• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Cô Gái Côn Đảo

Trích trong TÙ NGỤC XƯA NAY, đăng Tháng Giêng 2009 trên Tuần Báo Văn Nghệ Tiền Phong.

——————–

Tran Tan QuocNăm 1952 Nhật báo Tiếng Dội mở Cuộc Thi Truyện Ngắn Tiếng Dội. Cuộc thi kéo dài trọn năm 1952, mỗi ngày báo Tiếng Dội chọn đăng một truyện do dộc giả gửi đến dự thi. Hết năm mới trao Giải. Thể lệ Cuộc Thi Truyện được rao trên báo Tiếng Dội từ nửa năm 1951, tôi viết một truyện gửi đến dự thi.

Truyên của tôi tên là Người Con Gái Áo Xanh, được chọn đăng Số 1, bài mở đầu Cuộc Thi. Giữa năm 1952 tôi vào làm phóng viên Nhật Báo Ánh Sáng, tôi quên Cuộc Thi Truyện của báo Tiếng Dội. Hết năm 1952, nhà báo tuyên bố Giải Thưởng, tôi không biết. Người bạn tôi, anh có truyện dự thi, ghé toà soạn báo Ánh Sáng, bảo tôi:

– Báo Tiếng Dội loan báo kết quả Giải Thưởng Truyện Ngắn. Truyện của mày Giải Nhất. Biết chưa?

Truyện của tôi được Giải Nhất mà tôi không biết. Giải Nhất Truyện Ngắn Nhật Báo Tiếng Dội năm 1952 là 3.000 đồng. Giá Vàng năm đó khoảng 1.500 đồng một lạng. Truyện Người Con Gái Áo Xanh là Truyện Ngắn được trả tiền cao nhất trong đời viết Truyện của tôi. Những năm 1960 giá một truyện ngắn do Tuần Báo Phụ Nữ Ngày Mai trả — cao nhất thời đó — là 500 đồng. Rất tiếc tôi để mất truyện Người Con Gái Áo Xanh.

Tieng DoiSau ngày được Giải Thưởng tôi chỉ đến toà soạn Nhật Báo Tiếng Dội chừng hai, ba lần, tôi cũng chỉ gặp và nói chuyện với ông Trần Tấn Quốc vài lần. Tuyệt nhiên tôi không biết, tôi không một lần nghe nói đến chuyện trong thời thanh niên, ông Trần Tấn Quốc từng bị tù nhiều năm ở Nhà Tù Côn Đảo.

Năm 2008, sống ở Rừng Phong. Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, đọc tác phẩm “TRẦN TẤN QUỐC. Bốn mươi năm làm báo.” Ngưòi viết là Thiện Mộc Lan, tôi mới biết ông Nhà Báo Trần Tấn Quốc từng là Người Tù Côn Đảo.

Tôi trích vài đoạn trong Hồi ký “Cô Gái Côn Đảo” của Người Tù Côn Đảo Trần Tấn Quốc.

Giới thiệu Hồi Ký “Cô Gái Côn Đảo“. Trần Tấn Quốc. Trích:

Trong thiên phóng sự-hồi ký “Cô Gái Côn Đảo“, tác giả ghi ở trang đầu:

Thiên Tình sử kỳ thú trong Địa Ngục Trần Gian.”

Phóng sự về đời sống của Tù nhân ở Côn Đảo dưới chế độ Pháp thống trị.

Và tác giả Trần Tấn Quốc đề tặng:

Kính dâng Mẹ tôi, người đã cùng chia khổ với con suốt mấy năm trường.”

*****

Hồi ký “Cô Gái Côn Đảo” do Trần Tấn Quốc viết khoảng năm 1952, đã đăng trên báo Buổi Sáng do Tam Mộc và Trần Tấn Quốc chủ trương. Sau năm 1958, ông Trần Tấn Quốc giao sách cho Ký giả Nguyễn Ang Ca, Chủ Nhà Xuất Bản Dân Tộc, in thành sách. Khi xuất bản sách, Nguyễn Ang Ca, khi ấy là Chủ nhiệm Nhật Báo Tin Mới, đã loan báo nhiều lần sẽ đăng tải Hồi ký trên báo Tin Mới, nhưng vì nhiều nguyên nhân, Tin Mới đã không đăng tải được Hồi ký này.

*****

Cô Gái Côn Đảo. Trích:

Trong cái rủi có cái may. Tội danh của Trần Chí Thành — ( Trần Chí Thành, một tên khác của Trần Tấn Quốc ) — ghi là ” chánh trị phạm” nên trên lưng cái áo xanh của người tù có in 3 chữ thật to ” C.T.P.) (Chánh trị phạm). Thành là một tù nhân trẻ tuổi mới 17 xuân xanh khi đến Côn Đảo.

Tù chính trị ở Côn Đảo được chia ra nhiều nhóm và được đưa đi sống ở những Trại mà người tù quen gọi là “Sở”; như Sở Rẫy An Hải, Sở Rẫy Ông Hội, Sở Đá Trắng, Sở Muối..v..v..

Chí Thành kể:

– Tôi máy mắn dược đi “Sở” sau một thời gian ở ” Chỉ Tồn.” Sở mới của tôi là rẫy làng An Hải, nằm trên miền núi, cách châu thành Côn Nôn trên 2 cây số. Sở này gồm 80 chính trị phạm đặt dưới quyền chỉ huy của một thầy đội và hai chú “cặp rằn.” Hai người cặp-rằn (Cai: Caporal) này được chọn trong số tù nhân thường phạm kỳ cựu nhứt ở đây. Cả hai người cùng bị án tù chung thân khổ sai.

Cách làng An Hải chừng một cây số về hướng đông Nam có một Sở Rẫy khác gọi là Rẫy Ông Hội dùng để giam giữ tù thường phạm.

Tại Sở Rẫy An Hải, Chí Thành may mắm gặp được người bạn cũ tên là Nguyễn Văn Nguyễn, gốc gác ở Mỹ Tho, hơn Chí Thành 4 tuổi. Thành nhận Nguyễn là “đàn anh” và hai người sống chết bên nhau tại Côn Đảo từ năm 1932 đến năm 1934 Nguyễn mãn án.

Cùng với những người đồng cảnh ngộ, Chí Thành biết an phận với kiếp tội tù.

Sở An Hải là Sở Rẫy lớn nhứt nhì Côn Đảo, trông đủ thứ rau như cải bắp, xà-lách, hoa-rô, củ cải trắng, bét-tơ-rao, đậu trắng, đậu đũa, mướp, rau dền, mồng tơi, hành củ ..v..v.. Công việc nặng là gánh nước tưới rau. Việc nhẹ là gánh phân bón, việc làm này dành cho những người tù già yếu.

Người tù Nguyễn Văn Nguyễn được Xếp Sở vị nể, cho làm thư ký, Chí Thành cũng như những anh em tù khác, mỗi người được giao cho một khu rẫy, lo tưới nước, làm cỏ, bắt sâu.

Rẫy gồm 45 liếp cải bắp, mỗi liếp bề ngang một thước Tây, bề dài chừng 10 thước. Mỗi liếp trồng hai hàng cải bắp, mỗi hàng 10 cây, phải vun quén từ khi cải con xuống liếp cho đến khi có bắp ăn được. Trong hơn nửa tháng đầu, lúc cải còn nhỏ, việc tưới nước cực khổ vô cùng. Mỗi liếp cải phải tưới hai đôi nước, tức 4 thùng thiếc (thứ thùng Dầu Lửa hiệu Con Sò,) tưới chậm và tưới bằng “vòi xoè “. Sáng tưới 90 đôi nước, chiều 90 đôi, ngoài ra còn phải bắt sâu, nhổ cỏ cho sạch liếp. Chủ trương của Xếp là Sở phải sản xuất thật nhiều rau và phải sạch. Đến khi cải “ốp bắp” thì việc tưới nước được giảm phân nửa, mỗi ngày sáng 45 đôi, chiều 45 đôi.

“.. ..Từ ngày ra Côn Nôn đến hôm nay, đã hơn một năm, lần đầu tiên tôi mới thấy vẻ đẹp thiên nhiên của hải đảo vào một đêm rằm trăng sáng đầy trời; thường ngày cảnh đẹp của hải đảo bị chìm mất trong cảnh tù tội đọa đày.

“Bốn bề biển xanh, sóng vỗ từng hồi, mây trôi, núi chập chùng với bãi cát trắng bao quanh. Nếu không phải là địa ngục trần gian thì hải đảo này là một thắng cảnh hùng vĩ của nước non nhà. Bỗng nhiên tôi ước mong một phép mầu nhiệm nào biến tôi thành môt du khách đến thăm đảo thì sướng biết bao nhiêu.

(.. ..) Đêm nay trăng khuyết nửa vành, lơ lửng trên nền trời xanh thẳm, lốm đốm những vì sao.

“Mõ canh trong Sở vang lên những tiếng khô khan, cộc lốc. Vài cảm nghĩ thần tiên vừa thoáng qua với kẻ thư sinh vụt biến mất theo ảo ảnh.

“Ở đây là địa ngục trần gian. Ở đây chỉ có hai hạng người: “xi-vinh” và tù nhơn, phân cách bởi một bức tường vô hình xây dựng bằng luật pháp, danh dự và bằng thể diện con người.”

Gánh Cải Lương An Hải.

Một đoạn trong Hồi Ký “Cô Gái Côn Đảo.”

Ở Sở Rẫy Ông Hội, anh em tù thường phạm lập một gánh hát bội, mỗi tuần diễn 2 buổi, tối thứ bẩy và trưa chủ nhật.

Gánh hát bội có đủ phông cảnh, y phục với giáp, hia, mão, ở đây lại có cả một rạp hát có thể chưá được 200 người. Mỗi tối thứ bẩy, trưa chuá nhật, thầy chú, thím cô ở Châu Thành muốn giải muộn, thường chịu khó lội bộ vào Ông Hội xem tuồng.

Tù các Sở ở gần như An Hải, Đá Trắng được phép đến xem hát khỏi phải trả tiền.

Trong số khán giả ngoài đời có những cô gái trẻ đẹp, hầu hết là con cháu của thầy chú mà tù nhơn đều suy tôn là những nàng Tiên của hải đảo. Không cần phải có nhan sắc khuynh thành, một cô gái bình thường ở đây cũng được tù nhơn xem như “Nữ chuá.”

Có sự tâng bốc quá đáng ấy là bởi vì ở đảo chỉ có toàn đàn ông với đàn ông.

Trong nhiều buổi hát, tôi trông thấy nhiều “Nàng Tiên” ấy lau nước mắt khi xem một màn tình ái gay cấn não nùng, một tình trạng thương tâm, đứt ruột diễn ra trên sân khấu, dù các diễn viên đều là nghệ sĩ bất đắc dĩ.

Thấy anh em bên Sở Ông Hội biết tổ chức cuộc giải trí thanh nhã, môt hôm, anh Nguyễn Văn Nguyễn, người được coi là chính trị phạm trí thức số một của anh em tu chúng tôiø, mở cuộc họp anh em, anh đề nghị mở ban hát cải lương.

Thật là cả một việc khó làm nhưng chúng tôi được ông Chánh Đảo cho phép thành lập, được Xếp Sở và thầy chú giúp đỡ nên chẳng bao lâu, ban hát thành hình.

Gánh hát không tên, không bảng hiệu, được gọi là “Gánh Cải Lương An Hải.”

Hơn hẳn gánh hát bội Ông Hội, ban cải lương An Hải được hoan nghinh nhiêt liệt ngay trong đêm diễn khai trương. Nguyên nhân thành công là vì đa số người diễn là người có học, có thời gian tập luyện từ điệu bộ đến lời ca, diễn tuồng xã hội cốt truyện gay cấn, phông cảnh phong phú do những tay thợ vẽ nhà nghề thực hiện, lại có một dàn đờn gồm nhiều nhạc sĩ lão luyện. Cũng phải nói cho đúng là ban hát thành công vì tứ trước đến nay, Côn Đảo chỉ có hát bội, hát chập, hát bài chòi hay đờn ca tài tử, chưa bao giờ có ban cải lương hát trọn một vở tuồn như một gánh hát nhà nghề..

Như đã nói, gán hát, ngoài việc được Chúa Đảo cho thành lập, còn phải có sự ửng hộ triệt để của những ông Xếp Sở, như lựa những việc làm nhẹ cho “đào kép” làm, cho “đào kép” nghỉ vài buổi làm để tập tuồng, đặc biệt cho “đào, kép” được để tóc dài, không còn bị cạo trọc, mượn dùm y phục, nữ trang, son phấn. Có tuồng nhiều đào cần đến 6 cái áo dài mầu, 6 đôi bông đầm.

Về tuồng tích, chúng tôi chọn mấy vở tuồng đã in thành sách, và một vài vở do chính anh Nguyễn soạn. Chuyện khó khăn nhất là “đào”. Tất nhiên “đào” là do tù nam giả gái nhưng muốn giả gái anh tù phải có nước da trắng, dáng người thon thả, vẻ mặt dễ thương, giọng ca trong như giọng phụ nữ. Có anh tù đóng vài Nữ phải chịu đau xỏ lỗ tai để đeo bông tai.

Vì ban hát mới thành lập nên trong Sở không có một rạp hát như bên Sở Ông Hội. Muốn hát, chúng tôi phải qua làng An Hải, mượn rạp để hát. Từ khi Sở chúng tôi lập gánh hát cải lương thì gánh hát bội của Sở Ông Hội chìm lần trong bóng tối dù chúng tôi không muốn tranh đất. Khán giả “ngoài đời” ở Châu Thành, và anh em tù, đều đến An Hải để coi tuồng cải lương mỗi khi có buổi diễn.

Có rất đông các cô ăn bận đẹp, trang diểm phấn son, lội bộ 3 cây số vào xem tuồng với vẻ thích thú. Đã bảo họ là những Nàng Tiên Hải Đảo. Nhờ có các nàng, chúng tôi diễn tuồng thât hứng khởi.

*****

Lật bật đến Tết Nguyên Đán năm Nhâm Thân — 1932.

Ngày Tết ở Côn Đảo — tất nhiên — không phải là Ngày Vui Xuân, cũng không phải là ngày Gia đình đoàn tụ.

Với tù nhân, Ngày Tết ghi dấu một năm lưư đày đã qua, là ngày người tù mừng thầm thấy kỳ hạn tù đày của mình ngắn hơn.

Năm ấy — 1932 — nhân Tết đến, chúng tôi xin phép được dọn gánh hát ra ở liền ba ngày, ba đêm ở quận Châu Thành, để diễn tuồng. Lời xin được chấp thuân.

Gánh hát chúng tôi lập tức bắt tay vào việc chuẩn bị trình diễn. Việc khó làm và nặng nhất là việc dựng ngay một rạp hát có thể được tạm coi là rạp hát. Rạp được dựng trên khoảng đất trống giữa hai tiệm buôn người Việt và hai tiệm buôn người Tầu, gần Nhà Đèn của Đảo.

Khán giả nôn nao chờ đợi

Cho đến năm 1932 dường như đây là những đêm diễn Tuồng Ngày Tết thứ nhất được thực hiện ở hải đảo tù đày này. Các Tiên Nữ và nhiều thầy chú vui vẻ cho mượn y phục để tù mần tuồng.

Nhờ gánh hát mà bọn tù chúng tôi được gần các Nàng Tiên, được nói chuyện với các nàng, nhiều đào kép được các nàng chú ý, hỏi tên, lý lịch. Thật là không dám mơ mòng tình ý gì với các nàng, bọn tù chúng tôi thấy ấm lòng, vui vì có người phụ nữ để ý đến mình.

Gánh hát có anh Nguyễn là người “mưu lược”. Chúng tôi tôn anh là “Mưu sĩ.” Nhân dịp gánh hát được ra biểu diễn ba buổi ở Châu Thành, anh Nguyễn muốn ban hát chúng tôi “trổ tài” cho các Xếp Tây, và thầy chú phải nể trọng, anh nói với cúng tôi:

– Tối Mồng Một chúng ta diễn tuồng vui. Đêm Mồng Hai chúng ra diễn vở Tứ Đổ Tường, đêm Mồng Ba lại diễn tuồng vui. Hai đêm mình diễn tuồng gì cũng được, nhưng đêm Mồng Hai mình phải diễn cho thật hay vở Tứ Đổ Tường.

Anh em đã biết vở Tứ Đổ Tường có màn Toà xử án. Trong vở các diễn viên màn này, Quan Toà, Biện lý, Trạng sư, người bị xử đều nói tiếng Việt. Nay tôi đề nghị chúng ta sửa lại: tất cả những người diễn màn này sẽ nói tiếng Pháp.

Anh nói nhỏ với bọn diễn viên chúng tôi:

– Anh em thấy đấy. Thầy chú ở đây đều ít học, có cha viết không nổi bản “ráp-bo” tù trốn ngục. Vậy mà họ luôn miệng chửi chúng ta là bọn “dốt như bò, bư như lợn.” Nhân dịp này tôi muốn anh em chúng ta cho bọn thầy chú biết chúng ta có học cao hơn họ, họ làm tay sai cho Tây, nay ta nói tiếng Tây cho Tây nghe, và cho họ nể chúng ta luôn.

Muốn vậy, anh em diễn màn Toà xử án phải nói được tiếng Tây cho thật trúng, nói phải có giọng Tây.

Nguyễn kết luận:

– Nếu anh em đồng ý, tôi nhờ anh Kính cùng với tôi viết những lời đối thoại bằng tiếng Tây, anh em cố học thuộc, ráo riết tập nói cho quen miệng để diễn.

Chúng tôi tán thành ý kiến của anh. Nguyễn và Kính lập tức viết lời đối thoại bằng tiếng Pháp. Học lực của Nguyễn thấp hơn Kính nhưng Nguyễn hoạt bát hơn, nhiều sáng kiến hơn. Anh Kính có bằng Cử nhân Luật, Cử nhân Văn, nhưng anh ít nói, là người Xứ Nghệ giọng anh rất nặng, Văn Pháp anh viết thì khỏi chê. Chỉ trong một buổi chiều và một đêm hai anh viết xong bản đối thoại cho các diễn viên màn Toà Xử trong Vở Tứ Đổ Tường.

Tất nhiên những bài ca trong tuồng phải lược bỏ, vì không thể viết lời ca tuồng cải lường bằng tiếng Pháp.

Với tư cách đạo diễn, anh Nguyễn phân vai: anh Kính thủ vai Biện lý, anh Nguyễn vai Trạng sư, anh Tôn vai Lục sự, anhTiết vai Thông ngôn, anh Phẩm vai can phạm, và tôi (Chí Thành) vai Chánh Án.

Chiều Ba Mươi Tết toàn gánh hát đã có mặt ở rạp ChâuThành. Chúng tôi hoàn tất mọi việc chuẩn bị để đến Ngày Mồng Một Tết chúng tôi được nhàn nhã đón Xuân, không phải làm gì, theo đúng tục lệ Ba Ngày Tết.

Đêm Mồng Một, chúng tôi diễn vở “Tội của ai”, tức vở “Tội chị, tình em” của Soạn giả kiêm kịch sĩ danh tiếng Nguyễn Thành Châu — Năm Châu — Tuy rạp hát lộ thiên, không có mái nhưng hậu trường vẫn được che kín, chỗ ngồi của quan khách vẫn có mái che.

Vợ chồng Ông Chánh, vợ chồng ông Kho Bạc là người Pháp, môt số sĩ quan, hạ sĩ quan Pháp, nhiều người lính là dân Aán, dân Phi, thầy chú người Việt và vợ con, được ngồi trong những hàng ghế, các bạn tù đứng vây chúng quanh.

Đêm khai mạc tuồng diễn thật xuất sắc. Không bán vé nhưng có tiền quan khách tặng, được 400 đồng, trong số này vợ chồng Ông Chánh tặng 50 đồng. Chúng tôi vui nhất là được khán giả khen ngơi nhiệt liệt.

Đêm Mồng Hai Tết, cúng tôi diễn vở Tứ Đổ Tường.

Tuồng Tứ Đổ Tường của Soạn giả Đặng Công Danh, từng diễn nhiều đêm trên sân khấu rạp Phước Cương những năm 1924-1925. Tuồng diễn đến màn Toà xử án, tấm màn được kéo lên, cảnh Toà Án hiện ra. Khi quan Toà, Biện lý uy nghi trong hững bộ áo đen bước ra sân khấu, những tràng pháo tay vang lên. Khán giả xì sào không biết chúng tôi làm sao có những bộ áo đen quan Toà, họ không biết trong số Lính Pháo Thủ Pháp đóng ở đảo có một ban Kịch Bỏ Túi, anh Nguyễn mượn những bộ y phục thẩm phán này của họ.

Màn Toà xử bắt đầu.

Thầy chú im phăng phắc rỏng tai nge tù diễn kịch nói bằng tiếng Pháp. Như Tây, không khác gì các quan Tây. Đến khi Trạng sư Nguyễn đứng lên trổ tài hùng biện, dùng luật bênh vực cho cậu Dương Ái Sắc vì tình mà mang tội trộm, thì đám “săng-đá” — Lính Tây — vẫn đứng ngoài xem tuồng mà không biết tuồng tích, diễn viên nói gì, nay nghe tiếng Tây rổn rảng, họ kéo vào gần để xem và nghe, nhiều anh leo luôn lên sấn khấu đứng ngay cạnh Trạng sư Nguyễn, cứ như là nhân vật trong tuồng.

Riêng ông Xếp Sở chúng tôi thì mới đầu sợ xanh mặt, vì ông không biết bọn tù nói những lời gì trên sân khấu. Khi ông thấy ông bà Chánh, ông bà Xếp Kho Bạc gật đầu, vỗ tay khan ngợi, ông mới hết sợ, và sau đó ông “cưng” bọn đào kép chúng tôi hơn trước vì chúng tôi làm ông rạng mặt với Ông Chánh Đảo.

Một sáng chúa nhựt, mặt trời đã lên cao nhưng vì nước giếng cạn nên tôi mới gánh nước tưới được hai liếp rau cải, bỗng từ ngoài lộ đá có hai thiếu nữ đi vào sở. Khách “si-vin”, toàn là vợ con các viên chức, vô sở rẫy của tù không phải là chuyện lạ, thường họ vô mua rau trái, gà vịt tù nuôi.

Cố ý làm ra bộ không để ý gì đến hai cô, tôi tiếp tục gánh nước tưới rau, tôi mong giếng có đủ nước để tôi có thể tưới hết mấy liếp rau phần tôi phải tưới truớc 11 giờ trưa, vì khi nắng nóng giữa trưa mà tưới nước cho rau, rau sẽ chết héo. Tưới như vậy không khác tưới cây bằng nước nóng.

Thấy tôi tưới nước đi gần đến, thiếu nữ nhỏ tuổi, chắc sợ nước văng vào người, lùi ra xa. Cô lớn hơn vẫn đứng chỗ đó. Khi tới trước mặt cô, tôi dừng lại, ngước mặt nhìn cô, định xin cô đứng tránh ra thì tôi thấy ..miệng cười của cô.

Nàng là người lên tiếng trước nhất. Nàng nói với tôi bằng giọng tự tin:

– Tôi biết chú can tội gì mà bị đày ra đây.

Tiếng “chú” không làm cho tôi ngạc nhiên, nàng gọi tôi bằng “chú” dù tôi bằng tuổi với nàng.

Các bà, các cô vợ con viên chức Việt làm việc ở đảo dùng tiếng “chú” để gọi người, tù, người tù già cũng như người tù trẻ.

Tôi cũng không lấy gì làm lạ khi nghe nàng nói nàng biết tội của tôi.

Ở đảo số tù chính trị ngang với số tù hình sự. Chắc nàng đã thấy tôi đóng tuồng trong ban cải lương của tù chính trị nên nang biết tôi là tù chính trị không có chi khó.

Phút đầu gặp nhau, lần đầu nghe tiếng nàng nói, tôi cứ đứng ngây ra, tôi không biết phải nói gì với nàng, cả nụ cười đáp lại miệng cười của nàng tôi cũng không có, nàng lại nói:

– Tôi vào Sở mua gà, thấy chú nên tôi ghé lại nói chuyện với chú. Chú hát cải lương hay quá. Ở trong đất chú có đi hát hôn?

Tôi trả lời:

– Thưa cô, ở ngoài này buồn quá, anh em chúng tôi bày trò hát tuống cho đỡ buồn, hát xướng không phải là nghề của chúng tôi.

Nàng lại nói:

– Tôi cũng buồn quá đi. Chúa nhựt tôi hay vô các sở rẫy. Chuá nhựt tuần sau tôi sẽ xin phép ba má tôi vào đây nữa.

Nàng từ giã tôi bằng câu nói ấy — câu nói như một lời hẹn hò kín đáo: “Chuá nhật sau lại vô..!”

Không biết nàng vô tình hay cố ý, cũng chưa biết chuá nhựt sau nàng có vô đây cho tôi được gặp lại nàng hay không, việc gặp nàng ở hải đảo tù đày làm cho tôi ngây ngất.

Tôi chưa từng yêu ai. Từ ngày ra hải đảo ngục tù này, tôi không bao giờ mơ tưởng tôi lại có thể gặp được người con gái như nàng.

Nàng tên là Xuân Hoa, cô con gái duy nhứt của ông bà Quản Thiện, ông này làm giám thị đề lao đến chức Quản — Adjudant, hạ sĩ quan cao cấp — ông thuộc loại viên chức đắc lực cuả Nhà Nước Bảo Hộ.

Trước khi được gặp Xuân Hoa, được nàng nói chuyện, tôi có nghe anh em chính trị phạm bàn tán về nàng. Tất cả đều cảm phục Xuân Hoa, vì trước đó như một cái lệ, không một phụ nữ vợ con viên chức nào ờ Côn Đảo nói chuyện thẳng với tù. Những gì cần nói với tù, các bà, các cô đều nói qua các ông chồng, ông bố. Mà thực ra các bà, các cô chẳng có chuyện gì để nói với tù.

Xuân Hoa là người phụ nữ đầu tiên hỏi chuyện người tù.

Chúa nhựt tới, tôi hồi hộp chờ Xuân Hoa vô. Nàng vô thật. Nàng gặp tôi có chuyện: nàng hỏi tôi có thuộc bài ca vọng cổ “Con nhạn kêu sương nơi biển Bắc”, tôi thuợc thì chép cho nàng.

Có duyên làm sao tôi thuộc bài ca này.

Bài ca vọng cổ “Con nhạn kêu sương..” cuả Soạn giả Huỳnh Thủ Trung, tức Tư Chơi, bài vọng cổ nhịp hai, sáu câu đầu:

Nhạn đành kêu sương nơi biển Bắc
Én cam khóc hận dưới trời Nam.
Thảm thương thay Ngưu-Chức chia lòng
Kẻ ăn thảm, người nuốt nồng
Kẻ chân mây ruột tím, gan bầm
Người góc biển tâm xào, phế cang.

Tôi nói với Xuân Hoa:

– Tôi chép bài ca cho cô không khó nhưng làm cách nào tôi đưa bài ca cho cô?

Nàng hiểu tôi muốn nói gì.

Kỷ luật nhà tù cấm ngặt tù nhân giao du với người ngoài, tức người không phải là tù, việc tù viết thư nhờ người ngoài gửi lại càng cấm ngặt. Làm việc đó người tù sẽ bị trừng phạt nặng, người không tù chỉ bị cảnh cáo.

Xuân Hoa nói ngay:

– Tôi biết cái khó của chú. Tôi có mang giấy, viết đây. Ngày mai tôi vô lấy.

Tôi nhắc để nàng nhớ:

– Ngày mai thứ hai.

Nàng nói:

– Tôi biết. Ngày mi tôi có việc vô gặp bác Xếp Sở, nên sáng mai tôi có thể gặp chú.

Tôi thấy nàng đã sắp đặt cho việc nàng gặp lại tôi. Cả ngày hôm ấy tôi bồi hồi. Việc chép một bài ca vọng cổ cho một cô gái chẳng có gì là khó khi người ta ở ngoài đời nhưng đó là việc làm nguy hiểm cho người tù đầu trọc, áo xanh. Tôi biết nếu việc tôi đưa tờ giấy viêt chữ cho Xuân Hoa bị phát giác, Xuân Hoa không thể bảo vệ được tôi, tôi chỉ bị phạt nhẹ hơn khi người ta thấy tờ giấy tôi trao chép bài ca vọng cổ. Thâý tôi có vẻ sợ, Xuân Hoa nói:

– Nếu chú không muốn thì thôi.

Tôi vội nói tôi rất muốn chép bài ca cho nàng, chỉ cần việc làm của tôi không bị thầy chú bắt được. Nàng nói nếu có chuyện xảy ra nàng sẽ nhận nàng yêu cầu tôi chép cho nàng bài ca.

*****

Gánh hát cải lương của chúng tôi lại tổ chức đêm hát ở An Hải. Hôm ấy anh Nguyễn đi muợn đồ để diễn tuồng, anh có ghé nhà ông Quản Thiện hỏi muợn đồà:

– Tôi nghe tin ông Quản sắp đổi về làm việc ở Sài Gòn — Anh nói với tôi — Cô Xuân Hoa nói với tôi tối mai cổ không vô xem hát được. Cô nói vậy cốt để tôi nói lại cho anh hay để anh khỏi chờ cô.

Tuy tôi không khoe, không kể, xong Nguyễn biết Xuân Hoa yêu thương tôi,

Tôi hỏi anh:

– Sao không vô coi được?

– Cô nói ông Quản biểu cô ở nhà soạn sưả để dọn về đất liền, về Sài Gòn tha hồ đi coi tuồng cải lương. Cô lại nói ngày mai cô vô Cống Dưà có việc, cô muốn vô đây nhưng không vô được.

Tôi bồi hồi: tôi sắp mất Xuân Hoa, viên ngọc quí của tôi, tôi lại biết như vậy là nàng nhờ Nguyễn nói cho tôi biết nàng có để cho tôi la thư ở Cống Dưà, nơi chúng tôi qui định sẽ để thư cho nhau mà không cần phải gặp nhau.

Đây là thư nàng gửi cho tôi:

“Anh

Cuộc sắp xếp của em không thành. Tối nay em không đến coi hát được. Em buồn quá, nhưng em đã nghĩ ra cách khác để chúng ta gắp nhau trước khi em phải xa anh. Chuá nhựt, Ba em làm việc từ 1 giờtrưa đến 6 giờ tối. Đúng 2 giờ trưa anh đến Suối Đá Mòn, em đón anh ở đó.

Em của anh.”

Tôi không có lý do gì để không đến gặp nàng, dù rằng việc chúng tôi gặp nhau ở nơi vắng xa ấy là quá táo bạo.

.. .. ..

Suối Đá Mòn nằm trên dẫy núi tên là Núi Chuá của đảo. Dòng suối nước xanh trong chẩy mãi từ vạn kỷ làm mòn những phiến đá khổng lồ.

Tôi từng có nhiều lần đến Suối Đá Mòn nhưng chưa lần nào tôi thấy cảnh đẹp của thiên nhiên ở đây cho đến hôm nay, tôi tới đây chờ nàng.

Xuân Hoa đến, nàng bận áo trắng, quần hàng đen, trên đầu choàng cái khăn lông trắng. Khăn này dùng để che nắng thay cho nón. Giữa trưa nắng gắt, nàng lại đi nhanh nên vừa mệt vừa xức động, đến trước mặt tôi nàng như muốn té. Tôi vội đưa tay cho nàng nắm và đỡ nàng ngồi xuống phiến đá tôi đã lau sạch làm chỗ nàng ngồi.

Hai bàn tay chúng tôi nắm nhau lần đầu làm hai chúng tôi cùng như bị điện giựt.

Một lúc sau nàng mới nói:

– Phải xa anh em buồn lắm.

Tôi nghẹn ngào:

– Ngày nào?

Nàng trả lời:

– Trong tuần tới thôi. Hôm nay là lần cuối em được gặp anh.

Tôi nâng niu bàn tay nàng:

– Anh cám ơn em.

Về Tình Yêu của chúng tôi, tôi chỉ có thể nói với nàng có thế.

Tôi gượng nói sang chuyên khác:

– Còn ba năm nữa anh mới hết án. Không biết ba năm nữa khi về Sài Gòn, anh có còn được gặp em hay không!

Không hẹn thề, nàng chỉ nói:

– Hy vọng anh ơi. Đừng bao giờ anh quên hy vọng. Về đất liền, em sẽ đến thăm mẹ anh, em sẽ kể bà nghe về cuộc sống của anh ở ngoài này, cho bà yên tâm.

Một lần nữa tôi lại nói:

– Cám ơn em.

Tôi nhìn quanh:

– Người đi ngang qua đây có thể thấy chúng ta.

– Chúng mình vô sâu trong kia, đến chỗ nào không ai thấy.

Câu nói củc nàng làm tôi bàng hoàng, ngây ngô tôi hỏi nàng:

– Em muốn chúng ta vô đâu?

– Em theo anh đến chỗ nào anh đưa em tới.

Tôi hiểu nàng muốn nói gì, muốn tôi làm gì nàng, nhưng tôi không thể làm việc ấy, tôi chỉ có thể đưa bàn tay nàng lên môi hôn hít mùi da thịt trinh nữ cuả nàng, và nói:

– Anh yêu em. Anh cám ơn em.

.. .. ..

Sáu tháng sau tôi được tin Xuân Hoa lấy chồng. Nàng không thể viết thư cho tôi, một tù nhân chính trị, tôi không được nhận thư nàng, nàng viết thư cho một cô bạn của nàng ở đảo. Chẳng ai để ý đến chuyện Xuân Hoa lấy chồng, ngoài tôi ra.

Ngưng trích Cô Gái Côn Đảo.

Advertisements

2 Responses

  1. Cảm tác

    Nồng nàn khoảnh khắc bên nhau
    Ngỡ là giấc mộng từ đâu gọi về
    Đôi ta chưa có hẹn thề
    Tưởng như vào cuộc đam mê buổi đầu

    Dặn lòng gìn giữ cho nhau
    Nào đâu muốn nỗi muộn sầu trao em
    Ôm tay ngân tiếng êm đềm
    Cõi lòng cũng thỏa muộn phiền khi xa

    Thời gian ngắn ngủi nhẹ qua
    Tình em: mây trắng, nhạt nhòa trôi đi
    Chung nhau chỉ một bầu trời
    Từ ngày tạm biệt, một đời xa xôi

    Ước nguyền chưa kịp lên môi
    Nhói đau cũng sẽ cùng tôi với nàng!
    Hôm em cất bước sang ngang
    Lặng thầm tôi chỉ lặng thầm trong đêm…

  2. toi la con cua ong tran tan quoc

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: