• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Giã Từ Việt Nam


 
Bác sĩ Edmond Oshiro, người Mỹ gốc Nhật, sống tại thành phố Seattle, Bang Washington, là người tình nguyện sang phục vụ trong một Bệnh Xá và Cô Nhi Viện do một Tổ Chức Nhân Đạo Hoa Kỳ thành lập, quản trị và tài trợ Đà Nẵng. Với thiện chí giúp dân nghèo Việt Nam, Bác sĩ Oshiro không thể làm việc được vì trò tham nhũng trắng trợn và cao độ của bọn viên chức cộng sản Việt. Ông chỉ có ttể sống được ở Đà Nẵng có 3 tháng. Trở về Hoa Kỳ, ông viết bài kể về chuyến đến Việt Nam của ông và tình trạng tham nhũng ở Việt Nam. Mời quí vị đọc.

Bài viết của Bác sĩ Edmond bằng Anh ngữ, bản tiếng Việt do Trần Trúc Lâm chuyển ngữ

——————–

Ba mươi phút sau khi chuyến bay của hãng Hàng Không Việt Nam chở chúng tôi rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhất thuộc thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi nhìn xuống những cánh đồng màu đỏ trơ trụi của xứ Cambodia, tôi và vợ tôi bỗng dưng có một cảm giác kỳ lạ của sự thoải mái và tự do. Hú vía, chúng tôi thực sự đã thoát khỏi những sự cách nhiễu, hăm dọa và nạn tham nhũng thường nhật của các giới chức Việt Nam, và cái gánh nặng đè trên vai chúng tôi trong ba tháng qua chợt trút mất.

Chuyến đi Việt Nam của chúng tôi bắt đầu từ mùa thu năm ngoái, khi tôi nhận làm Quản lý Hải Ngoại Vụ Cơ Sở Đông Gặp Tây (East Meets West Foundation,) cơ sở thiện nguyện hiện đang viện trợ và điều hành một Bệnh Xá Toàn Khoa cho “ Kẻ Nghèo Nhất trong Kẻ Nghèo” — The Poorest of The Poor — và một Cô Nhi Viện với 125 trẻ em ở ngoại ô thành phố Đà Nẳng, Việt Nam. Tôi đã quyết định chụp lấy cơ hội hưu trí sớm với đầy đủ cấp dưỡng do Cơ Sở Group Health đề nghị và về hưu vào đầu tháng Giêng với ý định đi phục vụ tình nguyện khoảng một năm đến hai năm tại Việt Nam cho Cơ Sở , bắt đầu vào giữa tháng Giêng.

Công việc của tôi là giúp Bệnh Xá hoạt động được hữu hiệu hơn và hướng dẫn những chương trình về giáo dục y tế công cộng cho dân chúng của bốn làng quê trong tỉnh Đà Nẵng. Vợ tôi làm việc ở Cô Nhi Viện như là giáo viên mỹ thuật và dạy Anh ngữ cho các nhân viên người Việt của Viện.

Một điều báo trước cho những việc bê bối chúng tôi sẽ gặp ở trong nước Việt Nam thực ra đã bắt đầu khi vợ chồng tôi từ Seattle bay xuống San Francisco để đến Tổng Lãnh Sự Quán Việt Nam nhận giấy hộ chiếu đi Việt Nam. Khi đến Tổng Lãnh Sự Quán chúng tôi gặp một viên chức Việt nói cho biết ông Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao (Việt Nam), người cấp chiến khán, muốn chúng tôi phải thuê căn phòng của ông ta ở Đà Nẳng với giá 700 đô la mỗi tháng, với sáu tháng tiền nhà đưa trước. Chúng tôi không chịu, ông ta không chịu cấp nhập cảnh cho chúng tôi, chúng tôi đành phải về lại Seattle để chờ Cơ Sở thương lượng. Cuối cùng đến tháng Hai, sau khi đồng ý với vụ sắp xếp, trả cho ông ta 4200 đô la, chúng tôi đượ cấp hộ chiếu nhưng thời hạn chúng tôi ở Việt Nam chỉ là 3 tháng thay vì 12 tháng như đã định. Chúng tôi bay đi Việt Nam. Khi đến Đà Nẵng thì căn phòng chúng ng tôi bắt buộc phải mướn còn đang sửa chữa, chúng tôi đành đến ở khách sạn với giá 45 đô la một ngày.

Vừa vào đến Việt Nam tất cả những đĩa điện toán của chúng tôi bị tịch thâu ngay, mãi đến ba tuần mới được trả lại sau khi họ buộc chúng tôi nộp cho họ 40 đô-la gọi là “lệ phí bảo quản” những đĩa điện toán ấy. Chúng tôi biết họ đã copy những đĩa điện toán của chúng tôi.

Ngày đầu làm việc trong văn phòng Bệnh Xá, tôi dùng máy điện thoại để gọi con gái tôi ở Seattle, tôi nghe rõ tiếng nhạc quân hành văng vẳng trong máy suốt cuộc điện đàm. Tôi nói chuyện đó với nhân viên người Việt thì được họ cho biết là công an và quân đội luôn theo dõi nghe trộm mọi cuộc điện đàm của chúng tôi. Chúng tôi được họ khuyến cáo là ngay cả thư từ của chúng tôi cũng bị người chính quyền mở ra đọc ngang xương, cho nên chúng tôi phải cẩn thận khi viết thư.

Vài ngày sau khi tôi bắt đầu làm việc, cô kế toán viên người Việt của văn phòng bay đi Florida để làm đám cưới với ông bác sĩ Mỹ mà cô đã quen trong thời gian ông ta phục vụ tình nguyện tại Bệnh Xá. Khi chúng tôi rao tuyển người thay thế thì viên Bộ Trưởng cho đưa đến một danh sách ứng viên mà ông ta muốn chúng tôi thâu dụng. Chúng tôi bác ngay vì mấy người Việt trng danh sách này không biết tí gì về kế toán và rất kém Anh ngữ. Chúng tôi tuyển được một cô có bằng kế toán và nói giỏi tiếng Anh, nhưng Sở Công An lại trì hoãn việc chuẩn y cho Bệnh Xá thâu dụng cô này, cho mãi đến khi tôi nghĩ rằng có chút tiền đút lót hoặc cô nhân viên mới tuyển của Bệnh Xá chịu chia một phần lương của cô.

Chúng tôi được biết tất cả nhân viên người Việt làm việc trong Bệnh Xá đều phải đóng một phần tiền lương cho cho công an, các viên chức nhà nước, đảng viên, v.v… Có mấy lần công an đến văn phòng chúng tôi hạch hỏi vì sao chúng tôi không dùng người của họ. Bất ngờ có một y sĩ người Việt đến nộp đơn xin làm việc văn phòng, ông ta xin làm việc gì cũng được vì ông không có việc làm từ hơn 5 năm nay. Có hàng trăm y sĩ Việt không được làm việc mặc dù họ thuộc hạng lao động có lương thấp nhất ở Việ Nam… 30 đô la một tháng. Tôi chẳng thể nào hiểu được vì sao lại có quá nhiều y sĩ thất nghiệp tại Việt Nam đến như thế. Tôi được nghe kể khi tốt nghiệp rồi họ phải đóng khoản tiền 1,500 đô la để được thực tập ở bệnh viện . Không có quá trình thực tập tại bệnh viện là không được dùng. Tôi lại được biết có một sự kỳ thị nặng đối với dân Việt trong Nam, đặc biệt là những người đã từng phục vụ cho chế độ cũ. Hầu hết những y sĩ thất nghiệp mà chúng tôi gặp là dân miền Nam.

Trong khi họp định hướng tại Hoa Kỳ, tôi được cho biết rằng các y sĩ Việt tại Bệnh Xá Hòa Bình rất lười và ù lì, họ chỉ biết có một việc là biên toa cho thuốc bổ sinh tố. Nhưng sau khi làm việc với những y sĩ Việt ấy ít ngày, tôi thấy họ thông minh, họ ham học để có thể hành nghề tốt và sẵn sàng đón nhận những sự chỉ dẫn để trở thành thầy thuốc giỏi.. Điều đáng tiếc là sự đào tạo của họ tệ quá, cho nên họ chỉ biết viết toa sinh tố cho mọi bệnh trạng.

Mỗi ngày trong một tuần, các y sĩ Việt đi khám bệnh cho dân ở một trong những làng lân cận. Tôi đi theo họ vài lần và thấy rằng sinh tố được họ cấp cho mọi chứng: sốt rét, mù lòa, sốt nóng, bệnh ký sinh trùng, đái ra máu, ỉa chảy v.v… Họ đâu có thể làm gì khác hơn được? Họ chẳng có món thuốc nào ngoài vài lọ Ampicilin. Họ nói rằng ít ra cũng nên cho bệnh nhân món gì đó để đem về nhà, và họ cấp sinh tố. À ra thế! Trụ sinh thì ai cũng có thể mua được chẳng cần toa cho nên nhà nào cũng có vài lọ trữ sẵn. Ngay cả thông dịch viên của tôi cũng dùng trụ sinh khi cô bị nhức đầu, cảm, tiêu chảy, đau lưng, hoặc khi cô không được khỏe.

Sau khi tạm ổn định công việc, tôi gặp ông Bộ trưởng Y Tế (CSVN) để đề nghị thực hiện một dự án hướng dẫn y tế cho dân bốn làng quanh Bệnh Xá, ông ta rất phấn khởi về ý kiến đó. Ông ta nhận bản dự án và nói rằng ông ta sẽ thảo luận với Ủy Ban Nhân Dân Đà Nẵng rồi cho tôi biết sau. Hai tuần sau, ông ta gửi cho chúng tôi một lá thư nói rằng bản dự án đã được chấp thuận và Bộ sẽ thi hành, nhưng họ lại muốn tôi tài trợ 25.000 đô la. Tôi trả lời rằng tôi không có tiền mà chỉ có sự hiểu biết, thời giờ và thiện chí muốn giúp dân Việt , nhưng họ chẳng tha thiết mấy đến sự cống hiến của tôi — họ chỉ nghĩ đến tiền thôi. Tôi không được mời trở lại Bộ Y Tế nữa.

Khi tôi đi thăm ngôi làng đầu tiên để lượng định về nhu cầu y tế , tôi được gặp Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Xã, y dẫn tôi đi thăm mấy gia đình nghèo nhất. Tại mỗi nhà y đòi tôi giúp cho gia chủ những món mà gia đình đó cần như một mái nhà mới, giếng nước, tiền mua gạo, áo quần, xe lăn v.v… Đến khi tôi nói đi nói lại rằng tôi đến đây không phải để cho tiền, y liền bảo thông dịch viên dẫn tôi ra khỏi làng ngay.

Ở một làng khác, các viên chức Ủy Ban Xã đòi tôi phải cấp một ngân khoản để xây một ngôi chợ mới, khi họ biết tôi không thể làm được việc họ yêu cầu, họ bắt giữ tôi ở lại tại chỗ, họ ra lệnh cấm tôi rời khỏi trụ sở Ủy Ban. Đêm đó tôi phải ngủ trên sàn gỗ bẩn thỉu với một manh mền rách, và một tên an ninh nằm ngủ bên cạnh canh phòng tôi trốn. Cho thêm phần khốn khỗ, tên an ninh CS này lại bị cụt tay vì mìn, y đặt cánh tay cụt lên bụng tôi suốt đêm mà ngủ. Còn tôi thì làm sao mà ngủ được, cứ nằm nghĩ ngợi lung tung, mấy ai tin được rằng tôi là người Mỹ tình nguyện đến nước họ để giúp họ mà lại bị họ bắt ngủ trên sàn gỗ một văn phòng Đảng Cộng Sản, cạnh một tên công an Cộng Sản, mà cánh tay cụt của hắn lại đặt trên bụng tôi! Đó là một trong những đêm kinh dị và hãi hùng nhất trong đời tôi. Tôi cứ ngỡ mình bị ác mộng.

Vì vợ chồng tôi ở trong khách sạn nên phải đi ăn hiệu. Cả Đà Nẵng chỉ có một nơi chúng tôi và hầu hết các du khách Âu Mỹ có thể đến ăn mà không sợ bệnh là nhà hàng mang tên Christies. Mỗi tối chúng tôi gặp tại đây những nhóm Thủy Quân Lục Chiến Mỹ và quân nhân Mỹ đến Việt Nam tìm kiếm Lính Mỹ bị mất tích trong cuộc chiến tranh Việt Nam (MIA’s) . Những người Mỹ này cho chúng tôi biết nhiều làng Việt Nam có mánh khoé kiếm tiền trong công tác tìm hài cốt Lính Mỹ. Đám chức sắc trong Ủy Ban Xã báo cáo là trong chiến tranh họ có chôn hai hay ba xác Lính Mỹ trong cánh đồng hay bìa rừng làng họ. Thế là Hoa Kỳ phải cho nhân viên Mỹ đến đó tìm, Hoa Kỳ phải chi khoảng 10.000 đô la cho một vụ đào xới và mướn người đào tại địa phương.

Các giới chức Mỹ đi tìm Lính Mỹ mất tích mà chúng tôi gặp nói rằng từ năm 1991, họ đào bới nhiều nơi nói có chôn xác Lính Mỹ mà chẳng thấy gì cả, họ cũng chẳng hy vọng tìm được gì, việc họ phải làm là họ phải làm thôi. Họ phải ở trong những Khách Sạn của Quân Đội VN với giá tiền phòng 75 đô- la một ngày. Mỗi ngày ho ï phải di chuyển từ đó tới những nơi đang đào bới bằng phi cơ trực thăng, những phi cơ này cũng của Quân Đội VN, giá tiền mướn là 750 đô-la một giờ. Có khoảng 30 quân nhân Mỹ MIA — tìm hài cốt Lính Mỹ — làm việc tìm kiếm ở Đà Nẵng. Ở mỗi thành phố VN đều có một nhóm nhân viên MIA Mỹ như vậy. Mỗi năm chỉ riêng việc tìm Hài Cốt Lính Mỹ, Hoa Kỳ phải chi nhiều chục triệu đô-la, phần lớn số tiền này lọt vào túi những viên chức CSVN.

Sau hai tháng làm việc tôi thấy rõ là chẳng ai tại Việt Nam cần đến tôi. Cô Nhi Viện đã được Cơ Sở Hoa Kỳ tài trợ dồi dào và nhân viên Việt Nam làm việc ở đó khá tốt. Trẻ em Cô Nhi Viện học ở trường nhà nước, được dạy nghề mộc, may, điện toán, v.v… có một y sĩ chuyên chăm sóc sức khỏe cho các em. Cô Nhi Viện có sân bóng rổ, có phòng bóng bàn, máy truyền hình, video, xe đạp, máy điện toán, lại có cả một khu đất trồng các thứ rau, các em Cô Nhi nuôi gà, heo để sinh lợi. Các em có đời sống khá hơn đại đa số trẻ em khác ở Việt Nam! Tôi đã tìm cách tăng lương cho tất cả các y sĩ và nhân viên (Việt Nam) tại Bệnh Xá từ 30 đô la đến 50 đô la mỗi tháng..

Tôi cũng đã giúp công vào một chương trình phát triển dài hạn giáo dục liên tục cho các y sĩ Việt. Một bác sĩ Tim mạch ở Nhật chịu đỡ đầu hàng năm, trong nhiều năm, cho một y sĩ của Bệnh xá qua tu học tại Bệnh viện Okasa khoảng sáu tháng. Tôi cũng liên lạc được với Bệnh viện Huế xin cho một số y sĩ đến thực tập, Cơ Sở chúng tôi chịu chi những phí tổn cho việc thực tập.

Vài tuần sau khi vợ chồng tôi đến Đà Nẳng, viên chức Bộ Ngoại Giao đòi thêm tiền để hoàn thành việc tu bổ căn phòng và mua đồ bày biện. Chúng tôi đã lịch sự phớt lờ đòi hỏi chi thêm tiền của y. Xong chúng tôi cũng đến xem phòng và thấy phòng vẫn chưa sửa xong, dây điện còn lòng thòng , tường mới được sơn một phần, ống nước chưa được nối vào, không có bàn ghế và gián thì ôi thôi! bò lổn ngổn khắp nơi. Chỉ trong mấy phút mà tôi xài hết một lọ xịt côn trùng và sàn nhà la liệt xác gián, con nào cũng dài khoảng 2 đốt ngón tay, nhiều con nằm ngửa ngo ngoe mấy cái càng trông thật dễ sợ.

Lỡ rồi, vợ chồng tôi phải ngủ trong căn phòng đó một đêm. Hôm sau chúng tôi lại trở về khách sạn. Số tiền trả trước 45.000 đô-la mất tiêu. Vậy mà việc chúng tôi không đến ở để chủ nhà có dịp kiếm thêm tiền vẫn làm cho chủ nhà bực bội. Y nói giọng đe doạ: nếu chúng tôi không vừa lòng thì nên ra khỏi nước. Giọng nói và thái độ của y làm vợ chồng tôi ngán. Y có thể dựng chuyện để giam giữ chúng tôi hay dàn cảnh làm hại chúng tôi bằng tai nạn.

Biết rõ rằng chẳng ai muốn và cần đến chúng tôi tại Việt Nam, sự đóng góp của chúng tôi cũng quá nhỏ nhoi, và vì an ninh của chúng tôi bị đe dọa, chúng tôi quyết định rời khỏi Việt Nam. Vợ chồng tôi bị dằn vặt bởi quyết định bỏ đi này vì chúng tôi đã đến Việt Nam và thấy mến yêu tnhững em trẻ mồ côi ở Viện Cô Nhi, chúng tôi mến những người Việt làm việc trong Bệnh Xá Hòa Bình. Chúng tôi mang theo một tình cảm rất nồng nàn đối với dân Việt, đối với đất nước tuyệt đẹp này, và mong một ngày nào đó chúng tôi sẽ có dịp trở lại để hoàn tất những công tác đã phát khởi.

Một ngày kia, cái thế hệ lãnh đạo hiện nay sẽ trao quyền lại và Việt Nam sẽ vươn mình như con bướm sặc sỡ của vùng Đông Nam Á.

——————–

Hết bài của Bác sĩ Edmond Oshiro.

Tôi — Công Tử Hà Đông — đã sống trong lòng Sài Gòn đày cờ đỏ đến 20 năm, từ Tháng Tư 1975 đến Tháng 12 năm 1994, tôi đã thấy, đã nghe nhiều chuyện tham nhũng của bọn cán bộ Bắc Cộng, nhưng có lẽ vì không làm kinh doanh, tôi chỉ thấy những tham nhũng nhỏ, những vụ làm tiên dân vặt vãnh. Xong tôi thật không ngờ bọn Cán Cộng dám bóc lột cả những người ngoại quốc có lòng nhân đạo tình nguyện đến Việt Nam để giúp dân nghèo Việt đỡ khổ. Chúng đòi họ hối lộ trắng trợn, chúng bóc lột họ thẳng tay. Người Mỹ tình nguyện đến giúp mà còn bị bọn CS đối xử tàn tệ như vậy, làm sao những người Việt ở nước ngoài có thể đem những khoản tiền mồ hôi, nước mắt về làm kinh doanh ở Việt Nam?

Vậy mà vẫn có những người Việt dại dột mang những khoản tiền mồ hôi nước mắt về nước cho bọn CS phóng tay lột nhẵn.

Tởm nhất là vậy mà tên gọi là Chủ Tịt Nguyễn Minh Triết vẫn dài mõm ra kêu gọi người Việt ở nước ngoài mang đô-la về nước làm ăn.

Hết nước nói.

Advertisements

6 Responses

  1. Đễ tra’nh trường hợp bị miệng đời thiên hạ dè bỉu là “spam” hay biạ đặt như bài viê’t cuã ông cựu đại sư’ Pha’p tại Saigon trước 75; DVL xin mạn phe’p nhà văn Hoàng Hải Thủy đăng bãn chi’nh bài viê’t trên bằng tiê’ng Anh :

    GOOD-BYE VIETNAM
    by Ed Oshiro, MPH (Master of Public Health)

    Thirty minutes after our Vietnam Airline flight departed from Tan Son Nhut airport in Ho Chi Minh City, we looked down upon the denuded red plains and my wife and I instantaneously felt an incredible sense of relief and freedom. We were finally free from the daily harassment, intimidation and greed of the Vietnamese officials and we could actually feel the weight of the last three months lift off our shoulders.

    It all began last fall when I was accepted as the overseas manager for the East Meets West Foundation which operated primary care clinic for the “poorest of the poor” and an orphanage for 125 children on the outkirts of Da Nang, Vietnam. I had decided to take advantage of the early retirement package offered by Group Health and retired in January with the intention of volunteering in Vietnam for a year or two, beginning in mid-January. My mission was to help the clinic become more efficient and effective and to conduct pilot public health education programs in four remote villages. My wife was assigned to work with the orphanage as an art and recreation instructor, and to teach English to the staff.

    A preview of what we were to experience in country actually began when we flew to San Francisco to pick up our visa on our way to Vietnam. Upon our arrival in San Francisco, we were advised that the Foreign Minister, who issues the visas, wanted us to rent his appartment in Da Nang for $700 a month, with a six month advance payment. We objected, he refused to issue the visas, so we return to Seattle while the Foundation continued the negotiations. Finally, in February, we agreed to the arrangement, paid him $4200, and with a 3 month instead of a 12-month visa, flew to Vietnam. When we arrived, the apartment, of course, still being renovated so we were compelled to stay in a hotel at $45 a day. Upon entering Vietnam, all of our computer discs were cofiscated and only after paying a $40 “handling fee” and copies had been made (for later resale) were they returned to us three weeks later.

    On our first day in the office, I picked up the telephone to call my daughter in Seattle and noticed that martial music could be heard in the background during our conversation. I later mentioned that to the Vietnamese staff and they stated the police and military were listening in on all of our telephone calls. We were also warned that our letters were opened and read by the government, so we had to be careful what we wrote. Once, I was required to take a month-end financial report to the police and they decided whether it should be sent off or not.
    A few days after we began working in the office, the Vietnamese accountant left for Florida to marry an American doctor she had met when he came to Da Nang to volunteer at the clinic. When we announced the position, the minister sent us candidates who had no accounting training nor English language skills and hired a certified accountant who spoke fluent English. The Minister and the Security Police delayed approval of the new employee, untill, we suspect, some money changed hands or she agreed to kick back a percentage of her salary. We were informed that all the Vietnamese employees were required to pay the police, government offcials, party member, ect, a portion of their salary. The Security Police came to our office to demand, several times, why we refused to hire their candidates.

    Incidentally, a Vietnamese physician applied for the accounting job because he had been unemployed for over five years. Apparently, there were hundreds of doctors that were unemployed in spite of the fact that they are some of the lowest paid workers in Vietnam… $30 a month. I never learned why there were so many unemployed doctors. I was told that they had to pay upwards of $1500 to get practical training and experience in a hospital after they completed their training. Without the training, they were unemployable. I also became aware that there was tremendous discrimination against the South Vietnamese, especially these whose family members supported the defeated government. Most of the unemployed doctors we m et were South Vietnamese.

    During my orientation in the States, I was warned that the doctors at the Peace Village Clinic were lazy and unmotivated, and only knew how to prescribe vitamins. After spending a few days with the doctors, I found them to be very intelligent, very willing to learn to practice good medicine and were eager to receive any assistance that would enable them to become good practitioners. Unfortunately, their medical training was so poor and inadequate that they were only qualified to prescribe vitamins for every affliction. One day a week, the doctors visited one of the surrounding villages and provided care to the people. I accompanied them on several visits and noted that vitamins were precribed for every ailment, malaria, blindness, fevers, parasites, blood in the urine, diarrhea, ect. What else could they do? They didn’t have any other drugs except a few bottles of Ampicillin. The doctors claim that they had to give the patients something to take home so they prescribed vitamins. Made sense to me. Antibiotics may be purchased over the counter so every Vietnamese already had several bottles at home. My translater took antibiotics for headaches, colds, diarrhea, backache, and when she just was not feeling well.

    An OB/GYN doctor from San Diego spent a few days at the clinic and showed the doctors how to use a vaginal speculum. A year later, he returned and was very upset that the doctors were not using the speculum and complained to the East Meets West Foundation Board in San Francisco that the doctors were unmotivated and lazy. My report to the Board questioned his assessment. The doctors could not be trained in diagnose and treat gynecological diseases in a few days and the lab tech was only able to do very simple tests. Even if they did, find something, there were no drugs or equipment to treat the problem. Why look for something if you can’t do anything about it? I felt that some of the American doctors who volunteered at the Peace Village Clinic were very insensitive and did more harm than good.

    As soon as I had settled in, I met with the Minister of Health with a proposal to conduct a pilot public health project in four villages and he seemed to be very enthusiastic about the idea. He accepted the proposal and informed me that he would discuss it with the People’s Commitee and get back to me. Two weeks later, he sent me a letter stating that the project was approved and that the Ministry would implement it, but they wanted me to provide them with $20,000. I stated that I did not have the money, only the knowledge, time and willingness to do the training and work with the health workers, but they were not interested in my participation – only my money. I was not invited back to the Ministry.

    When I visited my first village to do a health assessment. I was met by the Director of the People’s Committee who took me around to the homes of the poorest families. At each farm house, he requested that I pay=2 0for something that the family needed, for example: a new roof, a new well, a new house, money for rice, clothes, wheel chair, etc. When I stated over and over that I was not there to give them money, he finally told my translator to get me out of the village. At another village, the officials demanded that I provide them with funds to build a new school and when they realized that I would not provide the funds, I was immediately put under house arrest and ordered not to leave the grounds of the People’s Committe office. That night, I was ordered to sleep on the dirty wood floor of the office with only a tattered blanket, and one of the security police officer slept next to me to assure that I did not leave the building. To add to my misery, the officer, whose hand had been blown off by a land mine, place his stump on my stomatch all night while he slept. I, of couse, did not sleep a wink and keep thinking who would ever believe that I would be sleeping on the floor of a Communist party office, next to a Viet Cong policeman whose handless arm rested on my belly! It was one of strangest and scarrest night I have experienced. I kept wondering if I was having a nightmare.

    Because we were living in a hotel, we had to eat our meals in restaurants. The only place we and most visitors could eat in Da Nang without getting sick was a restaurant called Christies. Every night, we met American marrines and soldiers who were in Vietnam searching for MIA’s. They20stated that every village had a scam in operation. The village leaders would claim to have burried in the rice fields two or three Americans who had died during the war. It would cost the American $10,000 to dig in the fields and to hire local workers. The officers we talked to claimed that since 1991 they had found nothing and they didn’t expect to find anything. They were required to stay in Vietnam Army Hotel for $75 a night and hire the Vietnam helicopter to take them to the village. We were informed that it cost $750 an hour for the helicopter ride. There were about 30 US military personel looking for MIA’s in Da Nang and every major city had a silmilar team. It is coating the US milion of dollars and the Vietnamese are laughing all the way to the bank!

    After a couple of months, it became very evident to us that we were not needed in VietNam. The orphanage was being very adequately funded by the US Government and the Vietnamese staff was excellent. The kids were attended in the government school, being provided with training in carpentry, sewing, computer, etc … and a full time physician took care of the medical needs of the children. They had a basketball court, ping-pong tables, television, videos, bicycles, computers, a vegetable farm, and they raised chickens and pigs for income. The Vietnamese claimed that these chidren, in fact, lived better than all other children in Vietnam.

    I was able to raise the salaries of all the doctors, and the rest of clin ic staff from $30 to $50 a month. The government required every employee to be paid the same amount whether he/she were a doctor or janitor. I also assisted in development of a long term continuing education program for the doctors. A cadiologist from Japan is sponsoring each year, one doctor from the Peace Village Clinic, who will spend six months in her hospital in Osaka for next few years. The first doctor left Osaka in June. I also opened communication with the Hue hospital to accept our doctors into their resisdency program with us paying for the training. I presented this proposal to East Meets West Foundation Board on my last day in the country. Hopefully, the Boad will vote favourably on this program. I feel that it is very inexpensive to train the doctor for $1600.

    Several weeks after we arrived in Da Nang, the Forein Minister demanded more money to finish renovating the apartment to purchase furniture. We were aware of this fact that a Vietnamese doctor makes $30 a month and he would pay, perhaps $10-$15 a month to rent that apartment so we politely ignore his demand for more money. He tightened the screws by requiring us to to provide him with a detailed itinerary as to where we would be every hour, two weeks in advance, by holding up our request for a visa extention and by intimidating our Vietnamese office staff. Three months after we arrived, the Foreign Minister said we could move into the house and we did – for one night. It was only partially completed wit h electric wires dangling from the ceiling, walls partially painted, plumbing unconnected, no furniture and cockroaches crawling everywhere. In a few minutes, I used up a can of insecticide and the floor was covered with two-inch long cockroaches lying on their backs, leg flailing away. We moved back to the hotel after one night. The minister became very upset and advised us to leave the country if we were unhappy. For the first time ever, we experience real fear. We realized that he could jail us or arrange an accident and no one could do anything about it.

    Realizing that we were not really wanted or needed in the country, that our contributions would be negligible, and that there was a real threat to our safety, we made the decision to leave Vietnam. We agonized over the decision because we had come to love the children in the orphanage and the people working there as well as at the Peace Village Clinic. We have very warm feelings for the Vietnamese people and the incredibly beautiful country, and we would, someday, like to return there complete the work we have begun.

    One day, this generation of leaders will pass on and then Vietnamese will emerge to become to the butterfly of Southeast Asia.

    (Nguồn : Mar 31, 2005 … Dr. Joseph Carrier: Study on sexuality in Vietnam: the known and unknown areas, … Robert Hayden: Oshiro, Ed. Goođbye Vietnam. …
    http://www.lib.uci.edu/libraries/collections/sea/sealetters/seas97.html )

  2. Hình như có vấn đề đâu đây. Tôi đã mạn phép tìm theo đường link của ông Dao van Le và kết quả như sau:

    (Nguồn : Mar 31, 2005 … Dr. Joseph Carrier: Study on sexuality in Vietnam: the known and unknown areas, … Robert Hayden: Oshiro, Ed. Goođbye Vietnam. …
    http://www.lib.uci.edu/libraries/collections/sea/sealetters/seas97.html )

    Spring Quarter 1997; Volume 6, No. 3
    Editor: Anne Frank
    UC Irvine Libraries

    Goođbye Vietnam Recherche
     Les termes de recherche spécifiés – Goođbye Vietnam – ne correspondent à aucun document.

    Oshiro, Ed. Goođbye Vietnam. Recherche
     Les termes de recherche spécifiés – Oshiro, Ed. Goođbye Vietnam. – ne correspondent à aucun document.

    Robert Hayden Recherche
     Southeast Asian Archive Newsletter | Spring 1997
    Robert Hayden: Oshiro, Ed. Good-bye Vietnam. The Bulletin, King County Medical Society 75(11), 11-15. Ngo Lai: Nguoi Viet Yearbook, 1997. Dr. Van Le: …
    http://www.lib.uci.edu/seaa/newsletter/97_spring/97sp_1.html – 11k

    http://www.lib.uci.edu/seaa/newsletter/97_spring/97sp_1.html
    Robert Hayden:
    Oshiro, Ed. Good-bye Vietnam. The Bulletin, King County Medical Society 75(11), 11-15.

    Tóm tắt lại là:
    1) không thấy dung nhan bài báo này ra sao cả mà chỉ thấy có cái tựa (bài chắc đã archived ).

    2) Và bài báo này nếu có (trong bài báo này không có cái mốc thời gian nào cả. Đại loại là “Chuyến đi Việt Nam của chúng tôi bắt đầu từ mùa thu năm ngoái” hay “Cơ Sở Group Health đề nghị và về hưu vào đầu tháng Giêng”. Chỉ có một đoạn viết là “năm 1991”

    3) Bình luận thời sự thì phải nóng hổi thì tin mới sốt dẻo, đầy tính thuyết phục. Chứ bình luận thời sự VN năm 2008-2009 với 1 bài báo viết từ năm… 1997 thì xem ra, không có tính cách thời sự cho lắm.

    Chào quý vị

  3. Bạn NH, sau khi nấn con chuột link, chắc bạn biết bài báo đó có nằm ở thư viện nào rồi Bây giờ bạn in cái danh sách có đề tác giã và bài viết, mang vào bất cứ thư viện công cộng ở Mỹ và nhờ mấy người quản thủ thư viện họ oder qua interlibrary loan Hay nếu không thích bạn co’ the^? oder hard copies cũa bài báo này nhưng phải trã lệ phí Khi báo (hay hard copies) về thư viện, họ sẽ gọi bạn ra thu* vie^.n nhận . Khoẻ re !!! Đó là ở Mỹ, còn nếu bạn đang ở ngoài nươ’c Mỹ tui chịu thua, ai biết mách giúp người hiếu học NH.

  4. Hình như bạn đọc “hiếu-hoc-ham-đo-va-ưa-suy-nghỉ”, xin mượn đở cụm từ này từ ông Trần Phong Giao, thư ký toà soạn tạp chí Văn ở số 38 đường Phạm ngủ Lảo , Quận 1, Saigon hồi trước 75, Nguyen Hung, ở một nơi nào đó ngoài nước Mỹ bởi vì tôi thấy có mấy chử Phú Lang Sa trong bài viết cũa bạn khi bạn “sớt” trên mang tìm bài báo trên. Nếu thế, tôi xin giúp bạn địa chỉ nơi ấn hành bài báo này : King County Medical Society, 200 Broadway WA 98122, bạn hỏi họ đặt mua tờ báo Bullentin, Volume 75, Number 11, sẽ có bài báo bạn đang tìm in trong số báo này Chúc bạn nhiều niềm vui

  5. Còn nhớ sau khi “phỏng dái” mấy đứa cháu tui học sách sử cũa bộ Giáo Dục Giải Phóng, chúng nó về nhà kháo nhau là Đệ Nhị Thế Chiến đã ng chấm dứt nếu không có Hồng Quân Liên Xô đánh đâu thắng đó thì Đồng Minh đã chạy sút quần (chém dzè)trước thế chẻ tre cũa quân Đức Quốc Xã Lâu rồi bây giờ trên mạng này vẫn có nguời lập lại Chịu thua nhé Năm rồi tui có mấy đứa cháu đi du lịch sang Mỹ, tui dẫn bọn chúng nó vào nhà trưng bày cũa NASA ở Johnson Space Center tại Houston cho chúng đi tham quan và chụp hình Sau khi đi về, tui ghé phở Hoàng ngang trước mặt NASẠ với chúng nó đễ bồi dưỡng suốt một buổi sáng cuốc bộ Sau khi đớp phở no bụng,bọn nó kể lể : Cô giáo chúng cháu nói là Mỹ chưa bao giờ đặt chân lên Mặt Trăng Bằng chứng là tấm hình chụp ông phi hành gia trên Mặt Trăng vào năm 1969 có lá cờ cũa Mỹ bay phần phât. Trên mắt trăng làm gì có gió bởi không có không khí, thì làm sao cờ bay được như thế Bọn chúng nó và cả lớp tin lời cô giáo như tin lời sấm Đây là chuyện thật, không có lượm tầm bậy tầm bạ trên mạng Xin miễn phân loại nó là SPAM

  6. Chuyện cũ năm chục năm như Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẩm,…, người ta vẫn mang ra bình luận dài dài, đễ lên án chế độ toàn trị cũa CSVN Huống chi chuyện kể trong bài viết ở trên mới hơn mười năm thì hề chi Không phải thiên hạ rần rần đi về VN du hí, và sau khi hưởng xong rồi về Mỹ phán cái câu vô trách nhiệm đại loại như :” VN bây giờ thay đổi nhiều lắm, không còn như thời bao cấp” Đổi cái quái gì hả mấy anh Tám , chị Tám khi CSVN vẫn còn nằm chình ình ra đó Thôi xuống đi mấy anh Hai, chị Ba, anh Tư,.., chị Út, cho đất nước nhờ

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: