• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Mắt Mù, Tai Điếc

* Năm 1945, tham gia Cách Mạng Tháng Tám, đi kháng chiến, chủ yếu hoạt động trong ngành Tuyên Huấn. Năm 1949, công tác tại Ban Tuyên Huấn Trung Ương Đảng Cộng Sản VN, Thư ký của Tổng Bí thư Trường Chinh. Năm 1952 chuyển về Hội Văn Nghệ T.Ư. Năm 1958 là một trong những người khởi xướng Nhân Văn Giai Phẩm và bị kỷ luật.

Giải Thưởng Nhà Nước 2007.*

Quí vị vừa đọc lời giới thiệu Lê Đạt, Văn nghệ sĩ Hà Nội Xã Hội Chủ Nghiã, trên 1 tờ báo Đảng ở Hà Nội. Nay mời quí vị đọc bài viết của Đào Phương Liên, cô con gái của Văn Nghệ Sĩ Lê Đạt, viết gửi thân phụ của cô trong đêm ông vừa từ trần:

Bài viết của Đào Phương Liên. Trích:

Le Dat * Lúc này đã là 1g30 phút sáng của ngày thứ hai, mẹ con con sống trong tâm trạng hoảng loạn của nỗi đau mất bố, bố ơi…

Chưa bao giờ chúng con có nhiều thời gian gần gũi bên nhau để nhắc về bố, để nghe mọi người nhắc về bố với những lời yêu quý và kính trọng như những giây phút này.

Bố của con ơi, ngay từ bé con luôn có thói quen kể với bố mọi chuyện, kể cả những chuyện bất như ý trong cuộc sống riêng của con sau này như đối với một người bạn nhưng có chuyện này… Con cứ lần lữa mãi, tính sẽ có dịp kể với bố nhưng giờ không còn kịp nữa, bố ơi!

( .. .. .. )

Suốt tuổi thơ, con luôn trăn trở mãi trong lòng câu hỏi bố là ai? Và con luôn nuôi mơ ước được trở thành một người như bố, làm một nghề như bố vì con thấy bố tự do quá, không phải đi làm như những người khác dù không bao giờ con dám hỏi bố làm nghề gì?

Sở dĩ có những câu hỏi này là vì ở đoạn phố Lãn Ông nho nhỏ của bố con ta, gia đình mình nghèo nhất nhưng tất cả mọi người, dẫu người Hoa buôn bán, người bảo vệ hay người trí thức (hồi đó con quan niệm thầy cô giáo là những người gương mẫu nhất, trí thức nhất!) đều tỏ lòng yêu quý, kính trọng khi nhắc đến bố mẹ con.

Bố còn nhớ không, gia đình cụ Tổ trưởng tổ mình là tư sản với khoảng một chục người con cả dâu lẫn rể đều là thầy, cô giáo. Các cô chú ấy luôn giữ chúng con lại mỗi khi gặp ngoài đường với lời dặn: “Bố mẹ các cháu tốt lắm đấy. Các cháu phải luôn kính trọng bố mẹ!” Lúc ấy, con luôn vâng dạ nhưng trong đầu con lại bật lên câu hỏi: “Con cái nào chẳng phải kính trọng bố mẹ? Sao các cô chú lại dặn thừa như vậy?”. Và con đơn giản nghĩ rằng đó là một bài giảng đạo đức của các thầy cô giáo!

Con nhớ lại hồi năm 1969, sau đợt ném bom lần thứ nhất của Mỹ, những đứa trẻ tụi con từ những vùng sơ tán trở về Hà Nội, náo nức chuẩn bị ngày khai giảng niên học mới. Con đã hốt hoảng chạy về nhà mách bố là không có tên con trong số học sinh vào Lớp 4 Trường Thanh Quan. Bố cũng không tin và gặng hỏi hay con nhầm? Con mếu máo vì sợ không được đi học, vì bố không tin con.

Bố cau mày vẻ lo lắng rồi dắt xe đi đâu đó. Khi trở về, bố bảo:

“Có sự nhầm lẫn, ngày mai con đến trường dự khai giảng bình thường như các bạn”.

Con chạy khắp nơi để khoe và háo hức… Nhưng ngày hôm sau, mồng 3-9, khi con khoác cặp thì bố lại bảo ở nhà. Con òa khóc hỏi lại:

“Con không có tên vào học hả bố? “

Bố ôm con vào lòng, nhỏ giọng nói:

“Không, cả nước hoãn khai giảng vì Ông mất…”.

Mẹ con lặng lẽ gài lên ngực áo con mảnh vải đen. Con chạy ngay sang cô bạn hàng xóm khoe:

“Hôm nay tớ được nghỉ vì ông tớ mất”.

Nhỏ bạn con đang ngồi với ông nội nó, bảo:

“Tớ cũng được nghỉ học”.

Con ngạc nhiên nhìn ông nội nó rồi chạy về hỏi bố:

“Sao ông con mất mà bạn con cũng được nghỉ?”

Bố rơm rớm nước mắt, nghẹn ngào:

“Ông của cả nước, con ạ”.

Con nhìn vòng vải đen đính trên tay áo bố, mẹ, tò mò hỏi tiếp:

“Bố, mẹ đeo cái gì ở tay đấy ạ?”.

“Bố, mẹ để tang Ông”.*

Ngưng trích Đào Phương Liên.

CT Hà Đông: Dường như cô con gái ông Lê Đạt có mặc cảm về việc ông thân của cô không được người đời kính trọng nên cô kể hơi nhiều về chuyện những người cùng thời tỏ lòng kính trong ông thân cô, ca ngợi bố mẹ cô là người tốt, kể cả việc ca ngợi khơi khơi ở ngoài đường. Là con, cô Đào Phương Liên viết về ông thân của cô như vậy cũng đúng thôi, chỉ có chuyện cô kể ông Hồ Chí Minh là “Ông” của cô thì cần phải xét lại.

Cô Đào Phương Liên viết sai chăng? Chủ Tịt Hồ Chí Minh là “Bác” của cô, Chủ Tịt Hồ Chí Minh không phải là “Ông” của cô. Bởi vì lịch sử Đảng Bắc Cộng có ghi và bởi vì cô Đào Phương Liên vẫn ca hát:

Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ.

Và:

Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn các em nhi đồng?
Bác chúng em dáng cao cao, người thanh thanh,
Bác chúng em mắt như sao, râu hơi dài..!

Ông Hồ Chí Minh là Lão Ngoan Đồng. Không phải Lão Ngoan Đồng Cắc Ké Kỳ Nhông mà là Lão Ngoan Đồng Chính Cống Bà Lang Trọc. Lão Ngoan Đồng Cao Thủ Võ Lâm công lực cao hơn Thiên Sơn Đồng Mỗ, Diệt Tuyệt Sư Thái, Kim Hoa Bà Bà tới 5, 7 thành. Không chỉ 3 đời mà là 4 đời người dân Bắc Cộng gọi ông Hồ Chí Minh là “Bác”: Ông gọi Bác Hồ là “Bác”, con gọi Bác Hồ là “Bác”, cháu gọi Bác Hồ là “Bác”, chắt gọi Bác Hồ là “Bác.” Ông Hồ Chí Minh là “Bác” của ông bà Lê Đạt, ông Hồ Chí Minh là “Bác” của cô con ông bà Lê Đạt. “Ông” của cô “Cháu Ngoan Bác Hồ” Đào Phương Liên là “Ông Sịt-ta-lin.” Ông Nội Sịt, Ông Ngoại Sịt, Ông Dzởm của cô cũng là Ông Sịt luôn. Lịch sử Đảng Bắc Công có ghi và cô vẫn khóc:

Ông Sịt-ta-lin ơi.. ! Ông Sịt-ta-lin ơi.. !
Hỡi ơi.. Ông mất ! Đất trời có không ?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng.
Thương mình thương một, thương Ông thương mười !

Tạm dzứt chuyện ông bà Lê Đạt và cô con của ông bà cùng có chung một Ông Bác là Bác Hồ, nay mời quí vị đọc những Lời ông Văn Nghệ Sĩ Lê Đạt nói về « Những Đức Tình của Con Người. »

Trích bài viết trên báo Tuổi Trẻ, Sài Gòn, nhân dịp Thi sĩ Lê Đạt nhận Giải Thưởng Nhà Nước Bắc Cộng 2007 –

Lê Đạt: Tôi cho rằng một trong những đức tính đáng quý nhất của con người là lòng bao dung. Tôi dị ứng với mọi sự hằn thù và coi đó là một ung nhọt của nền văn minh thế kỷ XXI.

Lê Đạt nói trong Đoản Ngôn. Trích:

Dám nói những điều mình biết chống lại áp lực của xung quanh là một cử chỉ can đảm.

Dám không nói những điều mình không biết chống lại áp lực của bản thân có khi còn can đảm hơn.

Điều đáng buồn nhất đối với một nhà thơ là ly kỳ trong đời thực và tẻ nhạt trong đời chữ.

Ngưng trích Lê Đạt.

Quí vị vưà đọc bài cô Đào Phương Liên, con gái của ông Thi sĩ Lê Đạt viết về ông bố của cô, nay mời quí vị đọc bài ông Phùng Hà Phủ viết về ông bố của ông là ông Văn sĩ Phùng Cung, người bị bọn Tố Hữu giam tù không có án đến 12 năm

Phùng Hà Phủ. Viết trong bài Tựa tập truyện “PHÙNG CUNG. Truyện và Thơ.” Truyện xuất bản năm 2005 sau khi Văn sĩ Phùng Cung từ trần. Trang xv. Trích:

* Nhớ lại theo lời bố tôi kể “khi xảy ra chuyện”, buổi sáng hôm đó bố tôi được triệu tập tới cơ quan để họp. Đến nơi thấy mọi người xung quanh đều có ý lảng tránh mình, thậm chí không dám mời nhau uống chén nước. Ngay cả những ông bạn rất thân thường lui tới nhà cũng tìm cách lánh mặt. Ngay sau đó bố tôi bị đem ra kiểm điểm trước cuộc họp, mà thực chất gần như một buổi đấu tố thời “cải cách” của Liên Hiệp các Hội Văn Học Nghệ Thuật (gồm cả đại diện bên Văn Nghệ Quân Đội). Chủ trì cuộc đấu tố là các ông Võ Hồng Cương, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Hoài Thanh. Cảm tưởng đau xót và ngỡ ngàng nhất của bố tôi là những ông bạn thường ngày chơi thân với bố tôi đều tham gia vào cuộc “đấu tố”. Ngày hôm đó, ông Trần Dần là người đứng lên mở đầu cuộc “tố” để tiếp đó hai ông Lê Đạt và Hoàng Cầm “làm chứng dối” kể tội bố tôi. Tội chính mà bố tôi bị “tố” là mang lòng hận thù cách mạng sau cái chết của bố mình, lôi kéo người khác cùng về hùa để lăng mạ lãnh đạo và còn viết nhiều chuyện chưa in khác — Tất cả nội dung đều tập trung vào việc đả kích lãnh tụ và Đảng Cộng sản như: Dạ ký, Chiếc mũ lông, Quản thổi, Kép Nghế… Việc bố tôi bị bắt sau đó là do tham gia làm báo Nhân Văn nhưng theo mẹ tôi thì còn nhiều lý do khác nữa.

( .. .. .. )

Từ ngày ra tù, bố tôi sống như người bị câm, hầu như không quan hệ với ai ngay cả với các bạn văn quen biết cũ. Nhiều người trực tiếp “tố” bố tôi ngày xưa thấy hối hận về việc làm của họ nên họ tìm đến xin lỗi bố tôi. Trong dịp bố tôi và bác Phùng Quán đứng ra tổ chức Lễ Mừng Sống Dai cho ông Nguyễn Hữu Đang — Ông Đang là cán bộ văn nghệ, ông bị bắt tù 18 năm. Lúc này ông đã 81 tuổi. — Các ông văn nghệ đến dự Lễ Mừng rất đông, ông Lê Đạt cũng đến, ông đứng bên bố tôi và nói:

Cung ơi, dù có thế nào tao vẫn là bạn của mày, tao có lỗi với mày. Có gì, mày cứ gọi tao ra mà mắng.”

Ông Hoàng Cầm cũng đến gặp bố tôi, ngỏ ý muốn nối lại tình thân với bố tôi như xưa.*

Ngưng trích Phùng Hà Phủ.

Qua lời kể của Phùng Hà Phủ, chắc quí vị dư thấy bộ mặt thật “hèn, đểu” của ba “kiện tướng Nhân Văn Giai Phẩm Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm.” Tôi đã viết về họ khá nhiều và lâu rồi, nay tôi không muốn viết gì thêm về họ. Mời quí vị đọc về “Lời Nói và Việc Làm, Văn Phong và Nhân Cách” của một nhân vật nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ Việt ở Hoa Kỳ. Ông này xứng đáng được kể là “đối tác, đối tượng, đối thủ, đối đủ thứ” của Thi sĩ Bắc Cộng Lê Đạt. Về mặt “Lời Nói Không Đi Đôi với Việt Làm”, ông Nhà Văn VNCH này và Ông Thi sĩ Bắc Cộng Lê Đạt “kẻ tám lạng, người nửa cân.”

Nguyen Mong GiacTháng 3 năm 1976, bọn Lê Duẩn, Lê Đức Thọ phóng tay dzẹp bỏ cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Dzẹp bỏ ráo trọi, dzẹp bỏ nhẵn thín, dzẹp bỏ hằm ba lằng síu oát: Chính phủ Lâm Thời Miền Nam Việt Nam bị thủ tiêu ngang xương, tức bị cắt cổ không chút xót thương, bọn Huỳnh Tấn Phát, Lâm Văn Tết, Dương Quỳnh Hoa, Thanh Nghị Hoàng Trọng Qụy, Trần Văn Trà, Trần Bạch Đằng và bè lũ Mặt Trận Đuôi Chồn, trong một sớm, một chiều, bị cho đi chỗ khác ngồi chơi mà không sơi nước. Cùng trong Tháng Ba 1976, bọn Công An Thành Hồ, trong một đêm ra quân bắt khoảng 30 văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, những người thường được gọi ngắn gọn là “Văn nghệ sĩ Sài Gòn.” Trong số bị bắt có những ông văn nghệ sĩ gạo cội, tức hàng đầu, lại tức lão thành, như các ông Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sĩ, Trần Việt Sơn, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Mặc Thu, Nguyễn Sĩ Tế ..vv..vv.. và những ông văn nghệ nửa chừng xuân, tức nhàng nhàng nhỡ nhỡ như các ông Hoàng Vĩnh Lộc, Minh Đăng Khánh, Chú Tư Cầu Lê Xuyên, Trần Dạ Từ, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu, Cao Sơn, Sao Biển, Trịnh Viết Thành, Tô Ngọc, Hoàng Anh Tuấn, Thân Trọng Kỳ, Đằng Giao, Hồng Dương, Duyên Anh, Minh Vồ, Thanh Thương Hoàng, Thái Thủy, Choé, Lý Đại Nguyên, Ninh Chữ, Xuyên Sơn.. và nhiều ông nữa. Bà Văn Nghệ Nhã Ca bị bắt cùng một đêm với phu quân là ông Thi sĩ Trần Dạ Từ. Bà bị giam ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu khoảng một niên; bà được trả về Đường Tự Do, nay là đường Đồng Khởi, khi ông Trần Dạ Từ và các ông bạn ông lên tù xa rời Sài Gòn để đến Trại Tù Khổ Sai Gia Trung-Gia Lai ở Pleiku; bà Chu Vị Thủy, ái nữ của ông Chu Tử Chu Văn Bình, bị bắt cùng với phu quân là ông Đằng Giao. Bà Chu Vị Thủy bị giam ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu chừng bẩy ngày thì được thả về, nghe nói vì bà có con nhỏ. Tôi nghe nói về hai bà Tù Văn Nghệ Sài Gòn 1976 như thế, không biết có đúng lắm không, hai Bà bị bọn Công An Thành Hồ đưa vào Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu thì đúng, chỉ không biết thời gian các bà ở tù, được thả có đúng như tôi kể không? Tôi kể về thời gian tù đày của hai Bà với sự không dzè dzặt thường lệ.

Văn nghệ sĩ Sài Gòn bị bắt lai rai mãi trong Tháng Ba 1976. Tháng Năm 1976, bọn Văn Nghệ Việt Cộng Thành phố Hồ chí Minh mở một khoá gọi là học tập chính trị cho những văn nghệ sĩ Sài Gòn không bị bắt trong đợt khủng bố lớn Tháng Ba vừa qua. Những văn nghệ sĩ hàng đầu của Sài Gòn đi dzự khóa học tập này: Thái Thanh, Hoài Bắc, Thẩm Thúy Hằng, Nguyễn Thị Hoàng, Lệ Hằng, Lê Trọng Nguyễn, Nhật Tiến, Nguyễn Thụy Long ..vv..vv.. Thấy ăn khách, Tháng Bẩy 1976 bọn Văn Nghệ Thành Phố Hồ chí Minh mở khoá học tập số 2 cho đám văn nghệ sĩ Sài Gòn Hàng Thần Lơ Láo. Khoá này tổ chức lớn hơn, có tới 500 “văn nghệ sĩ Sài Gòn” tham dzự. Trong 500 “văn nghệ sĩ” có đến 400 vị là “văn nghệ sĩ bộ môn Cải Lương”, các vị chuyên viên “đề-co” phụ trách kê, dzẹp bàn ghế, phông màn, dàn đèn sân khấu cũng là những “văn nghệ sĩ cải lương”, các vị này rất hăng hái đến dự khoá học. Buổi khai mạc khoá học được tổ chức ở Nhà Hát Lớn Sài Gòn. Hà Huy Giáp, một nhân vật được kể là người trong hàng ngũ lãnh đạo văn nghệ Hà Nội đến dự lễ khai mạc.

Trong diễn từ khai mạc, ViXi Miệng Lưỡi Hà Huy Giáp nói:

Vì nhiều anh em văn nghệ Sài Gòn không thích nghe tiếng “ học tập cải tạo” nên chúng tôi gọi khóa học này là Khó Bồi Dưỡng Chính Trị.

Và:

Tôi gọi anh chị em là “đồng chí” vì chúng ta cùng một chí hướng làm cho nước ta giầu, dân ta mạnh, làm cho đồng bào chúng ta có hạnh phúc.

Học viên được chia thành Tổ: Tổ Thi Văn, Tổ Kịch Nói, Tổ Tân Nhạc, Tổ Cổ Nhạc, Tổ Điện Ảnh, Tổ Cải Lương. Tổ Thi Văn là Tồ Số 1, Tổ bị coi là quan trọng nhất, bọn CS cho rằng những văn nghệ sĩ sáng tác là thành phần nguy hiểm vì tự mình chống Cộng, không chống Cộng theo người khác. Bọn CS coi thường những diễn viên, kịch sĩ vì những người này không có tinh thần, được giao cho diễn vai trò chống Cộng thì chửi Cộng ra rít, được giao vai trò chửi Quốc Gia thì ra rả chửi rủa Quốc Gia.

Tổ Thơ Văn do Vũ Hạnh phụ trách, có vài cán bộ văn nghệ Cộng sản tham dự và ngầm điều khiển những cuộc gọi là thảo luận, trong số cán bộ này có Hà Mậu Nhai, Giám đốc Nhà Xuất Bản Văn Nghệ Thành phố Hồ chí Minh, có cán bộ tên là Nguyễn Phúc, có Sơn Nam làm phụ tá cho Vũ Hạnh. Sơn Nam lè phè, vô thưởng, vô phạt, được cho vô cho rậm đám. Cần viết rõ: Sơn Nam không ở trong phe Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn Hàng Thần Lơ Láo, anh ở trong phe Vũ Hạnh, tức những người trước là văn nghệ sĩ Sài Gòn nay cộng tác với bọn Cộng Sản.

Khoá Bồi Dưỡng có mấy tay được gọi là Lý thuyết Gia Văn Nghệ Bắc Kỳ Xã Hội Chủ Nghĩa Huy Cận, Hoàng Trinh, Vũ Khiêu đến nói chuyện. Những buổi nói chuyện về Lý Thuyết-Lý Luận Văn Nghệ Mác-xít được tổ chức ở Nhà Hát Lớn, chung cho 500 học viên. Nghe Lý Thuyết Gia nói xong, hôm sau các học viên họp riêng trong Tổ mình để làm cái việc gọi là “Thảo luận, tìm hiểu, đào sâu, đả thông tư tưởng, quán triệt ý nghĩa những lời lãnh đạo chỉ dậy, làm cuộc thu hoạch, nắm vững những cái gọi là “chân lý” do lãnh đạo truyền đạt”. Những buổi thảo luận riêng từng Tổ ấy có thư ký ghi biên bản nộp lên lãnh đạo.

Đến đây ông Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác, “đối thủ” của ông Thi sĩ Lê Đạt, vào chuyện.

Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác viết trong “Sống và Viết ở Hải Ngoại.” Trích:

Tôi phải xa lìa quê hương và phải tự mình chịu trách nhiệm đời mình, chịu trách nhiệm cái tự do của mình. Không còn ai bảo bọc tôi, không còn ai cấm đoán tôi. Thành công, tôi không biết khoe với ai. Thất bại, tôi không thể đổ thừa cho ai. Tôi trơ trọi, không mang trên người nhãn hiệu “nhân danh,” “đại diện,” “phát ngôn viên” để hưởng những ưu quyền (và ưu phiền) dành cho một đám đông, một cộng đồng xã hội.

Với ai khác không biết, với tôi, tôi thích được là mình, và không thích làm đại diện của bất cứ ai, không khoái nhân danh bất cứ ai, không muốn nợ nần bất cứ ai.

Ngưng trích Nguyễn Mộng Giác.

Không có gì lạ trong mấy lời trên đây. Thằng đàn ông nào mà không “phải tự mình chịu trách nhiệm đời mình,” có thằng đàn ông nào là đàn ông mà than “không còn ai bảo bọc, thành công không biết khoe với ai, thất bại không thể đổ thưà cho ai. Không thích làm đại diện của bất cứ ai, không khoái nhân danh bất cứ ai..!! Tôi phải xa lìa quê hương và phải tự mình chịu trách nhiệm đời mình, chịu trách nhiệm cái tự do của mình.” Phải xa lìa quê hương thì mới thế, còn sống trong quê hương thì không phải chịu trách nhiệm về đời mình, về tự do của mình hay sao? Khỉ nhắm. Nghe thì có âm thanh khiêm tốn một cách kiêu căng, hoặc kiêu căng một cách khiêm tốn, nhưng vô nghĩa, rỗng tuyếch. Người phải có tài đúc, có tư cách, có can đảm, nhất là phải có liêm sỉ mới có thể được người khác cho làm đại diện. Nhưng thôi, bỏ qua những lời rỗng tuyếch ấy, bài này được viết ra vì:

Một lời nói, một đọi máu.

Có rất nhiều lời ca tụng ông Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác. Đây là Lời Ca Số 1:

Tính cách người trí thức của Nguyễn Mộng Giác luôn nhất quán, nhân vật của ông là mẫu nhân vật lý tưởng. Đọc tập truyện “Thuyền viễn xứ” của Nguyễn Mộng Giác, hình ảnh nhân vật trí thức của thế hệ ông biểu hiện rõ quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người lý tưởng dấn thân. Trong hoàn cảnh bế tắc vẫn điềm tĩnh lạc quan, tìm cho mình một lối thoát khả dĩ thông minh nhất.

( .. .. ) Theo dõi quá trình sáng tác của Nguyễn Mộng Giác từ các tập truyện ngắn đến tiểu thuyết lịch sử như “Sông Côn Mùa Lũ“, “Mùa biển động“, chúng ta có thể nhận ra ngay mối ưu tư lớn nhất của ông là thái độ sống của người trí thức trước thời cuộc. Qua đó, phản ảnh con người nhà văn luôn băn khoăn về đất nước. Cho dù ở trong nước hay ra nước ngoài, ông vẫn là một người đáng kính, dám sống theo suy nghĩ của riêng mình.

Lời Ca Số 2:

Dù sao, tôi vẫn luôn yêu cái nụ cười hiền lành, lòng chung thủy, và trái tim nhân hậu của Nguyễn Mộng Giác. Đọc “Thư gửi cho đám mây xa, Tố Chân, Mẹ trong lòng người đi”, ta thấy được sự thiết tha của tác giả đối với những bản chất đẹp đẽ của con người.

Ông Mặc Lâm phỏng vấn ông Nguyễn Mộng Giác:

Mặc Lâm: Sau nhiều chục năm hoạt động trong lĩnh vực văn học thì ông rút ra được điều gì mà ông cho là có ý nghĩa nhất?

Nguyễn Mộng Giác: Thật ra thì tự xét về mình hay tự đánh giá mình thì cũng đáng ngờ lắm. Sau nhiều năm tôi thấy rằng trong mọi hoàn cảnh mình ráng sống và viết cho tử tế để không phải thẹn với lương tâm là điều mà tôi vừa ý nhất.

Ngưng trích những đoạn viết về Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác.

Trong những buổi họp Tổ của Tổ Thơ Văn, ông Nguyễn Mộng Giác, cũng là một Tổ Viên, một văn nghệ sĩ Sài Gòn Mặt Dzầy đến dự khóa học, nhưng ông làm Thư Ký của Tổ. Không ai bầu ông làm Thư Ký Tổ, ông xin với Vũ Hạnh cho ông làm Thư Ký, ông ngồi bên Vũ Hạnh, tức ông ngồi đối diện với bọn Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn Mặt Mo Hàng Thần Lơ Láo. Suốt khóa học 21 ngày, không một lần ông Nguyễn Mộng Giác ngồi chung với anh em, ông không nói chuyện với bất cứ anh em nào, ông luôn nép bóng, bám đít tên Vũ Hạnh. Ông tự nguyện làm tay sai cho chúng nó, ông làm những biên bản cuộc họp với những lời nịnh bợ, những lời nhận tội mà anh em văn nghệ sĩ không nói để làm vui lòng chúng nó. Ông làm thế để mong được Vũ Hạnh nó che chở. Vũ Hạnh nó không yêu cầu ông làm những việc ấy, ông tự nguyện làm tay sai cho nó.

Trong cái gọi là buổi học cuối cùng của Khoá Bồi Dưỡng Chính Trị II, Tháng 7 năm 1976, tôi được anh chị em trong Tổ Thơ Văn bầu làm đại diện để phát biểu trong lễ bế mạc. Vũ Hạnh yêu cầu bầu một đại diện dự khuyết, ông Nguyễn Mộng Giác được bầu.

Tổ Thơ Văn có An Khê Nguyễn Bính Thinh, Ngọc Thứ Lang, Nguyễn Ước, Phù Hư, Phan Nghị, Nguyễn Đình Toàn, Cao Nguyên Lang, Lê Minh Ngọc, Mai Anh, Phan Kim Thịnh, bà Mộng Tuyết, chị Kiều Oanh, Nguyễn Thị Minh Ngọc ..vv.. và ông Nguyễn Mộng Giác. Tất cả khoảng 30 người. Từ ngày đó đến nay các anh An Khê Nguyễn Bính Thinh, Ngọc Thứ Lang, Phan Nghị đã qua đời.

Trong một buổi họp Tổ ông Nguyễn Mộng Giác nói về Kim Dung. Tôi ngồi đó mà chẳng nghe gì cả, hồn trí để ở đâu đâu. Ông NM Giác nói lên bổng, xuống trầm theo kiểu thầy giáo giảng bài cho các em học sinh tiểu học, nên tôi thấy khó chịu, không muốn nghe. Ông nói xong, đến phần anh em góp ý, thấy Cao Nguyên Lang hỏi Nguyễn Mộng Giác mấy câu có vẻ gay gắt. Khi tan về, trong lúc hai anh văn nghệ sĩ Sài Gòn te tua lui cui mở khoá xe đạp, tôi hỏi Cao Nguyên Lang:

– Sao ông có ác cảm với hắn thế? Hắn nói gì thì nói, mặc hắn. Anh em cả..

Cao Nguyên Lang hậm hực:

– Trước kia nó viết trong số những độc giả của Kim Dung có những người từng đi kháng chiến nhưng thất vọng với kháng chiến nên bỏ về thành, nay nó nói những người đó là bọn phản bội kháng chiến. Nó trở giọng. Mình không nói làm sao được.

Khi được bầu làm đại diện Tổ tôi nghĩ đến chuyện tôi phải nói sao trước bọn cộng sản và trước anh em. 500 người họp lại trong Nhà Hát Lớn đường Tự Do. Tất nhiên tôi không thể nào nói bướng, tôi cũng không thể mở miệng ca tụng cộng sản hay tự nhận mình là tên ngu si bao nhiêu năm sống mắt mù, tai điếc nay nhờ Đảng mới được sáng mắt, sáng lòng. Anh em chúng tôi không bảo nhau nhưng suy bụng tôi ra bụng anh em, tôi chắc anh em tôi cũng như tôi, chúng tôi cùng nghĩ “Bị bắt buộc phải nói thì nói làm sao cho đỡ nhục, cùng lắm thì nói gì cũng được nhưng đừng nói mình sáng mắt, sáng lòng. Nói mấy tiếng đó nhục lắm.” Tôi viết những lời tôi nói ra một trang giấy, định sẵn nếu bọn Vũ Hạnh hỏi tôi định nói gì tôi sẽ đưa bản đó ra cho chúng xem, nhưng khi nói được nửa chừng tôi sẽ nói vài câu không có trong bản viết. Nhưng ngày bế mạc đến, không thấy bọn trong cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng hỏi gì đến tôi cả. Trước giờ các đại diện Tổ phát biểu, Ngọc Thứ Lang hỏi tôi:

– Mày có lên nói không?

Tôi trả lời:

– Tao không biết.

Tôi muốn nói “Tao không biết chúng nó có cho tao lên nói không.” nhưng tôi nghẹn họng, tôi chỉ nói được có ba tiếng “Tao không biết!”

Thế rồi đại biểu Tổ Một Thơ Văn lên phát biểu đầu tiên, người được gọi lên phát biểu là ông Nguyễn Mộng Giác.

Khi ấy nếu tôi không hèn, không nhát, không sợ, tôi phải đứng lên, tôi có quyền, đứng lên, cao giọng nói: “Tôi phản đối. Tôi là đại biểu Tổ Một, sao không cho tôi lên phát biểu..?” Nhưng vì hèn nhát, tôi bí xị ngồi đó. Tôi đành tự an ủi với ý nghĩ tôi hèn nhưng bọn Hội Văn Nghệ Giải Phóng còn hèn hơn tôi, chúng không dám để tôi nói, chúng không muốn để tôi nói nhưng chúng không dám nói thẳng với tôi: “Người trong Tổ bầu anh làm đại diện nhưng chúng tôi không cho anh nói..” Chúng có thể nói với tôi câu đó và tôi đành chịu nhưng chúng đã không dám nói. Có lẽ chúng cũng còn đôi chút hổ thẹn chăng! Chúng chọn ông đại diện dự khuyết tay sai của chúng, người chúng tin được, lên nói, chúng nghĩ tôi sẽ ngồi im không có phản ứng gì; chúng nghĩ đúng, tôi đã ngồi im đúng như chúng nghĩ. Chiều hôm ấy tôi mà không hèn, tôi đứng lên thì cả cái công trình 21 ngày lo cho văn nghệ sĩ Sài Gòn “bồi dưỡng chính trị” của bọn Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Hồ tiêu ra nước đái, bọn chúng sẽ bị Tố Hữu nó sát sà bông, chà bàn chải, chửi te tua, mặt thằng nào thằng ấy méo hơn cái bị rách. Chúng có thể bị Tố Hữu chửi: “Bọn vô tích sự. Làm có việc đó mà cũng không xong. Phải ngăn chặn trước chớ. Tại sao lại để thằng phản động đó nó nói như thế?”

Tôi là người được anh chị em trong Tổ Thơ Văn — Tổ được bọn Cộng sản cho là quan trọng nhất, vì là những người sáng tác — bầu làm Đại Diện để thay mặt anh chị em nói lên cảm tưởng sau khoá học. Nhưng tôi đã không được mời lên nói, anh chị em không một người nào hỏi tôi: “Sao anh không lên nói?” Rất có thể anh chị em nghĩ rằng tôi sợ, tôi không dám làm bổn phận người Đại diện Tổ, tôi từ chối lên nói, nên anh chị em thương hại không nỡ hỏi tôi:

– Chúng tôi bầu anh nói thay chúng tôi. Sao anh không lên nói?

Bốn, năm tháng sau ngày 30 Tháng Tư 1975 dân Sè Goòng kể cho nhau nghe chuyện:

Có người trông thấy nhạc sĩ Văn Vĩ trên xe đạp chạy veo veo trên đường Bàn Cờ, bèn níu lại hỏi:

– Kìa..! Phải ông là ông Văn Vĩ không? Ông sáng mắt bao giờ thế?

Nhạc sĩ Văn Vĩ trả lời:

Đảng vào Sài Gòn, mắt tôi sáng ra!

Ông Đại Diện Dự Khuyết Tổ Thơ Văn Khoá Bồi Dưỡng Chính Trị II, ông Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác, cũng “sáng mắt” như ông Nhạc Sĩ Văn Vĩ, buổi chiều trời mưa lạnh ở Sài Gòn Tháng Bẩy năm 1976, nói trước 500 người — trước những người tự nhận, được coi là văn nghệ sĩ Quốc Gia Sài Gòn, trước bọn Văn Nghệ Giải Phóng Thành Hồ — trong Nhà Hát Lớn:

– Cám ơn Đảng đã cho tôi được sáng mắt, sáng lòng!

Một lời nói, một đọi máu! Ba mươi năm rồi tôi vẫn nhớ từng lời từng người trong buổi chiều xưa ấy ở Nhà Hát Lớn. Đọi máu chiều xưa ấy ở mãi trong tim tôi. Ông Nguyễn Mộng Giác là đại diện Tổ Thơ Văn Khoá Bồi Dưỡng Chính Trị 2, ông nói “ Đảng cho ông sáng mắt, sáng lòng” tức là — Tất cả bọn văn nghệ sĩ trong Tổ Thơ Văn — trong có tôi — là “bọn mắt mù, tai điếc”, nay được Đảng cho “sáng mắt, sáng lòng.” Một lời nói, một đọi máu. Tôi đau lắm, tôi nhục với bọn Bắc Cộng.

Tan hàng lúc 5 giờ chiều. Tháng Bẩy vào thu, mưa lạnh bay. Mùa mưa trời Sài Gòn u ám. Tôi u uất đến độ không muốn đạp xe về ngay căn nhà tối của vợ chồng tôi ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, tôi đến nhà ông anh kết ngãi với tôi ở đường Ký Con để nói với ông vài câu, uống chạc của ông mấy ly rượu cho bớt sầu đời. Thấy tôi vào, ông hỏi:

– Làm cái gì mà mặt mũi cậu trông ghê như mặt tù cải tạo vậy?

Tôi rầu rĩ trả lời:

– Hôm nay tôi ngồi với một số người tự bốc cứt vứt lên mặt họ. Tôi không làm việc ấy nhưng vì tôi ngồi cạnh họ nên cứt từ mặt họ văng sang mặt tôi.

*****

Bài đã đủ dài. Tôi sẽ viết thêm trong một bài khác.

Advertisements

5 Responses

  1. Kính Bố Già CTHĐ,

    Cám ơn bố đã chân thành chia sẻ cái mặc cảm “hèn” với bọn hậu sinh chúng tôi. Tuổi đời tôi có lẽ còn nhỏ hơn cả cô Kiều Giang, con gái Bố, cho nên tôi chả dám khuyên bảo gì bố. Tôi chỉ dám có một vài dẫn chứng những sự kiện lịch sử có thật hầu chứng minh rằng BỐ KHÔNG HÈN TÍ NÀO CẢ.

    Bố bị văn-nô-tình-nguyện Nguyễn Mộng Giác chơi gác chiếm diễn đàn bằng cách đi ngã sau với văn-nô-chính-quy Vũ Hạnh nên bố tức vì không có một cơ hội chửi đổng mấy thằng ăn cướp VC? Đã thế khi nghe Nguyễn văn nô chụp mũ mình là thằng mù thằng điếc mà bố không mở miệng ra trả đũa lấy một lời nên bố đã mang mặc cảm mình hèn suốt đời?

    Tôi chả biết Nguyễn Mộng Giác là ai, chỉ nhớ mang máng là mỗi khi đọc những bài viết ký tên ông ta, tôi không bao gìờ đọc trọn. Bởi vì, văn thì nếu không dài giòng luộm thuộm thì ngắn ngủi cộc lốc, ý thì cao xa mù mờ quá, đọc mãi mà chả thấy ý ông ta ra làm sao. Đọc văn Nguyễn Mộng Giác giống như là phải hy sinh chui vào một đường hầm rồi cứ thế mà mò mẫm tìm đường, chả thấy một tí ánh sáng nào ở cuối đường hầm cả. Còn nhà văn thì hình như cũng chẳng thèm quan tâm xem văn mình có làm mấy thằng nhóc mới lớn như tôi ngửi nổi hay không, nhưng ông ta cứ… viết vung xích chó!

    Văn chương như thế, người ngợm như thế mà tình nguyện bợ đít bọn ăn cướp thì phải đạo lắm rồi. Bố tức tối với y làm chi cho mệt!

    Tôi cám ơn Bố vì bố đã “hèn” đúng chỗ, đúng chuyện và đúng mức! Trước một bọn ăn cướp đang cầm AK đằng đằng sát khí và cầm chắc cái bao tử và sinh mạng mình trong tay, chả ai dại gì đi làm anh hùng! Nói cho đúng lý thì bọn VC mới là mấy thằng hèn, Bố biết chửa? Chúng dư biết văn nghệ sĩ là những người trói gà không chặt, nhưng vẫn dùng những thủ đoạn dao búa côn đồ để khủng bố và làm họ khiếp sợ rồi thao túng họ. Ai đối mặt với bọn đầu trâu mặt ngựa này mà không “hèn”? Bố có biết, chính bọn cướp vẫn ca tụng nhau, gọi những trò lưu manh ấy là “bạo lực cách mạng”? Anh hùng thật

    – Nếu ngày xưa Phê rô không chối Chúa Giê Su ba lần thì lấy ai làm tông đồ lãnh đạo để đi giảng đạo sau khi Chúa về trời?

    – Nếu Hàn Tín không chịu nhục luồn trôn anh hàng thịt giữa chợ, ắt đã bị hại ngay từ thuở hàn vi, lấy ai làm nguyên soái cho Lưu Bang ra tranh hùng với Hạng Võ?

    – Nếu Nguyễn Trãi không nén đau thương khi tiễn cụ ông Nguyễn Phi Khanh ở cửa Nam Quan thì lấy ai làm tham tán để bày mưu cho Lê Lợi ? Không Lê Lợi thì ai sẽ khởi nghĩa chống giặc Minh để giành lại nền tự chủ cho đất nước?

    – Nếu Bố già không “hèn” thì làm gì mà sống sót đến giờ phút này để vạch mặt tố cáo những tội ác của bọn côn đồ mang tên là Đảng CSVN?
    “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn! “, huống chi chỉ là một văn sĩ trói gà không chặt như bố?

  2. NMG cùng một duộc như Trịnh Đá Bát Ăm cơm Quốc Gia, đào tạo từ trường đại học sư phạm Huế, ra trường, sau một thời gian dạy học, được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm những chức vụ Giám Học rôi Hiệu Trưởng trường Cường Đễ Qui Nhợn Nhiệm sở cuối cùng là chuyên viên nghiên cứu tại Viện Nghiên Cứu Giáo Dục, đặt gần trường Le Qúi Đôn, đường Hồng Thập Tự, Saigon năm xưa Nhưng cái hồn thì cứ vấn vương bên kia sông Bến Hải, NMG và Sâm Thương là những người chủ trương nhà xuất bản và tạp chi Văn Mới Tạp chí này đăng những bài viết đồng dạng như tạp chí Trình Bày và Đối Diện; sách in thì đại loại cỗ võ cho chính nghĩa “Chống Mỹ Cứu Nước” như cuốn sách Phạm Duy Đã Chết Như Thế Nào cũa Nguyễn Trọng Văn Đám sinh viên CS nằm vùng, tên gọi là Tổng sinh viên nhạc sĩ sáng tác cũa Tôn Thất Lâp, Trần Long Ẩn, Truơng Quốc Khánh,…đã dùng cuốn sách này đễ chôn sống sự nghiệp âm nhạc cũa nhạc sĩ Phạm Duy tại trường đại học Văn Khoa Saigon vào năm 71. Đấy, NMG có công to với cách mạng chứ sao không ? Nên cứ tưởng bở báo công với Kách Mệnh bằng cụm từ “sáng mắt, sáng lòng” Rõ khổ đã sáng thì ở bên bển luôn đi, lại bày đặt vượt biên rồi mang vợ con sang đất Mỹ mần chi rứa Sao không ở lại VN cho đến chết như Trịnh Đá Bát Cảm ơn CTHD đã điếm mặt chỉ tên Nhạc Bất Quần thời đại: Nguyễn Mộng Giác

  3. Mạn phép bổ túc một ý: khi ”thảo luận (ở) tổ” phải ”liên hệ bản thân sâu sắc”. Ông quên hay không thèm nhớ, hay ông và vzăng thi sĩ VNCH thuở đó ”thảo luận” khác tù ”cải tạo” chúng tôi?

  4. Gớm! Để cho thằng quản giáo chửi ra rả một bên, còn bên kia thì thằng VC cầm khẩu AK lăm lăm thì ai mà chẳng có những liên hệ bản thân sâu sắc” ? Nếu không thì có đào mả bố ông lên thì chưa chắc mấy thằng mất dạy này để cho ông yên, ông dư biết mà!

  5. Thời cuộc thay đổi quá tàn nhẫn. Một cuộc dâu bể khiến Saigon và miền nam tự do trong phút chốc phải chịu đựng sự tàn bạo của những kẻ mệnh danh là “sâu bọ lên làm người”.

    Chúng rầm rập, hùng hổ như môt bầy quỷ dữ. Tiếng loa phóng thanh của phường ra rả mỗi buổi sáng sớm và buổi xế chiều khi người ta đi làm về, liên tục phát đi những lời sỉ vả răn đe, trừng trị. Chúng quản lý bao tử người dân bằng cái chế độ tem phiếu thực phẩm, chúng rình mò từng hành động của bất cứ ai mà chúng nghi ngờ, chúng đe nẹt tinh thần. Mỗi tháng chúng họp tổ dân phố dưới sự giám sát của công an. Đám học trò chúng tôi còn bị quản thúc bằng “sinh hoạt hè” huống gì người lớn.

    Tôi nhớ rất rõ lời của cha tôi nói với mẹ tôi, khi ông ra về sau buổi tập trung cải tạo ở trường Võ Trường Toản, gần sở thú: “Ông cán bộ chính trị nói rằng không phải chỉ binh lính có tội với cách mạng mà cả những người buôn bán cho họ cũng có tội. Cô bán xôi, bà bán phở cho lính cũng có tội gián tiếp với cách mạng vì đã giúp cho lính no mà đánh kách mệnh. Anh xích lô nếu chở lính thì cũng vậy vì giúp cho lính. Chị thợ may hay anh công nhân đếu có tội. Chỉ có điều họ không trực tiếp phục vụ cho chính q Saigon nên cách mạng khoan hồng.” Rồi ông buồn bã, lo âu nhìn mấy anh em chúng tôi… Xin lỗi quý vị, vì lý do cá nhân, tôi không kể tiếp chỗ này. Thử hỏi quý vị, với cái lập luận truy cứu theo kiểu đó, cả miền nam VN đếu “mang tội với cách mạng”, thì “người viết chữ” còn “nặng tội” cỡ nào?

    Nhớ đến cái “phong trào kế hoạch nhỏ”, bọn ác ôn bắt đám con nít chúng tôi đi lượm giấy vụn, gom sắt phế liệu để xây dựng “đoàn tàu thiếu nhi Bắc Nam” và “khách sạn Khăn Quàng Đỏ”. Tụi học trò chúng tôi không tham gia “phong trào” thì bị phê hạnh kiểm xấu vào học bạ nhưng khi gặp chuyện rủi ro thì chúng lặng im như chẳng biết gì. Tôi vẫn còn bàng hoàng về cái chết của đám bạn học khi nhặt nhầm những quả mìn còn lẫn lộn đâu đó trong kho sắt vụn. Vậy mà cuối cùng, “đoàn tàu thiếu nhi Bắc Nam” và “khách sạn Khăn Quàng Đỏ” ấy cũng chỉ là bóng ma. …

    Có lẽ trong tâm trí người dân Sài Gòn lúc đó bị ám ảnh nặng nề bởi miếng ăn mỗi ngày và lo âu hồi hộp vì sự phán xét tội lỗi của đám ngông cuồng cộng sản.

    Giờ đây, theo bước chân của tác giả HHT qua những bài “Viết ở Rừng Phong”, tôi như nghe được từng hơi thở đau buồn, nhục nhả ê chề của người dân VNCH khi bị vong quốc.

    Cuộc sống u ám, tinh thần rã rời mỗi ngày vì đói khổ, lo sợ triền miên. Nỗi ám ảnh đó nào phải người dân Saigon lãnh trọn một mình, mà cả những kẻ khi xưa chuyên đi “đảo nước khuynh thành”, ngày nay cũng ngậm ngùi phải thay đổi thái độ. Trong bài viết “Tòa Đại Sứ xưa”, ông đã viết, trích:

    ”Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn hiện nay ở đường Hồng Thập Tự, nó nhỏ bé, một tầng, không có cổng, không vuờn trước, vườn sau, mặt tiền u ám, hãm tài, nghèo nàn, mạt rệp, trông thật thiểu não. Nó khác hẳn Toà Đại Sứ cũng của nước nó ở Sài Gòn trước năm 1975….

    Cứ nhìn cái gọi là Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ u tì ở Thành Hồ là thấy cái uy tín của Hoa Kỳ trong nước chủ nhà như cái giẻ rách.”

    Tác giả buồn cho thế thái nhân tình. Trích:

    “…tôi nhớ những năm 1981, 1982 có những buổi chiều tôi trên xe đạp đi ngang trước Dinh Độc Lập, nhìn vào Dinh thấy vắng teo bóng người, thấy một đàn gà thả rong, cảm khái tôi làm mấy câu:

    Phá Ngô, một lũ vào Dinh,
    Om sòm tướng lãnh mặc tình ba hoa.
    Đầy dinh vang tiếng hoan ca,
    Bây giờ chỉ có toàn là Vi Xi.

    Toà Đại Sứ của Đại Cường Quốc kiêm Đệ Nhất Cường Quốc Thế Giới Thế Kỷ 20 xây lên, đứng đó không đầy 10 năm! Không phải đến 100 năm toà Dinh Thự bê-toong bom đánh không đổ mới chuyển thành đất bằng, với Cọp Plastic Hoa Kỳ, thời gian “Thành, Trụ” chỉ là 10 năm!”

    Hết trích

    Tôi nhìn thấy một nỗi niềm ai oán vủa ông và cả thái độ hết sức tách bạch, phân minh về thiện ác.Vậy mà có kẻ chỉ nhìn vào một câu chữ của ông trong một bài viết, đã vội vàng phán xét! Ngay trong phần comment này, cũng còn có kẻ tán tận lương tâm khi hắn ta buông lời truy xét như một quan tòa cộng sản. Đúng là “Mắt mù tai điếc!”

    Thưa quý vị,

    Đọc bài viết tôi cảm nhận được phần nào (*) nỗi u uất của nhà văn HHT khi đó và càng kính phục sự khảng khái của tác giả khi viết lại cảm nghĩ chân thật của mình. Mắt mù tai điếc! Tác giả tự trách bản thân mình nhưng theo ý cá nhân tôi, câu thành ngữ này phải dành cho những kẻ thờ ma cộng sản thì đúng hơn.

    (*) Anlocson chỉ là kẻ hậu thế của miến nam, nên chỉ thấm thía được phần nhỏ nhoi trong cái khổ đau vô vàn lúc đó của người lớn.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: