• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Thuyền Trưởng Hai Tàu (2009)

Dao Duy AnhĐêm ở Rừng Phong, phòng ấm, đèn vàng, an ninh 500/100, khi nằm đọc hai tác phẩm của ông Lê Quý Đôn: Kiến Văn Tiểu Lục, Vân Đài Loại Ngữ, tôi thấy sách và tác giả hay quá là hay. Tôi đi một đường cảm khái khi thấy trong sách Kiến Văn Tiểu LụcVân Đài Loại Ngữ, tác giả Lê Quý Đôn không viết gì nhiều, ông làm công việc ghi chép những chuyện hay ông đọc được trong các sách của tiền nhân, ông làm thành sách, cho đồng bào của ông, cho người đến cõi đời này sau ông.

Trong một đêm đọc sách của Lê Quý Đôn, tôi có ý muốn bắt chước ông, tôi sẽ ghi lại những chuyện tích tôi cho là hay tôi đọc được trong các sách, tôi đăng bài lên báo, lên Web, Net cho đồng bào tôi đọc. Kiến Văn: Chuyện Thấy, Chuyện Nghe, Tiểu Lục: Ghi vắn. Toàn chuyện đọc được trong các sách, cũng làm theo Học giả Lê Quý Đôn, tôi ghi chuyện, phụ đề ít lời giới thiệu và bàn loạn. Như hôm nay tôi ghi lại chuyện Thuyền Trưởng Hai Tầu Nguyễn Thượng Hiền.

Chuyện trích trong Nhớ Nghĩ Chiều Hôm, Hồi Ký của Đào Duy Anh, tác phẩm xuất bản năm 2002. Nhớ Nghĩ Chiều Hôm có một phần là Hồi Ký của bà Đào Duy Anh, trong có chương bà viết về Danh sĩ Nguyễn Thượng Hiền.

Mời quí vị đọc bài viết của bà Trần Thị Như Mân, bà vợ của ông Đào Duy Anh. Trích trong:

ĐÀO DUY ANH. Nhớ nghĩ chiều hôm. Hồi ký. Xuất bản năm 2002.

Người viết Trần thị Như Mân.

Tôi là con thứ tư trong gia đình bốn chị em, và cũng là con gái út. Mẹ tôi chỉ sinh toàn con gái, nên phải lấy thiếp cho cha tôi. Người thiếp này lại là con gái ông cậu ruột tôi, chị sinh được hai con trai là Trần Tiễn Hy và Trần Tiễn Dương.

Nguyen Thuong HienKhi tôi ra đời thì chị cả tôi đã đi lấy chồng. Chị xuất giá từ năm 15 tuổi. Nghe nói hồi đó vua Thành Thái bắn tin muốn hỏi chị tôi, tên là Như Uyển, cho ông Hoàng Mười, em vua. Nhưng cha tôi sợ các ông hoàng hay chơi bời sẽ làm khổ con mình, vội cho người nhắn tin gả cho ông Ưng Trình. Chị tôi lấy chồng, sinh ra hai con là Bửu Cân và Bửu Dưỡng, nhưng vì bất hoà với chồng nên lại bỏ về ở với cha mẹ đẻ. Vì rưá, mấy chị em chúng tôi lại vẫn sống quây quần bên nhau, cùng đi theo cha tôi đến sống ở những nơi cha tôi được bổ dụng.

Tôi không nhớ được nhiều về cha tôi, chỉ biết người rất thương chúng tôi. Ban ngày công việc bận rộn, nhưng tối đến người thường dành thì giờ đọc truyện Liêu Trai hay kể chuyện cho mấy chị em chúng tôi. Khi ông nội tôi bị sát hại thì cha tôi còn đi học. Cha tôi là con trai thứ ba của cụ Văn, hai ông bác tôi, ông cả mất sớm, ông thứ hai làm ruộng. Trước đó, ông tôi đã đi hỏi con gái cụ Tôn Thất Phan cho cha tôi. Cụ Phan đậu cử nhân, làm quan tại triều, đã từng được cử theo các phái bộ của triều đình đi các nước Châu Âu. Thấy gia đình tôi thất thế, có người đã xui cụ Phan hãy từ hôn, nhưng cụ không nghe.

Ông ngoại tôi có ba cậu đều đậu đạt khá. Cậu đầu là Tôn Thất Mỹ đậu cử nhân, cậu thứ hai Tôn Thất Linh đậu tiến sĩ, cậu sau là Tôn Thất Trạm đậu cử nhân. Làm rể cụ Văn rồi, cha tôi vẫn chỉ là chân nho sinh, chưa có đỗ đạt chi cả. Mỗi lần cha tôi phải sang nhà ông nhạc vì việc gì đó, đến bữa cơm, cậu Cử Mỹ không muốn ngồi ăn chung mâm với anh nho sinh tầm thường, bà ngoại tôi phải dọn riêng một mâm cho cha tôi ngồi ăn một mình, ba ông cậu tôi có bằng cấp thì ngồi ăn với nhau. Có lẽ vì rứa mà cha tôi càng thêm cố gắng học hành. Đến khi cha tôi thi Hương đậu thủ khoa, ông mới được các ông cậu tôi cho ngồi ăn cùng mâm.

Mẹ tôi có người em cùng cha, khác mẹ là Tôn Nữ Thị Dậu. Dì Dậu đẹp người, học giỏi, biết đủ cầm kỳ thi hoạ lại khéo việc nữ công, nội trợ. Khi Dì lớn thì bà mẹ của Dì, là bà vợ thứ năm của ông ngoại tôi, lên tu ở chùa Thiên Hưng. Vì rưá Dì tôi cũng theo bà mẹ lên ở chùa nhưng Dì tôi vẫn thỉnh thoảng về nhà ít ngày, dậy mẹ tôi đàn tranh, chữ Nho, hay về nhà giúp việc khi nhà có đám giỗ, đãi tiệc khách.

Khi ông Nguyễn Thượng Hiền vào kinh học, duyên trời sui khiến ra răng mà khi ông lên vãn cảnh chùa Thiên Hưng, ông trông thấy Dì Dậu tôi. Ông đòi cưới Dì tôi làm vợ. Nghiệt nỗi trước đó cụ Nguyễn Thượng Phiên đã đi hỏi con gái cụ Tôn Thất Thuyết cho ông Nguyễn rồi. Dì tôi nghĩ nếu lấy ông này thì nhất định Dì phải làm lẽ mà mình là con quan nhất phẩm, không có lý chi phải chịu như rưá. Thấy khó tránh khỏi phiền phúc, Dì tôi đã định xuống tóc tu luôn. Ông Nguyễn Thượng Hiền được tin Dì tôi muốn xuống tóc, ông đến chùa, doạ nếu Dì tôi không về nhà để ông cưới, ông sẽ đốt chùa. Dì Dậu sợ ông làm thiệt, phải về nhà khóc với cha, ông ngoại tôi đành phải sang trình đầu đuôi mọi việc với cụ Tôn Thất Thuyết. Không ngờ cụ Tôn Thất Thuyết lại dễ tính quá chừng, có lẽ một phần vì cụ mến tài ông Nguyễn Thượng Hiền, ông trẻ tuổi mà đậu Hoàng Giáp, và hai cô gái trong vụ ni đều là người trong tôn thất. Cụ Tôn Thất Thuyết bằng lòng cho ông Nguyễn Thượng Hiền được lấy cả hai bà cùng một lúc, không ai là chánh, không ai là thứ. Khi đó Dì Dậu tôi mới chịu rời chùa về nhà. Hai đám cưới diễn ra trong cùng một ngày, sau khi rước dâu từ nhà cụ Tôn Thất Thuyết về, nhà trai lại đi rước dâu từ nhà ông ngoại tôi.

Nhân dịp ni, một người có họ là cô Phò có làm bài thơ mừng như sau:

Ít chữ mừng cho phận má hồng,
Đừng còn nay Sắc với mai Không.
Non Thai khuất nẻo, tin vừa thấu,
Bến Ngự xuôi dòng, lá mới thông.
Xa bỗng nên gần, duyên cá nước,
Lợt mà ra mặn, nghĩa non sông.
Vần xoay nghĩ cũng ghê tay thợ.
Ai biết hôm nay có chữ Đồng.

Cô Phò học giỏi, cô là vợ chánh thất của một ông họ Nguyễn. Khi ông Nguyễn ni được vua Thiệu Trị gả công chuá, bà vợ cả là bà Phò phải xuống làm thiếp, nhường ngôi vợ chánh thất cho bà Chúa. Tư đó người ta gọi bà là cô Phò, tức là thiếp của ông Phò Mã, cho đến khi già, người ta vẫn gọi bà là “Cô Phò.” Có lẽ vì liên tưởng đến thân phận mình nên cô Phò mới làm bài thơ trên.

Dì Dậu tôi với ông Nguyễn Thượng Hiền sinh hạ hai con trai. Sau khi ông Nguyễn xuất bôn, Dì tôi về sống trong một cái trại ở Thanh Hóa.

Ngưng trích Trần Thị Như Mân.

Bà Như Mân kể thân phụ của bà buổi tối thường “đọc truyện Liêu Trai cho mấy chị em tôi nghe,” tôi — CT Hà Đông — e là bà kể không đúng. Liêu Trai Chí Dị không phải là bộ truyện Tầu để các ông Bố là Quan lại A Nam đọc cho các con gái nghe. Em nhỏ lên ba cũng biết Liêu Trai Chí Dị là bộ tiểu thuyết có chủ đề là Ái Tình. Đủ thứ Tình: Tình Ái, Tình Oán, Tình Oan, Tình Hận, mà Tình Dục là nhiều nhất. Liêu Trai lại có nhiều chuyện yêu ma — nữ nhân vật thường là các cô gái trẻ, đẹp bị chết oan từ đáy mồ lạnh đêm đêm hiện hồn, hiện hình về làm chuyện dâm tình ái ân với những chàng học trò bị các cô cám dỗ, quyến rũ. Tôi dám chắc chẳng cần phải là Nhà Nho, không ông bố nào trên cỡi đời nay lại tự ý đọc truyện Liêu Trai cho những cô con gái của mình nghe.

Dao Duy Anh and wifeBà Như Mân kể vì bà mẹ của bà đẻ toàn con gái — 4 cô — không đẻ người con trai nào nên phải cưới thiếp cho ông bố của bà. Để ông có con trai. Ngày xưa các ông An Nam — theo Tầu thôi, không có gì mới hay lạ — có “thê” và có “thiếp”. “Thê” là vợ, vợ có bà chánh thất: vợ chánh, vợ cả, vợ lớn, có bà thứ thất: vợ lẽ, vợ be, có bà kế thất: vợ kế. Còn “thiếp” không được coi là vợ. [1]

Ông bố bà Như Mân vì cần có con trai nên lấy thiếp thì cũng được đi, chuyện chẳng có gì lạ, nhưng chuyện kỳ ở chỗ ông lấy con gái nhà ai cũng được, ông lấy con gái của ông anh vợ ông: “Mẹ tôi chỉ sinh toàn con gái, nên phải lấy thiếp cho cha tôi. Người thiếp này lại là con gái ông cậu ruột tôi, chị sinh được hai con trai là Trần Tiễn Hy và Trần Tiễn Dương. “!!!

Như ri là ông bố bà Như Mân lấy cô cháu vợ làm vợ!! Thường thì các ông Nho cũng như các ông Táo, Ổi, Chuối, tức không phải là Nho, thế kỷ 18, 19 hay lấy em gái vợ làm vợ bé. Ông Nho nhạc phụ của người được gọi là Học giả Đào Duy Anh, chơi trội hơn: ông lấy cháu gái vợ ông làm vợ bé. Không những chỉ cháu vợ suông mà là cô cháu ruột của vợ ông. Dzậy thì cái gọi là tôn ti, sự xưng hô trong gia đình này sẽ ra nàm thao? Ông anh vợ trở thành ông bố vợ? Đang là cháu phải gọi bà kia là cô — cô ruột — cô cháu bỗng lên ngang hàng chị em với bà cô? Đang gọi ông kia là Dượng, cô gái bỗng gọi ông kia là chồng? Đang là chị bỗng chị trở thành bà vợ của ông bố mình. Gọi nhau bằng gì?

Nhân chuyện lấy cháu gái vợ làm vợ bé, mời quí vị đọc câu chuyên nhỏ tôi nghe được từ lâu:

Khoảng năm 1935/1940 ở vùng quê Bắc Kỳ có phong trào canh tân đời sống mới. Một ông Tri Huyện trẻ tuổi có đầu óc tân tiến muốn đem văn minh và ánh sáng vào những làng quê ao tù, nước đọng trong hạt ông cai trị. Thấy các ông hương lý và kỳ mục, kỳ nát trong các làng gần như ông nào cũng lấy em gái vợ làm vợ bé, Tri Huyện rất ghét. Quan đến một làng trù phú nhất, hội họp các ông hương lý và kỳ mục, kỳ nát ở đình. Quan lên lớp một hồi rổn rảng về nạn đa thê, về lòng tham dzâm của bọn đàn ông xấu — bọn chuyên lấy em gái vợ làm vợ bé – về tình trạng thiệt thòi, thiếu hạnh phúc của người phụ nữ thôn quê, rồi Quan nghiêm mặt, nghiêm giọng nói:

Dao Duy Anh and wife– Ông nào lấy em gái vợ làm vợ đứng sang bên này.

Đám hương lý có 15 ông thì 14 ông líu ríu theo nhau đứng sang bên Quan chỉ tay cho đứng, chỉ có và chỉ còn Cụ Tiên Chỉ là đứng tại chỗ.

– Các ông quá tệ.

Quan nhìn, Quan nói, Quan thở dài, Quan thấy Cụ Tiên Chỉ, Quan vui lên:

– Không ông nào theo gương Cụ Tiên Chỉ làng ta đây. Cụ có thể lấy em gái vợ như các ông nhưng cụ đã không lấy. Tôi vinh danh Cụ Tiên Chỉ.

Cụ Tiên Chỉ suôi sị:

– Xin Quan đừng khen. Tôi xấu hổ.

Tri Huyện ngạc nhiên:

– Cụ nói gì? Cụ cũng lấy em gái vợ làm vợ ư?

– Thưa Quan không ạ.

– Thế sao cụ lại xấu hổ?

– Bẩm Quan, tôi lấy cháu vợ.

Quí vị có cười hay không cũng mời quí vị trở lại với nhân vật chính của câu chuyện Kiến Văn này, nhân vật ấy là Thuyền Trưởng Hai Tầu Nguyễn Thượng Hiền.

Danh sĩ Nguyễn Thượng Hiền đỗ cử nhân năm 1885 khi ông 17 tuổi. Năm này quân Pháp đánh vào Huế, ly loạn mấy năm, đến năm 1892 ông 24 tuổi, Triều đình mở lại khoa thi, ông đỗ hoàng giáp. Nước nhà bị ngoại nhân xâm chiếm,Vua bị ngoại nhân phế, cho đi tù, ông không muốn ra làm quan, ông chỉ nhận làm chức quan biên soạn Quốc Sử, rồi làm Đốc Học tỉnh Ninh Bình trong vài năm. Đến năm 1907 thân phụ của ông qua đời, ông bỏ quan, gia nhập phong trào chống Pháp cùng với ông Phan Bội Châu. Ông có sang Tầu hoạt động nhiều năm, ông sang Thái Lan gặp các ông Đại sứ Đức và Áo bàn chuyện đánh Pháp. Việc không thành, ông đến tu ở một ngôi chuà ở Hàng Châu. Ngày 28 Tháng 12 năm 1925 ông từ trần ở ngôi chùa ấy. Cùng những năm ấy ông Tôn Thất Thuyết, ông bố vợ ông, cũng sống lưu vong trên đất Tầu và cũng chết trên đất Tầu. Ông nhạc, chàng rể cùng chống Pháp, cùng thất bại, cùng đi sống lưu vong và cùng chết nơi xứ người.

Bức ảnh ông Nguyễn Thượng Hiền, đi cùng bài này, cho tôi thấy có thể là ảnh chụp khi ông đã làm Sư ở Hàng Châu. Trong ảnh ông là người đàn ông Việt Nam tuấn tú, ông học giỏi, văn hay, tính tình hào sảng, nếu ông chịu làm quan Nhà Nguyễn thì đời sống của ông, văn thơ của ông có thể nếu không hơn, cũng sáng, đẹp như cuộc đời và văn thơ của các ông khoa bảng Nguyễn Khuyến, Duơng Khuê, Chu Mạnh Trinh. Nhưng ông đã bỏ tất cả những vinh hoa ấy để dấn thân vào việc cứu nước, cứu đồng bào. Không làm được những việc ông có bổn phận phải làm, ông buồn chán, ông lánh đời. Tôi thấy Chí sĩ Nguyễn Thượng Hiền là Thánh Tổ của những Nhân Sĩ Việt Nam Tự Nguyện Lưu Vong trong Thế Kỷ 20, Thế Kỷ 21.

Trong Lịch Sử 4 ngàn 70 năm Văn Hiến Đa Thê cuả Dân Tộc tôi không thấy ông Đa Thê nào, danh xưng mới là Thuyền Trưởng Hai Tầu, hách, và ngang tàng, lãng tử như ông Nguyễn Thượng Hiền.[2] Đã có vợ chưa cưới là con gái Quan Phụ Chính Đại Thần, như Tể Tướng, uy quyền nhất nước, thấy Người Đẹp Cửa Thiền, ông yêu Nàng, ông đòi cưới Nàng làm Vợ. Nàng không chịu, ông doạ Nàng không chịu ông phóng hoả đốt chùa. Nàng cũng là con quan nhất phẩm triều đình, đâu phải con nhà dân giã. Làm việc đốt chuà ngang xương, ông không sợ bị quan quân triều đình gông cổ ông lại, cho ông vô tù hay sao? Tể Tướng Tôn Thất Thuyết là ông Bố Vợ Dzễ Tính Có Một Không Hai trong Danh Sách những ông Bố Vợ Vênh Váo An Nam. Lẽ ra ông nói:

– Cho nó đốt, xem nó có dám đốt không. Nó đốt, ta sẽ cho nó biết thế nào là khốn khổ, khốn nạn.

Nhưng thay vì nói như thế, ông lại dzễ dzàng OK Salem cho Chàng Rể của ông cưới thêm một cô dzâu nưã. Chàng Rể trong chuyện này không phải là người đẻ một bọc điều mà là người lúc ra đời có mười bọc điều quấn quanh. Nhưng..

Thời buổi này, nhất là sống ở Kỳ Hoa, chẳng có Tay Chơi Người Việt Đa Tình nào dại mà làm như ông Nguyễn Thượng Hiền: dọa không cho cưới thì chất rơm đốt chùa, đổ xăng đốt nhà thờ? Hai Chuyến Xe Huê, Vợ Lớn thơm như múi mít, Vợ Bé gợi tình như Marilyn Monroe đâu không thấy, bị còng tay cho vô tù nằm chung sà-lim với Mỹ Đen là cái cẳng.

Nghe kể thì hai cô dzâu có giá trị ngang nhau, không ai lớn, không ai bé, cưới cùng ngày xong trên thực tế thì Dì Dậu cuả bà Như Mân vẫn phải là Vợ Bé. Rước dzâu cùng ngày nhưng cô con Quan Tể Tướng đuợc đón dzâu trước. Sế rồi đêm ấy Chú Rể sẽ dzô động phòng với cô vợ con Quan Tể Tướng trước, dù cho hai, ba giờ sáng Chú Rể có vào phòng Cô Dzâu Dì Dậu nhưng.. síu oát dù có còn cũng chẳng còn bao nhiêu. Nói gì thì nói Dì Dậu vẫn là Vợ Bé.

Chuyện Cô Phò làm tôi bất nhẫn. Đang là vợ lớn, ông chồng được Vua gả Công Chuá, thế là ô-tô-ma-tít từ Vợ Cả tụt xuống Vợ Bé. Công Chuá thì Công Chuá chứ. Công Chua cũng là đàn bà như đàn bà thường dân, Công Chuá chẳng có gì hơn Đàn Bà Thường Dân, có khi Công Chuá còn kém nhiều thứ. Công Chuá lấy anh đàn ông đã có vợ, Công Chuá phải là Vợ Bé. Về Tình Ái, về Vợ Chồng, Công Chuá không có Iu Tiên gì cả. Cũng kỳ. Dân nước có thiếu gì anh con trai tài đức chưa vợ xứng đáng làm Con Rể Vua, sao Vua không gả mà lại gả Công Chuá cho anh đàn ông đã có vợ? Đến sau, Công Chuá phải là Vợ Bé. Không oong đưa gì hết. Công Chuá chiếm chỗ của người Vợ Lớn là vô lý và bất công. Vua bị dân hạ bệ, bị dân đưa lên đài Cúp-pê La Tết, Hoàng Hậu, Công Chuá bị dân cho ra chợ bán bún chả, thịt cầy thì cũng đúng thôi. Chế Độ Quân Chủ, vì có những bất công như dzậy, nên bị nhân dân cho ra bãi rác là đáng lắm.

Tiến Sĩ Nguyễn Thượng Hiền, trẻ tuổi, đẹp trai, học giỏi, đỗ cao, khí phách, cao thượng, có thiên tài, đa tình, yêu cái Đẹp và Gái Đẹp, lại may mắn, được đời trọng nể. Ông biết xử dụng những đặc quyền của ông. Ông có đủ những điều kiện để sống sung sướng. Chịu làm quan triều Nhà Nguyễn, ông làm Tổng Đốc, Thượng Thư dễ hơn ông ăn cơm sườn. Ông là Thuyền Truởng Hai Tầu đàng hoàng, hợp pháp, được Tể Tướng cho phép, xã hội công nhận, ông được hai Bà Vơ con cháu Vua thuận phục. Làm quan ông lo cho dân, ông làm việc lợi ích cho dân, ông không bị chê trách, ông làm Thơ Văn để lại cho đời, nhân dân sẽ vinh danh ông.

Tôi mà là Thuyền Trưởng Nguyễn Thượng Hiền, tôi sẽ làm quan, tôi làm Án Sát như ông Chu Mạnh Trinh, tôi làm Tổng Đốc như ông Dương Khuê, tôi làm những việc ích lợi cho dân như ông Thượng Thư Nguyễn Công Trứ, và tôi ăn chơi. Tôi sẽ ăn chơi hào hoa phong nhã, ăn chơi lãng mạn, sạch, đẹp. Tôi sẽ làm Thơ tặng Nữ Ca Sĩ như ông Tuần Phủ Dương Tự Nhu:

Quân thị phong lưu hồng phấn khách.
Ngã vi du hoạn thiếu niên nhân.

Em là Người Đẹp, Sang trong giới hồng phấn.
Ta là ông Quan trẻ tuổi đi chơi.

Du hoạn” là ông Quan đi chơi, không phải người thường đi chơi. Ngã vi du hoạn thiếu niên nhân. Là quan đi ăn chơi mà lại là vị quan trẻ tuổi. Mèn ơi.. Cảm khái cách gì. Tôi sẽ mần Thơ như Thi sĩ Hoàng Trúc Ly:

Từ Em tiếng hát lên trời
Tay xoa dòng tóc, tay vời âm thanh.
Sợi buồn chẻ xuống lòng anh.
Nghe trong xương thịt tan tành xưa sau.

Tôi sẽ.. Tôi sẽ.. làm nhiều chuyện. Toàn chuyện đẹp, chuyện thơ mộng, chuyện tình tứ. Chỉ có một chuyện tôi không làm.

Đó là chuyện tôi không làm như ông Thuyền Truởng Hai Tầu Bỏ Cả Hai Tầu Nguyễn Thượng Hiền. Tôi ăn chơi phong nhã mà tôi vẫn giữ hai Tầu. Đời nào tôi bỏ. Sức mấy. Còn lâu.

 

 

 

____________________
[1] Sài Gòn Vang Bóng: Trước năm 1975, ông bà Chủ Tiệm — tôi không nhớ là Tiệm Vàng hay Tiệm Thịt Bò — đường Hai Bà Trưng, gần chợ Tân Định — sinh 14 cô con gái. Liền một dây. Cô thứ 14 sinh năm 1974. Nhật báo Chính Luận năm 1974 có loan tin về 14 cô. Không biết trong 14 cô này nay có cô nào sống ở Kỳ Hoa hay không?

[2] Tôi viết “bốn ngàn 70 năm Văn Hiến Đa Thê” vì tôi nghe được câu “bốn ngàn năm văn hiến” năm tôi 10 tuổi. Năm nay, 2009, tôi Bẩy Bó.

Advertisements

8 Responses

  1. Saigon hoa lệ ngày xưa có tên đường Nguyễn Thượng Hiền, nhưng tôi không nhớ nằm ở đâu. Hình con đường này nằm ở Quận Ba, nhỏ và ngắn lắm? Ai nhớ nhắc dùm. Cám ơn.

  2. Tôi nhớ đường Nguyễn thượng Hiền nằm ở bùng binh ngã sáu , quân Ba , phía sau Ty Cảnh Sát quận Ba .
    Ngã sáu này gồm có : đường Lê văn Duyệt , Trần quốc Toản , Nguyễn thượng Hiền , Lê văn Duyệt ( hướng ra Sài-gòn ) , Hiền Vương , Yên Đổ .
    Cám ơn bác Công Tử Hà Đông đã cho chúng tôi trở về với những kỷ niệm một thời ………….
    Kính chúc Bác an khang .

  3. Anh Nghiên, nếu anh đi trên đường Trần Quốc Toản từ Viện Hoá Đạo về công trường Dân Chủ, còn gọi là bùng binh ngã sáu, anh Nghiên sẽ gặp một con đường đầu tiên bên tay mặt đâm vào bùng binh ngã sáu. Đường này là đường Nguyễn Thượng Hiền. Quẹo phải trên đường này, đi một đoạn ngắn là hết đường. Đường sẽ đụng đường Phan Thanh Giản. Nếu băng qua đường Phan Thanh Giản sẽ đi vào con hẻm lớn đi vào chợ Vườn Chuối. Rồi anh Nghiên nhớ ra chưa? Bộ đọc cuốn Kiều Giang rồi quên hết đường phố Saigon năm xưa cũa mình sao anh Nghiên ?

  4. Duong Nguyen Thuong Hien nam song song voi duong Le Van Duyet cat duong Phan Thanh Gian , duong Phan Dinh Phung va duong Hong Thap Tu , nam ke duong Vuon Chuoi khu Cho Vuon Chuoi , Ban Co quan 3 , ngoai ra o nga tu Bay Hien , Tan Dinh co truong trung hoc Nguyen Thuong Hien .

  5. Bài này, tôi thấy Bố Già CTHĐ ca tụng Lê quí Đôn và thuyền trưởng Nguyễn thượng Hiền hết lời. Cũng xứng đáng chứ không quá lời! Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ nếu “Sài Gòn Vang Bóng” ra đời thì chắc chắn sẽ là một danh tác để đời. Đôi khi còn gây tiếng vang và ấn tượng hơn xa “Kiến Văn Tiểu Lục” của học giả họ Lê nhiều. Là bởi vì sách viết bằng chữ quốc ngữ, là thứ chữ mà bất kỳ con dân VN nào cũng đọc được. Những công dân VNCH chúng ta đương nhiên sẽ đón nhận nó. Nhưng tôi mong bọn ăn cướp cũng tò mò ghé mắt xem thử để thấy một điều cho rõ mà chúng ta hét mãi vào mặt chúng nó đã mấy chục năm nay mà chúng chẳng chịu nghe: đó là nhân dân và đất nước VNCH ở miền Nam chúng ta ngày xưa thật sự đã có tự do và sống sung túc đến nỗi chúng ta chả cần ai “giải phóng”! Bọn chúng thật ra chỉ là một bọn ăn cướp và phá hoại đất nước chúng ta mà thôi. Cứ coi những “thành quả” mà bọn ăn cướp vẫn rêu rao sau 34 năm ăn cướp miền Nam thì thấy: những “thành tích mà chúng đạt được thật ra chúng ta đã có từ xưa rồi! Chúng đạp đổ để xây dựng lại mà có bằng được đâu?

  6. Tôi nghĩ là bọn ăn cướp đều đã biết tỏng những điều mà bác Phương Lê nói từ lâu rồi, từ ngày đầu tiên chúng nó đặt chân lên đất Sài Gòn hoa lệ cơ, nhưng bản chất của chúng nó là ăn cướp, chúng nó phải ra sức nói láo để che đậy tội ác của chúng nó, chúng nó đâu có liêm sỉ, đâu có tính phục thiện để mà thấy sai rồi sửa sai. Ngay trong thời đại thông tin bùng nổ này, tội ác của chúng nó bị người ta vạch trần vô số kể trên mạng internet, thế mà chúng nó vẫn mặt dày sủa ra toàn những lời “nói láo như Vẹm” thì chúng ta đủ thấy bọn này không thằng nào có gan dám nói sự thật. Cũng đúng thôi, nếu thằng nào đó trong Đảng Cướp mà cả gan nói sự thật thì nó sẽ bị bọn còn lại cho “đi mò tôm” ngay.

    Tôi xin đơn cử một ví dụ nhỏ: Khi trung tâm Asia phát hành cuốn DVD Asia 53 (tôi không nhớ chính xác lắm), có nhiều nội dung chống cộng, một chú văn nô của báo Công An Thành Hồ bèn phóng một bài lên trang web của tờ báo này. Chú này tường trình là ở Thành Hồ đĩa Asia 53 (dĩ nhiên là đĩa lậu) được đội ngũ bán đĩa lậu cung cấp nhan nhản ở khắp mọi nơi. Nhưng liền sau đó chú văn nô bèn giở giọng bôi bác, chê bai đĩa Asia 53 là “nội dung nhạt phèo”, “bài hát cũ rích”, vân vân. Chú dẫn lời một “nhạc sỹ tên tuổi ở Thành Hồ” (nhưng lại “quên” nêu tên) và lời những người bình dân (dĩ nhiên cũng vô danh), tất cả đều chê bai đĩa Asia 53, nói là có cho không họ cũng không thèm nhận chứ đừng nói bỏ tiền ra mua, v.v… Nếu sự thực đúng như chú văn nô viết, nghĩa là dân chúng chẳng ai thèm xem cái DVD “thổ tả” ấy thì việc quái gì chú văn nô phải hì hục viết bài bôi nhọ nó, việc quái gì bọn CA Thành Hồ phải vất vả đi truy lùng những người bán đĩa. Bọn bán đĩa lậu không ngu mà cũng không điên, nếu đĩa không ai thèm mua thì họ mạo hiểm (có thể bị ở tù) rao bán nó làm gì? Chỉ có một chuyện nhỏ xíu như vậy mà bọn Vẹm cũng không dám nói thật thì chúng ta thấy bản chất của chúng nó là như thế nào rồi :))

  7. “Lieu Trai Chi Di” khong phai la bo truyen tau de cac ong bo…doc cho con gai nghe.” Toi co xem mot it truyen LTCD tren vnthuquan va thay co nhieu truyen co the doc cho con nit nghe rat hay.Chang han Xuc Chuc (De choi),Dao si,Cong ton Ha,Hoi sinh khoi binh te liet…Toi nghi ba Dao duy Anh luc nho duoc bo doc cho nghe (nhung truyen choc loc) trong LTCD la chuyen ba nho khong lam.

  8. bài này Tác Giả viết đọc khoái quá… nhứt là phần cuối ..

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: