, tôi trả lời:

— Nằm biệt giam một mình buồn quá, tôi muốn sang phòng tập thể có anh, có em cho vui.

Tù phản động nằm sà-lim mà nói với công an VC rằng “tôi muốn sang phòng tập thể ở với anh em cho dzui” thì.. chít dzồi. Phi nỉ lỗ đía. Hết nước nói. Không những nó không cho sang mà nó còn cho tôi nằm sà-lim 12 tháng 2 ngày, trong khi anh Nguyễn Mạnh Côn, và Thanh Thương Hoàng, hai người bị nằm sà-lim lâu nhất trong số ký giả-văn nghệ sĩ Sài Gòn bị VC bắt Tháng Ba 1976, chỉ bị nằm sà-lim có 4 tháng. Nằm sà-lim cứ lơ mơ ngủ cả ngày, đêm đến không sao ngủ được. Khu sà-lim C Một Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu gần ngay đường Chi Lăng, tôi nghe rõ tiếng rao bánh dầy, bánh giò ngoài đường lúc 8, 9 giờ tối, nghe tiếng máy xe nổ cuối cùng lúc 1 giờ sáng rồi nghe tiếng xe ba bánh gắn máy đầu tiên trong ngày lúc 3 giờ sáng nổ ở cửa chợ Bà Chiểu.

Đêm không ngủ được tôi nằm nhớ lại những chuyện đã qua, hết chuyện người, hết chuyện tình yêu, tôi dựng lại căn nhà của thầy mẹ tôi ở Hà Đông, tôi thấy lại những đồ đạc trong nhà: bộ sa-lông Tầu, sập gụ, tủ chè, hoành phi, câu đối, tủ kính bầy đồ cổ của thầy tôi, khẩu súng săn đặt trên giá..Tôi nhớ lại những ngày tôi sống, những việc tôi đã làm với thầy mẹ tôi, với các em tôi. Mèn ơi.. Càng nhớ lại tôi càng ân hận. Tôi ân hận vì tôi đã không làm với những người thân yêu của tôi những việc tốt mà tôi có thể làm được để cho những người thân yêu tôi ấm lòng, sung sướng, những việc tôi làm tốt cho những người thân yêu của tôi cũng làm tôi ân hận, vì tôi thấy tôi có thể làm tốt hơn thế mà tôi đã không làm. Toàn ân hận và ân hận. Nhưng lâu quá những chuyện cũ nhớ lại mãi rồi cũng hết. Đầu óc tôi rỗng không. Cái rỗng không thật khủng khiếp. Việc nhớ lại chuyện cũ làm tôi có cảm giác tôi tự xé, tự lột từng lớp thịt tôi ra khỏi xương, lột hết lớp này đến lớp khác. Ban ngày nghĩ ra được một chuyện gì đó tôi vội vàng bảo tôi: Dzẹp. Để đến đêm mình nghĩ.

Có lần tôi đọc ý kiến của một người nào đó cho rằng: “Người ta nên có một thời gian để nhớ lại chuyện cũ, như những lúc nằm bệnh chẳng hạn“. Nhưng nằm bệnh là lúc cơ thể bị hành hạ, trí óc bị ảnh hưởng, đang đau ốm làm sao người ta đủ sáng suốt để tưởng nhớ, để suy nghĩ, để phân tích những chuyện đời. Ta có thể suy nghĩ tốt nhất là những lúc ta nằm khoèo trong tù, ở tù mà phải là tù sà-lim, tù nằm một mình cả năm, mười tháng, khi thân thể ta khỏe mạnh, trí óc ta hoạt động tốt. Không thấy tác giả NTNC kể trong lúc ông suy nghĩ ông làm công việc gì; phải làm công vịệc bằng tay, máy móc, ta mới có thể suy nghĩ được, nhưng dù làm việc bằng tay ta cũng không thể suy nghĩ được bằng tất cả kha năng của trí óc ta , một phần trí óc ta vẫn phải dành cho công việc chỉ huy đôi tay ta đang làm việc.

Tôi không viết bài này như một bài phê bình sách, tôi chỉ viết ở đây những cảm nghĩ của tôi khi tôi đọc tác phẩm Người Trăm Năm Cũ, tôi viết vì cảm tình với tác giả, vì thấy tác giả còn viết được nhiều và có thể viết hay hơn, để tác giả thấy tôi có đọc tác phẩm của ông. Đọc không kỹ từng trang, nhưng có đọc. Tôi thấy đa số những bài gọi là phê bình sách đều do những người bạn của tác giả viết để bốc thơm tác giả, để đề cao tác phẩm, coi như đó là một tuyệt tác văn chương. Nhiều người rõ ràng là không đọc tác phẩm nhưng cứ bốc tác phẩm loạn cào cào bằng những ngôn từ hoa mỹ nhưng vô nghĩa. Tôi không thấy mấy ai giúp ích được gì cho tác giả, hay độc giả qua những bài gọi là phê bình, phê lọ đó. Nhiều ông có tiếng tăm được tác giả nhờ viết Tựa còn dễ sợ hơn, các ông viết rất bừa bãi. Được nhờ viết Tựa tức là các ông được tác giả đưa bản thảo cho đọc trước khi in, nhưng rõ ràng các ông đã không đọc vì trong tác phẩm có những lỗi, những sai lầm to tổ bố mà các ông không thể không thấy nếu các ông có đọc, dù chỉ đọc lướt qua. Cũng phải nói là nhiều người viết không mong gì hơn là được đàn anh dán cho vài tờ giấy trang kim lên mông đít, tức là bốc cho tác phẩm của mình vài câu hoa hòe hoa sói.

Một tác phẩm lớn gồm những chi tiết nhỏ, do những chuyện nhỏ mà thành. Tác phẩm lớn không phải là tác phẩm dầy, nhiều trang. Quyển truyện ngàn trang không nhất thiết là quyển truyện hay, có giá trị. Tác giả viết những quyển truyện dầy cả ngàn trang không nhất định là tác giả có tài năng, nhiều đương sự chỉ là người can tội tàn phá môi sinh, hủy hoại nhiên liệu. Và những chi tiết nhỏ làm nên những tác phẩm lớn phải là những chi tiết đúng.

Trong NTNC tác giả mấy lần kể “đồng bạc hoa xòe” . Trang 36: “.. Mười đồng bạc hoa xòe đâu có phải là ít.. (…) Bà rùng mình không dám nghĩ tiếp, chỉ cầu trời phù hộ cho con bà, và cô gái đã cho bà mười đồng hoa xòe còn nặng trĩu trước bụng“. Trang 755: “… Pagès móc túi ra mấy đồng bạc đầm xòe trắng ngần đưa cho sư cụ…” Trang 360, nhân vật Lê Hoan hứa: “.. đứa nào dám đi lính cho Đề Thám để lấy tin tức cho ta, ta sẽ thưởng mỗi tháng năm đồng bạc hoa xòe… Lê Hoan cho tay vào lần túi áo trong. Ông moi ra được vài đồng bạc hoa xòe, tiện tay đưa cho người đưa tin và nói — “Cầm về đong gạo cho vợ..””

Đồng bạc hoa xòe hay đồng bạc đầm xòe? Hình như “hoa xòe” và “đầm xòe” có sự khác nhau. Tôi mười tuổi năm 1940, mỗi buổi đi học được mẹ cho một xu ra chơi ăn quà, tôi có nghe nói nhưng tôi không thấy đồng bạc hoa xòe bao giờ. Năm 1940 những đồng bạc hoa xòe ấy đã không còn lưu hành ở Bắc kỳ. “..mười đồng hoa xòe còn nặng trĩu trước bụng..”: người đọc có thể không hiểu tại sao lại “nặng trĩu trước bụng” nếu không từng thấy những bao thắt lưng của phụ nữ miền quê Bắc kỳ.

Ngày 8 Tháng Ba năm Nhâm Ngọ,1882, quân Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai, Tổng Đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết, ngày 13 Tháng 4, 1883, Đại tá Henri Rivière bị quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc giết ở trận Ô Cầu Giấy, tháng 2 năm 1884 quân Pháp chiếm thành Bắc Ninh, tháng 5, 1884 triều đình Huế ký Hiệp Ước Patenotre nhìn nhận chủ quyền của Pháp ở Bắc kỳ. Cuộc kháng chiến của Lực lượng Hoàng Hoa Thám được kể trong NTNC chắc là xẩy ra vào những năm 1890. Khi ấy người Pháp mới đến đất Bắc có 6 năm, họ chưa bình định xong nước ta, chưa đặt được vững chắc bộ máy cai trị của họ trên đất nước ta, tôi không chắc họ đã đặt đúc những đồng bạc hoa xòe — bạc cắc, bằng bạc — ở bên Pháp để mang sang dùng ở nước ta. Thời ấy tất nhiên họ cần có tiền để chi dùng, để trả lương cho những người Việt theo họ, họ dùng tiền gì? Tôi không biết. Tôi chỉ nghĩ chắc những năm 1890. 1891 người Pháp chưa có những đồng bạc hoa xòe để tiêu ở Việt Nam.

NTNC có nữ nhân vật mở đầu truyện là Duyên. Là cháu họ lão Lý trưởng, bị lão muốn lấy làm vợ bé, Duyên bỏ làng trốn đi với người yêu. Đây là một đoạn tả lão Lý trưởng:

NTNC. Trang 38-39:

— Một dinh cơ chứ mười dinh cơ cô cũng xin kiếu. Suốt hai năm nay không bao giờ cô dám cười trước mặt lão Lý. Lúc nào cô cũng phải giả bộ rầu rầu, có khi phải lạnh tanh như một hòn cơm nguội. Bởi vì cô tự biết cô đẹp, mà lão Lý thì cái khoản hiếu sắc phải kể hàng đầu. Lão thậm hiếu sắc, trẻ không tha, già không thương. Đã thế lão lại tham nên chỉ chơi hoa rồi lại bẻ cành, dầy vò không thương tiếc những kẻ thất thế. Chán chê mê mỏi rồi, thì lão đá cho bọn thủ hạ của lão. Ngay cái tỉnh Hà Đông cách làng Duyên hơn mười cây số đó, thiếu gì người phải bán phấn buôn hương, bán trôn nuôi miệng, cô đầu cô đít cũng chỉ vì bị qua tay lão.

Theo như tôi biết — cũng có thời trong đời tôi tôi được sống ở vùng quê Bắc kỳ — đồng đất Bắc kỳ nghèo lắm. Chuyện kể thời Việt Cộng phát động chiến dịch đấu tố địa chủ, một anh kháng chiến miền Nam tập kết đi dự cuộc cải cách, thấy ruộng đất của những người bị tố ít quá, thốt lên: “Có mảnh ruộng con chó ngồi cũng thò đuôi ra ngoài, địa chủ cái gì..” Kể để nói rằng miền quê Bắc kỳ nghèo, miền quê tỉnh lỵ Hà Đông không nghèo hơn mà cũng không giầu hơn miền quê những tỉnh khác. Nhà cửa của những anh Lý trưởng Bắc kỳ không có gì đáng gọi là “dinh cơ”. Giầu lắm, lớn lắm là nhà ngói năm gian, sân gạch, bể xây đựng nước mưa, vườn trước, vườn sau, ao riêng trong vườn nhà; ao tù nông toèn, chỉ có con nít hai, ba tuổi ngã xuống ao mới bị chết đuối. Trên Lý trưởng có Chánh tổng, anh Lý trưởng làm bậy bị anh Chánh tổng đì sặc gạch bất cứ lúc nào, chưa nói đến chuyện tri phủ, tri huyện sẵn sàng hỏi tội. Lý trưởng, Phó lý được cái gọi là hội đồng kỳ mục, kỳ nát trong làng bầu ra, làm một nhiệm kỳ mấy năm rồi bầu lại, mấy anh không thể hoành hành như ông trời con ở trong làng, các anh vẫn phải giữ thể diện, dù là giả dối. Trong một làng không phải chỉ có một anh có thể làm Lý trưởng. Phải ít nhất là Chánh tổng mới có thể hách sì sằng, mấy anh Lý nhép không ra cái thống chế gì cả. Ngày xưa những anh dâm dục ở làng quê thỏa mãn lòng dâm bằng cách lấy vợ bé, cũng có những anh hiếp dâm nhưng rất ít. Các anh có quyền, có điều kiện có hai, ba vợ. Theo tôi nghĩ, có thể không đúng, anh đàn ông nhà quê Bắc Việt ăn rau đậu nhiều hơn thịt cá có dâm đến mấy cũng sìu khi có hai, ba chị đàn bà chờ sẵn.

Thị xã Hà Đông năm 1940 có khu Bông Đỏ — khu này có mấy cây me tây, văn huê là phượng vĩ, mùa hè nở bông đỏ nên gọi là khu Bông Đỏ — có năm, bẩy nhà cô đầu. Cô đầu Hà Đông bên hông Hà Nội nghèo, không có gì đáng kể. Đấy là tình hình kỹ nghệ Cô Đầu Hà Đông những năm 1940. Năm 1887, khi cô thôn nữ Duyên trong NTNC bỏ làng trốn đi, tôi sợ chưa có cái thị xã Hà Đông như thị xã Hà Đông năm 1940, chắc tỉnh Hà Đông năm ấy, năm 1887, chưa có khu cô đầu.

NTNC trang 41:

…trong chạn ăn nhà lão Lý thì lúc nào cũng có giò chả dự trữ. Thằng oắt con nhà lão năm nay vừa mười tuổi, mà đã có thói ăn giò chả nhả bã…

Những năm 1940 ở Bắc kỳ đến cả những nhà Tổng đốc cũng không dự trữ giò chả trong nhà để ăn dần được, khoan nói đến nhà những anh Lý nhép ở làng quê. Không nhà nào dự trữ giò chả được vì giò chả nó mau thiu, để nó trong chạn chỉ ngày trước, ngày sau, không cần gặp trời nồm, giò chả nó chua liền tù tì tút suỵt, không ăn được. Muốn trữ giò chả để ăn vài ngày người ta phải để nó trong phi-dzi-đe. Vào những năm 1890 tôi chắc chưa có nhà anh Lý trưởng làng quê nào ở Bắc kỳ có phi-dzi-đe, tức tủ lạnh. Cũng không ai ăn giò chả mà nhả bã, kể cả các ông Gia Long, Tự Đức, Bảo Đại, vì giò chả nó không có bã, ăn giò chả người ta nuốt nó hay người ta nhả miếng giò, miếng chả ra nguyên con, ăn giò chả mà nhai nát rồi nhả ra người ăn chỉ nuốt được tí nước mắm mằn mặn.

NTNC trang 55 đến trang 61, tả cảnh ông Đề Thám, cùng năm ông ta có thể coi như các ông tướng trong lực lượng nghĩa quân đánh Pháp, cưỡi ngựa đi công tác trong vùng Nhã Nam, Bắc Giang. Tối xuống, các ông ghé vào một cái hang nghỉ đêm. Truyện tả các ông nấu cơm ăn:

..Mâm cơm có một chảo canh, nước canh xanh như mầu bích ngọc, mấy con tép khô nổi lều bều. Một tầu lá rừng to bản trên có những miếng thịt trâu kho mặn, những hạt tiêu sọ lổn nhổn chen lẫn với những miếng thịt đen sì…

Mặc dù vài trang trước tác giả có để nhân vật nói lý do nhóm nghĩa quân kháng chiến phải nấu cơm ăn: “.. hai ngày nay ăn cơm nếp ống giang mãi cồn ruột quá..” tôi cũng thấy cái đoạn kháng chiến quân hành quân bí mật nấu cơm trong rừng sao nó lích kích quá. Để ăn tạm trong vài ngày đi đường người ta có lương khô, người ta có thể ăn lương khô cả tháng. Đồng ý là ăn lương khô người ta khó chịu nhưng đó là chuyện bắt buộc. Người đi rừng có thể vẫn cứ ngày ngày nấu cơm ăn như ở nhà nhưng muốn nấu được mâm cơm như mâm cơm trong NTNC người ta phải mất ít nhất là hai tiếng đồng hồ thổi nấu, người ta phải mang theo ít nhất là một cái nồi thổi cơm, một cái chảo nấu canh, một cái nồi nấu nước trà — sau bữa ăn thấy tả các ông nghĩa quân uống trà nóng lấy ra từ cái nồi đồng — ba thứ trên đều bằng đồng, nghĩa quân không thể mang theo nồi đất trên lưng ngựa, ngựa chạy lóc cóc nồi đất nó vỡ, thêm gạo, muối, trà, ta miễn kể nước mắm, vài quả ớt, và tép khô, thịt trâu như ta thấy tả trong truyện, thịt trâu kho mặn nó ướt, phải để trong hũ sành, thời ông Đề Thám đánh Tây chưa có bịch nylon, lại còn rau để nấu canh với tép khô — hình như tép khô khi nấu canh nó hút nước, nó chìm chứ nó không nổi lều bều — trong bữa ăn kháng chiến NTNC tép khô nấu với rau rừng làm canh, và ít nhất là sáu cái bát ăn, sáu đôi đũa — nghĩa quân không thể ăn bốc — lại còn sáu cái bát để uống trà, các ông không thể múc nước trà nóng vào cái bát vừa mới ăn cơm xong, uống thế nó tanh, mất hết hương vị trà, nếu lại có ông phải vất vả mang sáu cái bát vừa được dùng để ăn cơm xuống suối rửa sạch rồi mang trở lên hang uống trà thì sốt ruột quá. Ấy là chưa kể cái ống điếu thuốc lào quốc hồn, quốc túy, trong hang núi, giữa rừng già — hình như Nhã Nam, Bắc Giang, không có rừng nhưng cứ cho là Nhã Nam có rừng, có bản Mường đi — ăn cơm nóng, canh nóng, uống nước trà nóng mà thiếu khói thuốc lào thì người ta thiếu nhiều lắm, có thể nói là thiếu tất cả. Mang được nồi chảo, gạo muối, bát đũa đi theo thì mang cái ống điếu thuốc lào theo dễ thôi. Có lý nào các ông lại quên cái ống điếu thưốc lào. Hay là các ông nghĩa quân có mang theo cái ống điếu thuốc lào bất khả thiếu mà tác giả quên tả chăng?

Nhưng mà tôi thấy sao cái chuyện mấy ông nghĩa quân nấu cơm giữa rừng có vẻ như mấy chú Hướng đạo sinh — Sì-cút– đi cắm trại nấu ăn ngày xưa quá ta. Sáu ông đi công tác bí mật chỉ trong vài ngày, các ông không thể đi cả tháng trong vùng trung du Bắc Giang- Tuyên Quang – Phú Thọ, vùng ấy không đủ rộng để các ông đi cả tháng trong nó, trừ khi các ông đi quanh quẩn, mà mang theo từng ấy nồi niêu, soong chảo thì mấy ông chịu khó quá đỗi. Chắc phải có một con ngựa riêng chở từng ấy thứ, hay là mỗi ông mang theo bên yên ngựa chiến một thứ, ông cái nồi, ông cái chảo, ông hũ muối, ông hũ thịt trâu kho.

NTNC, trang 756,757:

Sư cụ bước xuống sân, từ tốn đi ra ngoài cổng tìm hai con chó vá về, miệng lẩm bẩm nói cho mình nghe:

“Không biết hai con chó nhép này chạy đi đâu. Thật là đến thú vật còn sợ bạt vía. Huống chi là con người?”

Sư cụ vừa đi vừa ngẫm lại mọi việc từ lúc lính Tây ập vào chùa, cho tới khi họ kéo đi. (…) Cứ vừa đi sư cụ vừa gào tên hai con chó. Nếu có tên do thám nào còn lởn vởn đâu đây nó cũng đỡ sinh nghi. Sư cụ như có linh tính biết có người đang rình mò, nên thơ thẩn gọi chó một lúc rồi quay về chùa.

Từ cổng chùa đi vào, sư cụ ngước nhìn lên nóc chùa trang trí bằng hai con rồng đắp nổi đang tranh nhau một hạt minh châu…

Một ngôi chùa vùng Bắc Ninh-Bắc Giang vì chứa nhóm ông Đề Thám nên bị lính Tây đến xét. Tôi nghĩ hai con rồng trên nóc chùa không phải là hai con rồng đắp nổi, tượng đắùp nổi là hình tượng được đắp vào bức tường, tượng chỉ có một mặt. Không biết những chùa miền Bắc có hai con rồng trên mái không? Tôi nhớ hình như chỉ những đình làng hay điện thờ, như Đền Hùng, mới có rồng trên mái, chùa không có. Nhưng tôi không nhớ chắc lắm. Duy có chuyện nhà chùa Bắc kỳ — bây giờ tôi không biết thế nào, tôi viết chuyện nhà chùa Bắc kỳ ngày xưa — không chùa nào nuôi chó. Người quê ta nuôi chó để giữ nhà, nhà chùa là cửa Không, nhà chùa còn có của cải gì bán được ra tiền để phải nuôi chó báo hiệu kẻ trộm. Dù tác giả đã cho ông Sư bác tên là Tâm nói cho ta biết trước nhà chùa có mấy cái mâm đồng, nồi đồng để nấu cơm chay cho thiện nam, tín nữ thập phương, mấy thứ bằng đồng ấy có thể bị trộm, để chúng minh việc nhà chùa nuôi chó giữ chùa là cần thiếtù, tôi vẫn thấy chuyện ấy — chuyện nhà chùa nuôi chó giữ chùa — làm tôi théc méc.

Đa số nhà chùa miền Bắc ngày xưa đều nghèo. Chuyện chùa có chuông vàng, khánh bạc chỉ là chùa của nhà họ Hoạn trong tiểu thuyết Tầu. Không phải chùa nào cũng có tượng Phật bằng đồng, tượng thường là tượng đất, tượng gỗ, chùa chỉ có cái chuông bằng đồng, mà chuông chùa thì ngày xưa kẻ trộm không bán cho ai được.

Nhà chùa mà nuôi chó thì nhiều chuyện phiền nhiễu rắc rối tơ lắm lắm. Nhà chùa ăn chay, không biết chó nó có ăn chay trường được không? Đồng ý là chó nó ở với người — sư sãi cũng là người — nó ăn theo người, người cho nó ăn gì nó ăn cái ấy, nhưng nếu nó trai tịnh không nổi, nó đói, nó thèm, nó lẻn ra ngoài nó ăn bẩn nhà chùa có cách gì cấm nó không? Lại còn chuyện nếu nhà chùa nuôi chó, cứ cho là nhà chùa nuôi chó giữ chùa đi, nhà chùa nuôi chó cái hay chó đực? Nếu là chó đực nó sẽ không biết giữ giới, đến mùa động đực nó sẽ chui rào chùa ra ngoài, mò vào xóm dân tìm chó cái, dân làng sẽ nói: “Chó chùa đấy.. Chó Sư cụ đấy!” Cũng kỳ. Nếu nhà chùa gọi người đến thiến chó cũng kỳ. Nếu nhà chùa nuôi chó cái thì còn kỳ hơn. Chó cái, dù là chó nhà chùa, cũng động đực như chó nhà thường dân. Đến mùa nó không cần đăng báo tìm bạn cũng có ba, bốn con chó đực đến ngồi lè lưỡi chờ nó trước cổng chùa. Ấy là chưa kể chuyện lỡ con chó nhà chùa đi loạng quạng ngoài chùa bị đứa bất lương nào nó bắt nó rựa mận mất, bọn xấu sẽ nói nhà chùa hạ cờ tây rồi. Nhà chùa mang tiếng oan.

Nhà chùa mất chó nhà chùa đi tìm chó, cũng đúng thôi, nhưng người nhà chùa đi tìm chó thường là chú tiểu. Chùa thường có chú tiểu lo việc tạp dịch. Chú tiểu ở đâu mà để cho Sư cụ phải lọ mọ đi tìm chó? Chiều tà, văn huê là hoàng hôn, mặt trời mầu cam từ từ xuống nơi chân trời, mây hồng lững lờ trôi, đàn chim vỗ cánh lặng lẽ bay về rặng núi xa, vài ngôi sao sớm lấp lánh trên nền trời sám, trên con đường đất vắng tanh bên mái chùa cổ kính, vị Sư già vừa đi vừa gọi: “Êu.. Êu..Vá.. Vá.. Cún.. Cún.. Tặc.. Tặc..” Tặc.. tặc là tiếng Sư cụ tắc lưỡi. Cảnh mới thoát tục và gợi cảm làm sao.

Không nhớ chuyện về nhân vật nào, đăng ở đâu, chỉ nhớ ngày xưa một ông đến thăm chuà, lúc ra khỏi chùa bị hai con chó nhà chùa xô ra sủa, làm câu:

Phật thật hiền lành, sư cũng tốt.
Chỉ hai con chó chửa từ bi.

Như vậy ngày xưa Bắc kỳ có chùa nuôi chó ư?

Như đã nói bài này không phải là bài phê bình sách. Tôi chỉ viết những ý nghĩ vụn vặt của tôi khi tôi đọc tác phẩm Người Trăm Năm Cũ.

*****

Tạp chí VĂN, Số 63-64, trong bài Sổ Tay do Chủ bút Nguyễn Xuân Hoàng viết — long trọng và bắt chước Tầu Cộng là chấp bút — sau khi giới thiệu Người Trăm Năm Cũ, có đoạn viết như sau về “tiểu thuyết lịch sử“:

Mặc dù ai cũng biết viết tiểu thuyết lịch sử không phải là viết lịch sử, người đọc khó tính luôn luôn soi mói vào những chi tiết (có thật không? có đúng không?) Các nhà văn hậu hiện đại không chia sẻ quan niệm này. Viết đòi hỏi trí tưởng tượng. Tiểu thuyết là những điều “bịa như thật” (ai đã nói thế?) Viết tiểu thuyết lịch sử yếu tố tưởng tượng càng phải mạnh hơn. Nhà văn Anh A.S. Byatt cho rằng trong khi đương đầu với các đề tài lịch sử, “nhà văn có toàn quyền sáng tạo ra quá khứ mộng tưởng theo như ý họ từ những chi tiết khác thường về tên họ, biến cố và nơi chốn. Nếu chúng ta không biết, chúng ta có quyền phát minh và mọi thứ đều được phép.”

Thử đọc lại Nguyễn Huệ qua Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Mộng Giác, Trần Vũ để khám phá ra cái khác biệt của lịch sử và tiểu thuyết lịch sử…

Xin được thưa với ông chủ bút đôi lời: Tại các ông nói tiểu thuyết của các ông là tiểu thuyết lịch sử nên độc giả chúng tôi mới théc méc khi thấy có những chuyện trong tiểu thuyết lịch sử của các ông không đúng với lịch sử. Nay được ông chỉ dậy chúng tôi mới biết các ông nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử có quyền săng phú lịch sử, các ông có quyền bịa ra lịch sử. Ông A.S. Byatt là ông Thánh Sống? Ông ấy thở ra cái gì là bàn dân thiên hạ phải cho là đúng? Xin thưa với ông là không cần phải đọc lại các ông Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Vũ như ông ra lệnh, chúng tôi cũng đã sáng mắt, sáng lòng biết rằng tiểu thuyết lịch sử của các ông khác với lịch sử.

Nhưng mà.. tội quá thì thôi. Nếu các ông viết tiểu tuyết lịch sử mà các ông săng phú lịch sử, sao các ông không để là tiểu thuyết — suông thôi — tại sao các ông lại bảo chúng tôi đó là tiểu thuyết lịch sử? Tại chúng tôi ngu nên chúng tôi mới đọc mấy ông, nếu chúng tôi khôn chúng tôi đã viết sách, in sách như mấy ông rồi. Ông chỉ bảo cho chúng tôi cám ơn, có điều ông nói với chúng tôi hơi nặng lời làm chúng tôi tủi thân thấy mồ đi.

Advertisements

3 Responses

  1. Tôi chỉ có một thiển ý là người viết cần tôn trọng các sự kiện có thật, dù là viết truyện liên quan đến lịch sử hay trong cuộc sống hiện tại đi nữa đi nữa. Có như thế tác phẩm của họ mới có giá trị trường cửu. Các đại danh tác của VN và toàn thế giới sở dĩ có giá trị để đời đều giữ phép viết như thế. Thử nghĩ , nếu “Les Misérables không dựa vào những sự thật về dân tình nước Pháp và cuộc Cách Mạng 14 Juillet 1789 thì chưa chắc thiên tiểu thuyết này đã được lưu truyền muôn thuở! Ngay cả bản phóng tác truyện này là “Ngọn cỏ gió đùa” của nhà văn Hồ Biểu Chánh cũng phải dựa vào cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi (vua tôi Minh Mạng gọi là “loạn giặc Khôi”) cùng những sự kiện lịch sử có thật ở thành Gia Định vào thơì điểm ấy, để tăng phần giá trị của cốt truyện. Rồi những “War and Peace” (của Léon Tolstoi), “Gone with the wind” (của Margaret Mitchell) vv… không ai dám viết ra ngoài nguyên tắc ấy. Tôi đọc những giòng chữ trích đoạn do ông Nguyễn Xuân Hoàng viết mà không khỏi cười thầm. Rõ là ông chả có đọc điếc gì mà khen loạn cào cào. Mai Thảo mà còn sống thì không để ông đăng bừa bãi như thế!

  2. Ngày xửa ngày xưa , không lâu lắm đâu, khoảng năm 1968, nhà xuất bản Lá Bối có in bản dịch Chiến Tranh và Hoà bình của Lê Ông Tôn Xì Toi, BN có đọc lời tựa cũa nhà văn Nguyễn Hiến Lê, người dịch tác phẩm nạy Lời tựa dài hơn trăm trang, trong đó ông viết lại những khổ công cũa văn hào đi sưu tầm tài liệu lịch sử và cũng như ông phải trở lại những chiến trường xưa mà Napoléon từng tham dự Cuốn sách này cũng là một loại tiểu thuyết lịch sử nhưng dựa vào sự thực lịch sử nên chắc là cuốn sách văn học cổ điển đầy giá tri…Còn bây giờ những “văn hào An Nam” cứ lấy lịch sử là “cái cớ” đễ “cương” lung tung và xọ chuyện này vào chuyện nọ Rồi “hậu hiện đại” mà “ní nuận nung lung”. Thôi cho BN can đi ông NXH. Đề nghị ông NXH đi tìm ông Phong Nhĩ đễ kiếm ông tây bà đầm khác mà trích dẫn cho hay hơn..

  3. Doan ket cua nha van Hoang Hai Thuy, lam nhac nho loi cua cu Phan Khoi ngay truoc, ” lam gi co tieu thuyet van hoc”? Van hoc la van hoc, tieu thuyet la tieu thuyet !!! 🙂

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: