• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Một ngày xuân Em trở lại vườn xưa

Eden
 
Hôm nay, Ngày 31 Tháng January Mỹ, là ngày Mồng Sáu Tết Ta.

Hôm Mồng Ba Tết là ngày Thứ Tư 28 January — tôi, — CTHà Đông — làm cuộc xuất hành đầu năm, đến Trung Tâm Eden chào quốc kỳ, rồi vào một nhà gửi tiền gửi 100 đô về Sài Gòn lì sì cho anh cháu nội của tôi.

Thường thì tiền gửi ở Virginia — hay ở bất cứ nơi nào trên Xứ Mỹ – gửi ban ngày thì đêm hôm đó, tức ban ngày hôm sau ở Sài Gòn, tiền gửi được đưa đến nhà người được gửi. Như trường hợp của tôi thì con tôi nhận được tiền mang đến lúc ban ngày, buổi tối nó gửi I-Meo cho tôi, sáng hôm sau mở Internet, tôi thấy thư con tôi gửi sang:

Cám ơn Bố. Con nhận được tiền Bố cho hôm nay.

Thường thì như thế. Nói rõ hơn: gửi tiền về Sài Gòn hôm nay, sáng mai tôi được điện thư của con tôi gửi từ Sài Gòn cho biết nó đã nhận được tiền. Nhưng năm nay, gửi tiên hôm Mồng Ba Tết, sáng Mồng Bốn Tết, mở Internet, tôi không thấy thư con tôi báo nhận được tiền như mọi lần trước, qua sáng Mồng Năm rồi sáng Mồng Sáu Tết vẫn không thấy gì cả. Tôi có thể I-Meo hay phôn về Sài Gòn cho con tôi — dzễ thôi — nhưng tôi không làm thế, để con tôi bất ngờ nhận được tiền lì sì Tết, nó sướng hơn.

XuanĐây là việc làm cái trò gọi là surprise mà ông cha tôi học được từ các quan Đại Pháp văn minh, truyền đến tôi là đời thứ hai. Tôi cũng có thể phôn hỏi nhà gửi tiền nhưng nhân có việc lại đến Trung Tâm Eden, tôi ghé vào hỏi cô chủ văn phòng gửi tiền, cô nói:

– Xin lỗi chú. Cháu quên không nói để chú biết trước là ngàyThứ Hai, Mồng Một February, là ngày Mồng 8 Tết, ở Sài Gòn người ta mới làm việc. Nên tiền chú gửi hôm rồi đến ngày Thứ Hai Mồng Một Ferbruary, người ta mới phát ở Sài Gòn.

Một bà khách gửi tiền nói:

– Ở quê nhà Mồng Bẩy Tết mới hạ cây nêu, hạ nêu rồi mới hết Tết.

Sì ra sế. Sì ra người Việt ở Mỹ Ba Ngày Tết Nguyên Đán vẫn đi cày, chẳng có nghỉ ngơi, ăn chơi Tết nhất gì cả, trong kh ở Sài Gòn người Sài Gòn ăn Tết lu bù kèn.

Lại nhớ đến thời vàng son ngày xưa người Việt ăn Tết, vui Tết, chơi Tết đến những ba tháng:

Tháng Giêng ăn Tết ở nhà,
Tháng Hai cờ bạc, Tháng Ba hội hè.

Người Việt ở Mỹ, Tết Nguyên Đán đến, nghỉ chơi ba tháng, có mà ăn đất.

*****

Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu?

Tôi mười tuổi năm 1943 Thế Kỷ 20, tôi không được dự một hội hè đình đám nào cả. Quê tôi ở Gia Lâm, bên bờ sông Đuống, từ làng tôi đến làng Phù Đổng, làng của Thánh Gióng, ở bên kia sông Đưống, đi bộ, đi đò qua sông, mất khoảng 2 giờ đồng hồ. Gần thôi.

Gia Lâm không có núi đồi, nhưng qua sông Đuống là Tiên Du — Vùng này cảnh đẹp đến nỗi các nàng Tiên trên Thượng giới phải rủ nhau xuống chơi, vì vậy có tên là Tiên Du. Từ Gia Lâm đi theo sông Đưống ra biển là phủ Thuận Thành, rồi đến huyện Lang Tài trong Thơ Hoàng Cầm.

4 năm đi kháng chiến, từ 1947 đến 1950, tôi đã sống ở trong làng Phù Đổng, trong làng Phù Chẩn. Làng Cháy là tên tục của làng Phù Chẩn, làng này cách làng Phù Đổng một cánh đồng. Tục truyền khi Thánh Gióng vươn vai thành đại lực sĩ, bận giáp sắt, cầm cây thương sắt, nhẩy lên ngựa sắt, thúc ngựa phóng đi đánh giặc Ân, ngựa sắt chồm lên, hí vang, miệng ngựa phun lửa làm cháy làng Phù Chẩn, từ đó làng Phù Chẩn có tên là làng Cháy.

Tôi đã đi qua Thuận Thành, đến huyện Lang Tài. Tôi chỉ được đến gần núi Thiên Thai mà không được lên núi, vì lúc tôi đến đấy quân Pháp đóng đồn trên núi.

Trai Cầu Vồng, Yên Thế
Gái Nội Duệ, Cầu Lim.

Trong 4 năm kháng chiến nhiều đêm tôi ngủ ở Yên Thế, Nội Duệ, nhưng tôi không có dịp được nghe một bài hát quan họ nào.

*****

23 Tháng Chạp là ngày Ông Táo về chầu trời, báo cáo với Ngọc Hoàng về những chuyện xẩy ra trong nhà ông Táo có phận sự canh giữ. Tôi không biết chuyện Táo Quân Hai Ông Một Bà có phải là chuyện Tầu mà ông cha tôi lấy làm chuyện của dân mình hay không? Hay đó là chuyện ông cha tôi sáng tác?

Tôi théc méc khi hai Táo Ông về chầu Trời, Táo Bà có đi theo hai ông chồng không? Tôi lại théc méc Táo Quân khác với Thổ Công hay Táo Quân cũng là Thổ Công? Đã có Thổ Công giữ đất, giữ nhà, còn cần có Ông Vua Bếp làm báo cáo làm chi nữa?

Đầu năm, mời quí vị đọc chuyện vui về Thổ Công.

Thổ Công phải đòn.

— Người viết Tản Đà.

Trong một xứ, một khoa thi có hai chuyện.

Một nhà có con gái đã hưá gả cho một người học trò nghèo và trong nhiều năm nuôi người học trò này ăn học. Nhưng thi khoa ấy, anh học trò hỏng thi, bị nhà cô gái chê không gả con.

Cùng khoa thi ấy, anh con nhà kia đi thi, đỗ, về nhà anh bỏ vợ.

Cuối năm, sổ gia thư đệ lên Thiên Tào. Ngọc Hoàng xem sổ, giận lắm, cho đòi hai Thổ Công hai nhà ấy lên hầu, Ngọc Hoàng phán:

– Ta cho các người xuống làm Thổ công nhà người ta, ngày giỗ, ngày Tết, Mồng Một, Ngày Rằm, khi dựng nhà, lúc bán lợn, hai ngươi đều được cơm no, rượu say. Chức vụ hai ngươi phải giữ cho nhà người ta ăn ở có đạo đức. Sao lại để xẩy ra chuyện chỉ vì thi cử trúng, trượt mà con nọ bỏ chồng, thằng kia rẫy vợ? Như vậy các ngươi ở trong nhà đó làm chi?

Ngọc Hòang truyền nọc cổ hai Thổ công, đánh mỗi ông 30 roi, cách chức, rồi lại truyền lệnh cho Nam Tào:

– Việc thi cử ở trần gian chỉ làm hại cho đạo đức, luân lý. Từ nay cấm thi.

Vậy là từ đó trần gian không còn nạn thi cử nữa.

Hai Thổ Công bị đòn, bị cách chức, bỏ đi biệt tích.

Hai Táo Quân ở nhà chờ mãi không thấy Thổ Công về, đi tìm nên biết chuyện. Hai Táo Quân bảo nhau;

– May cho chúng ta, lúi húi trong bếp, ăn xó mó niêu, quanh năm chẳng rượu thịt gì nhưng được cái không bị ăn đòn.

Hai Táo Quân cảm khái làm bài thơ:

Trần gian đổi vợ với thay chồng
Ba chục roi đòn đít Thổ Công.
Nhắn bảo trần gian cho chúng biết:
Thi chi cho bận đến phường ông.

— Tản Đà

Tản Đà Tiên sinh viết chuyện chửi đời qua việc Thi Cử cũng phải thôi, vì ông thi truợt nên ông có ác cảm với việc thi cử. Ông đi thi mà cả cái bằng Tú tài như ông Tú Xương ông cũng không có. Thi cử ngày xưa đỗ Tú tài coi như không đỗ đạt gì cả. Nếu ông Tản Đà đỗ Tú tài người đời đã gọi ông là ông Tú Tản Đà hay ông Tú Hiếu. Môt ông làm thơ rất hay mà đi thi không đỗ Tú tài là ông Nhà Thơ Nguyễn Du. Ông Phan Khôi có đi thi chữ Nho, có đỗ Tú tài, nhưng ít khi cái tên Tú Khôi của ông được dùng.

Cứ theo chuyện Tản Đà Tiên sinh kể thì mỗi nhà có hai Ông Táo,một Bà Táo, một Ông Thổ, Nam kỳ gọi là Ông Địa. Những năm 1940 tôi 10 tuổi, Ngày 23 Tết đến, tôi thấy nhiều nhà cúng bộ y phục để hai ông Táo lên chầu trời. Y phục Ông Táo làm bằng giấy xanh đỏ, gọi là hàng mã, gồm mũ cánh chuồn, áo bào, đôi hia, nhưng không thấy có quần. Y phục Táo Ông không có quần chắc y phục Táo Bà cũng không có quần. Vì vậy — tôi nghe nói — thời xưa ấy, những năm trước năm 1940 — có ông làm thơ trào phúng, tức Thơ Riễu:

Vợ chồng Ông Táo dạo chơi xuân
Đội mão, đi hia, chẳng mặc quần.
Ngọc Hoàng phán hỏi: Sao lại thế?
Thưa rằng hạ giới chúng duy tân.

Lại nghe nói bài thơ tả Ông Táo đội mão, đi hia, chẳng mặc quần là do các ông báo Ngày Nay, Phong Hoá làm ra.

Nhắc lại théc méc: Không biết chuyện vợ chồng Táo Quân Hai Ông Một Bà là chuyện riêng của dân tộc An Nam hay chuyện của Tầu? Những năm 1960 ở Sài Gòn tôi biết — chính tôi biết, tôi thấy, không phải tôi nghe ai nói — có hai ông, một bà sống chung một nhà. Bộ ba này hơn tôi khoảng 10 tuổi, dân Bắc kỳ di cư. Họ sống chung với nhau êm ru bà rù. Năm 1980 gặp một ông bạn của họ, tôi hỏi thăm về họ, ông bạn nói:

– Lúc đầu ba đưá chúng nó sống với nhau, bọn moa đều khó chịu, thằng nào cũng bảo không được. Nhưng chúng nó sống với nhau êm đẹp đến nỗi bọn moa phải phục, bọn moa phải chapeau.

“Phải chapeau” tức phải ngả nón, cúi đầu chào thán phục.

Virginia is for Lovers nghe nói có một bà có hai, ba ông chồng sống chung một nhà, ông chồng nào cũng ngoan — có ông nghe nói xưa là Tá, Tướng — các ông Táo đi cày về có check nộp cho bà vợ chung, không ông nào bày đặt ghen tuông, tranh dành chi cả. Tôi viết rõ: tôi nghe nói, không biết chuyện Vợ Chồng Ông Táo Hai Ông Một Bà Virginia có thật không? Hay là chuyện người ta đồn?

*****

Tôi thấy Xuân và Thời Gian đi qua mỗi khi tôi đọc bài Thơ này.

Mời quí vị cùng đọc Thơ, không biết Thơ có làm quí vị cảm thấy như tôi không?

Vuờn Xưa

— Thơ Tế Hanh

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc.
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Như sao hôm sao mai không cùng ở
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu
Như tháng mười hồng tháng năm nhãn
Em theo chim em đi về tháng tám
Anh theo chim cùng với tháng ba qua.
Một ngày xuân em trở lại nhà
Nghe mẹ nói anh có về anh hái ổi
Em nhìn lên vòm cây gió thổi
Lá như môi thầm thỉ gọi anh về.
Lần sau anh trở lại một ngày hè
Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
Anh nhìn giếng giếng sâu trong vắt
Nước như gương soi lẻ bóng hình anh.

Mản vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ờ hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Sao y bản chánh Thơ Tế Hanh.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: