• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Sáu Mươi Năm Qua

Giving Milk
 
Trước năm 1975, Hắn làm nhiều nghề, nhưng không có nghề nào ra hồn: Hắn là nhân viên trị sự tòa báo, tức lo về quảng cáo, Hắn làm giáo viên trường tư, nghe nói Hắn có một số năm làm trong ngành Tình Báo, Hắn là đàn em của ông Mai Đen. Nghĩa là về nghề nghiệp Hắn lem nhem. Những năm sau năm 1975 Hắn sống như đại đa số người Sài Gòn cùng thời, tức sống dzở, chết dzở, sống vô vọng và sống tuyệt vọng, sống hoang mang, sống vật vờ, anh nào mặt mũi cũng hắc ám , người ngợm hiện rõ sự vô duyên, vô phúc, ăn nói ấm ớ, rúm ró, sợ hãi.

Những năm 1978, 1979, tôi dzô nằm phơi rốn trong Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, ở ngoài, như nhiều người Việt Nam Cộng Hoà, Hắn vượt biên, Hắn chui thoát. Những ngày như lá, những tháng như mây theo nhau qua. Trong 15 năm tôi ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh trong biển đoạn trường cùng với nhân dân ở trong nước, ở nước ngoài Hắn vớ được chị vợ mới, chị này làm ăn khá giả, vợ chồng Hắn tích tụ được một số đô-la. Những năm 1991, 1992 Hắn là Việt Kiều Hồi Hương, Hắn về thăm Sài Gòn và Hắn gặp lại tôi ở Sài Gòn.

Về mọi mặt, Hắn là môt Việt Kiều không có gì khác cả triệu người Sài Gòn may mắn chạy thoát ra nước ngoài nay thành Việt Kiều có đô-la trở về thăm Sài Gòn: người ngợm Hắn mập mạp, sạch sẽ, da dẻ hồng hào, y phục bảnh bao, đồng hồ Rado, giày Adidas, thái độ tự tin, cử chỉ đường hoàng rõ ra là người có nếp sống văn minh, Hắn ăn nói, đi ở thoải mái, Hắn không hãi sợ bọn công an Việt Cộng, Hắn không phét lác về cách kiếm sống của Hắn ở nước ngoài, cũng không khoe của, không vênh váo, không chê bai cảnh sống của người Sài Gòn, Hắn ban phát đô-la cho các bạn cũ cách phải chăng. Hắn là một Việt Kiều không có gì đáng trách cả. Tôi không có gì phải nói về mặt Hắn là Việt Kiều.

Cho đến một tối, trong tiệc rượu do Hắn khoản đãi mấy người bạn cũ của Hắn, trong số có tôi. Rượu Tây, Ruợu Mỹ. Ngà ngà say, rượu bốc, Hắn nói:

“Tao thấy kỳ cục. Chúng mày là văn nghệ sĩ mà chúng mày không biết gì về Thơ Tù Ngục. Tao hỏi, thằng nào cũng không biết. Thế là thế nào?”

Hắn nói đến những lời Thơ “Tã trắng thắng cờ hồng.. Chính trị gia sọt rác.. Thằng Mác.. Tổ sư Bác..” Tôi có thấy tập Thơ này, do Trần Tam Tiệp từ Paris gửi về cho chúng tôi. Nhưng tôi không thấy tôi cần phải đọc tập Thơ ấy. Lời Thơ “Tã trắng thắng cờ hồng” làm tôi nghĩ: Làm chó gì có tã trắng mà thay cờ hồng? Lấy tã trắng ở đâu? Ở đấy mà thay. Còn lâu. Nó đang như cục đá trên đà bay lên. Nó sắp nhưộm đỏ cả trái đất. Theo quy luật bay lên của những đế quốc trong lịch sử, năm trăm năm nữa nó mới rơi xuống. “ Thường thì vì Hắn là người chi tiền, tôi vẫn để mặc Hắn muốn nói thì nói, nhưng lần này Hắn nói mà nhìn vào mặt tôi, như Hắn hỏi tôi vậy. Cũng ngà ngà say, tôi nói:

“Mày ở nước ngoài tự do, no đủ, mày đọc Thơ Chống Cộng, Thơ tả cảnh Ngục Tù Cộng sản. Chúng tao đang sống trong Địa Ngục, chúng tao đọc Thơ tả cảnh Địa Ngục làm gì? Vì chúng tao đang sống trong Ngục Tù Cộng Sản, chúng tao không đọc thơ văn về Ngục Tù Cộng Sản. Có gì lạ.”

Tôi phang Hắn:

“Mày chỉ hơn chúng tao vì mày chui thoát. Thời mày còn ở đây, mày hèn hơn chúng tao nhiều. Nếu mày phải sống ở đây như chúng tao, mày tệ hơn chúng tao. Ai đưa Thơ Tù, Thơ Ngục, Thơ Chửi Cộng cho mày đọc, mày lắc đầu quầy quậy. Không có tôi..! Không có tôi..! Sức mấy mày dám đọc.”

Tôi kể dzài dzòng về chuyện xẩy ra với tôi ở Sài Gòn những năm 1991, 1992 để nói lên chuyện “Người đang sống trong Ngục Tù Cộng Sản không cần đọc, không thích đọc Thơ Văn tả cảnh Ngục Tù Cộng Sản.” Và để kể đến chuyện này:

20 Nam QuaTác phẩm “HAI MƯƠI NĂM QUA. 1945 – 1964 Việc Từng Ngày” của tác giả Đoàn Thêm đến với tôi — nôm na là tôi có tác phẩm ấy — khoảng năm 1970 ở Sài Gòn, nhưng năm ấy tôi chỉ đọc sơ qua, tôi chẳng để ý gì đến những chuyện ghi trong sách. Thế rồi những ngày như lá, tháng như mây, 40 năm qua kể từ năm 1970, năm 2009 sống những ngày cuối đời ở xứ người, lần thứ hai tác phẩm HAI MƯƠI NĂM QUA đến với tôi. Lần này, trong những đêm buồn, phòng kín, đèn vàng, yên tĩnh, an ninh 500%, tôi cảm khái khi tôi nằm đọc tác phẩm. Phải nói là tôi đọc lần thứ nhất, không phải là đọc lại. Những đêm này tôi đọc HAI MƯƠI NĂM QUA để nhớ lại, để sống lại và để ngậm ngùi. Tôi như sống lại những ngày xưa qua những sự việc được ghi trong sách. Không chỉ tôi đã thấy mà tôi còn đã sống trong nhiều sự việc ấy. Nhiều việc tôi đã quên, nhiều việc tôi nhớ sai. Hôm nay, một ngày Tháng Năm 2009, ở Kỳ Hoa Đất Trích, tôi vinh danh ông Đoàn Thêm, tác giả HAI MƯƠI NĂM QUA, tôi cám ơn ông đã cho tôi có điều kiên nhớ lại đúng nhiều sự việc xẩy ra trong đời tôi.

Năm xưa khi làm cái việc rị mọ ghi lại những sự việc đáng ghi trong ngày, ông Đoàn Thêm đã làm một việc hữu ích cho đồng bào của ông. Với tôi, tác phẩm của ông thật giá trị. Chắc ông không ngờ 50 năm sau có kẻ đọc tác phẩm của ông, cảm khái thầm nói với ông:

“Thưa ông Đoàn Thêm, hôm nay — Tháng Năm 2009 — tôi gửi đến ông lời cám ơn của tôi.”

*****

Từ lâu tôi vẫn làm theo lời các nhà Quân Tử Tầu: “Lộc bất khả hưởng tận.” “Lộc” không thể hưởng hết, nhất là không được hưởng một mình. Tôi không có “Lộc Tiền Bạc”, tôi coi những Lạc Thú, những Cảm Khái tôi có khi tôi đọc sách là “Lộc Văn Nghệ, Lộc Văn Gừng” của tôi. Nên khi đêm vắng, phòng ấm, an ninh, đèn vàng, nằm đọc HAI MƯƠI NĂM XƯA, nhớ lại những ngày tháng đã qua, tôi cảm khái, tôi chia những cảm khái ấy với quí vị.

HAI MƯƠI NĂM XƯA 430 trang, ghi chuyện nước ta từ ngày 1 Tháng 1 năm 1945 đến ngày 31 Tháng 12 năm 1964. Sách ghi quá nhiều chuyện mà tôi muốn kể lại với quí vị, tôi không biết nên bắt đầu kể chuyện nào. Thôi thì kể chuyện nào cũng được, cứ kể dần dần, tôi làm công việc “Sao Y Bản Chính”, có chuyện tôi thêm lời bàn loạn Mao Tôn Cương , có chuyện tôi vi vút đi một đường văn nghệ văn gừng kiểu Kim Thánh Thán.

Bài này kể lại những chuyện xẩy ra trong năm 1945 và về Thủ Tướng Trần Trọng Kim, vị Thủ Tướng Thứ Nhất của dân tộc Việt Nam.

Mời quí vị đi vào những trang HAI MƯƠI NĂM QUA. Trích:

Ngày 12/1/1945. Hai phi cơ Mỹ ném bom Sài Gòn, bị súng phòng không Nhật bắn rớt.

– Chiến hạm Lamotte-Picquet của Pháp bị máy bay Mỹ đánh chìm.

– Tới nay, 40 tầu vận tải của Nhật đã bị phi cơ Đồng Mnh đánh đắm ở ngoài khơi vịnh biển Đông Dương.

– Các Tri Huyện Khóa 1944 được Toàn Quyền Decoux phát bằng ở Hà Nội. Ngưng trích.

Lời bàn: Các vị Tri Huyện Khoá 1944 là những vị Tri Huyện Cuối Cùng của Nền Quan Lại An Nam.

Tôi nghe nói đến Tầu Chiến Lamotte-Picquet qua anh bạn ký giả của tôi là anh Bùi Trọng Tấu. Những năm 1941, 1942 anh Trọng Tấu là lính thủy — marin — trên tầu Lamotte-Picquet. Ra lính, anh làm nhiều nghề: viết báo, dậy Nhẩy Đầm, nuôi Chó Cảnh, bán Cơm Tấm. Nghề nào của anh cũng chỉ giúp anh chị tạm đủ ăn. Vì không có con nên anh chị nuôi nhiều chó, anh chị chuyển tình thương vào những con chó anh chị nuôi, anh bảo tôi:

“Chó nó có nghĩa lắm. Ông đi khỏi nhà, khi ông về nhà các con ông chỉ mừng đón ông một lần trong ngày thôi, với chó một ngày ông về nhà mười lần, nó đón mừng ông mười lần.”

Vì yêu thương loài chó, anh đọc sách dậy nuôi chó và anh trở thành một thứ chuyên viên Nuôi Chó của Sài Gòn. Anh từng đến giúp cho con chó cảnh của Tướng Nguyễn Cao Kỳ nhẩy cái. Con chó đực nhẩy cái hoài nhưng không trúng. Một buổi sáng, khoảng năm 1970, tôi trên xe Vespa chạy trên đường Võ Tánh, thấy ở vỉa hè có con chó đẹp quá, con chó lớn, lông vàng có những đốm tròn đen, như con báo. Vì nhìn con chó đẹp, tôi thấy người dắt nó. Ký giả Trọng Tấu, ông bạn tôi, ông Cựu Thủy Thủ Tầu Chiến Lamotte-Picquet là người dắt chó. Con chó của ông Chủ Báo Đặng Văn Bé, nhà ở đường Võ Tánh, tôi quên tên tờ nhật báo của ông. Chuyên viên Trọng Tấu dắt chó đi, dậy nó cách đi theo ý người, đi, dừng lại, quay lại, rẽ phải, rẽ trái qua việc người dắt nhích cái dây buộc cổ chó.

Làm nhiều nghề nhưng đời sống kinh tế của anh chị Trọng Tấu vẫn không khá. Những năm 1970 anh chị mở tiệm bán Cơm Tấm ở nhà riêng trong hẻm đường Võ Tánh, anh quảng cáo Cơm Tấm của anh có 2 đặc tính:

Rẻ mà No.
Nhiều mà Ngon.

Ông cha ta thường nói: “Của Rẻ Của Ôi, Của đầy nồi là Của chẳng Ngon”, Cơm Tấm Trọng Tấu giá rẻ nhưng có nhiều nên chi ít tiền mà ăn được No, và Cơm Tấm Nhiều nhưng ăn Ngon. Theo tôi, lời quảng cáo Cơm Tấm như thế là nhất.

Khoảng năm 1973, 1974 anh chị Trọng Tấu sinh được một con gái. Anh đặt tên cho con là Diễm Châu, lấy từ điển “Lão bạng sinh châu” con trai già sinh ra ngọc. Tất nhiên anh rất yêu quí con gái anh. Anh tự chế cái ghế ngồi có mái che bằng lụa, đặt ghế lên xe đạp, cho Diễm Châu ngồi, Bố Già chở con gái nhỏ síu rong chơi trong thành phố.

Năm 1980, sau 24 tháng nằm phơi rốn trong Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, tôi trở về mái nhà xưa dzột nát và vòng tay gầy của người vợ hiền. Về nhà được vài ngày, tôi muợn cái xe đạp, đạp đi một vòng Sài Gòn, ghé thăm vài người bạn. Vợ một ông bạn mặt mũi rầu rĩ, than:

“Nhà người ta có cây người ta lo cho con người ta đi được, chúng tôi không có cây, đành chịu.”

Nghe bà than tôi chán mớ đời. Mình đi tù về, ghé thăm, không được một lời hỏi ở tù bao lâu, có khổ lắm không, bi giờ sống bằng gì? Vợ con ra sao? Có đưá con nào đi được không? Lại bị nghe than không có cây cho con đi chui! Đạp xe đến đường Võ Tánh, thấy ông bạn Trọng Tấu đứng bên lề đường. Dừng xe trao đổi vài câu, ông nói:

“Bây giờ ai mang một cái tay hay một cái chân của tôi ra khỏi nước, tôi cũng bằng lòng.”

Tôi lại càng chán. Tôi ở tù cộïng sản hai năm te tua, đói dzài đói dzẹt, thân xác, thần hồn nát hơn cái mền Sakymen mà cũng không đến nỗi sầu đời quá như ông. Buổi chiều Sài Gòn mùa mưa, trời nặng một mầu chì lỏng. Chán ơi là chán. 60 năm dzồi, nhớ lại chiều xưa, tôi vẫn thấy trong lòng dư âm, dư vị ngao ngán pha lẫn đắng cay.

Tác phẩm 20 Năm Xưa cho tôi biết tầu chiến Lamotte-Picquet bị phi cơ Mỹ đánh bom chìm ngày 12/1/1941. Đây là vụ phi cơ Mỹ đánh bom thứ nhất vào Việt Nam. Tôi chắc phi công Mỹ tưởng tầu Lamotte-Picquet là tầu Nhật nên mới đánh chìm. Vì tuy Pháp ở Đông Dương theo Nhật, nhưng phe Pháp với Đại tá De Gaulle, dù không có thực lực, vẫn ở trong phe Đồng Minh, vẫn được Anh Mỹ cho là một trong Tứ Cường đánh Đức Quốc-Xã, Tứ Cường Đệ Nhị Thế Chiến là Anh, Mỹ, Pháp, Nga.

Không biết ngày 12 /1/1941 khi tầu Lamotte-Piquet bị phi cơ Mỹ — từ Côn Minh, Trùng Khánh bên Tầu bay sang — đánh bom, chìm, có ông Lính Thủy Bùi Trọng Tấu trên tầu hay không. Cũng không biết tầu Lamotte-Picquet bị bom Mỹ đánh chìm ở đâu, Hải Phòng, Sài Gòn hay Vũng Tầu.

20 Năm Qua. Trích:

Ngày 7 /2/1945, Nam Vang bị phi cơ Mỹ oanh tạc: 100 người chết, 250 người bị thương, Sài Gòn-Chợ Lớn cũng bị ném bom: 151 người chết, trong số có 31 người Âu, 54 người bị thương, trong số có 6 người Âu.

Ngày 13/2 /1945. Tết Nguyên Đán Ất Dậu.

Chưa bao giờ rét như thế này. Tại Hà Nội, buổi trưa, hàn thử biểu xuống tới 4 độ.

Ngày 1/3 /1945. Nhiều người chết đói quá rồi. Theo nhiều tin ở các địa phương, dân chết đói hàng vạn người. Miền duyên hải Bắc Kỳ, nhiều nơi người chết đói cả nhà, cả xóm, hay chết gần hết cả làng. Dân quê không có ăn kéo về các thành phố mong kiếm được gạo. Xác người chết đói nằm ở nhiều ngả đường, ngay giữa Hà Nội.

Ngày 9/3/1945. Từ 20 giờ, quân Nhật nổ súng ở Hà Nội và khắp Đông Dương, đánh quân đội Pháp. Ở rất nhiều nơi, quân Pháp đầu hàng ngay. Nội đêm nay, Nhật làm chủ tình thế. Các viên chức cao cấp Pháp đều bị Nhật bắt.

Ngày 10/3/1945. Nhật thiết quân luật ở Đông Dương. Bộ Tư Lệnh Nhật ra Thông cáo: Nhật chỉ hạ Pháp, Nhật ủng hộ cuộc tranh đấu dành độc lập của các dân tộc Đông Dương.(.. .. ) Nhật sẽ giúp Việt Nam và các xứ Đông Dương thực hiện Độc Lập.

Lời tuyên bố của Hồ Nhựt Tân, “ Đảng Trưởng Đảng Việt Nam Ái Quốc” đăng trên Tạp Chí Tân Á Số 58:

Trong vùng Đại Đông Á mênh mông bát ngát, dưới ánh sáng lãnh đạo rực rỡ chói lọi của nước Đại-Nippon, dân tộc Việt Nam, gồm có năng lực đầy đủ hy vọng sẽ kiến thiết một quốc gia đúng theo qui tắc công bằng và tự do.”

Tạp Chí Tân Á Số Tết, đăng bài thơ Thiệp Xuân, trong có hai câu:

Một khi Tân Á dựng nên tòa,
Mỹ, Anh kình bóng, nhà nhà hoan hô.

17/4/1945. Vua Bảo Đại ủy cho học giả Trần Trọng Kim lập Chính phủ, cử Tổng đốc Phan Kế Toại làm Khâm sai Bắc bộ, chính khách Nguyễn văn Sâm làm Khâm sai Nam bộ, Bác sĩ Trần Văn Lai làm Đốc lý Hà Nội.

Thành phần Chính phủ Trần Trọng Kim:

Tổng Lý Nội Các Trần Trọng Kim

Bộ Trưởng Ngoại Giao Trần Văn Chương

— Tiếp Tế Nguyễn Hữu Thi

— Thanh Niên Phan Anh

— Tài Chánh Vũ Văn Hiền

— Nội Vụ Trần Đình Nam

— Y Tế Cứu Tế Vũ Ngọc Anh

— Tư Pháp Trịnh Đình Thảo

— Kinh Tế Hồ Tá Khoan

— Giáo Dục và Mỹ Thuật Hoàng Xuân Hãn

— Công Chánh Lưu Văn Lang.

Ngày 5/5 /1945. Khâm sai Bắc Bộ Phan Kế Toại mặc áo gấm đến tựu chức ở Phủ Thống Sứ cũ, được khá đông dân chúng tiếp đón.

– Tới nay, đồng bào Nam Bộ đã gửi giúp đồng bào bị nạn đói ở Bắc : tiền quyên 1600.550$, 11 ghe chở 130 tấn gạo.

Ngày 8/5/1945. “Cờ Quẻ Ly” được chính phủ Trần Trọng Kim chọn làm quốc kỳ, bài “Đăng Đàn” của Triều đình Huế được chọn làm quốc thiều. Về sau thay bằng bài “Tiếng Gọi Thanh Niên” của Lưu Hữu Phước, có lời ca đổi khác.

Ngày 11/6/1945. Bộ Trưởng Phan Anh cổ vũ thanh niên biểu tình trước Nhà Hát Lớn Hà Nội. Mỗi đoàn mang một thứ cờ riêng. Có lá cờ lớn nền vàng, với một dọc đỏ khá lớn ở giữa.

Ngày 1/8/1945. Đốc Lý Trần Văn Lai cho phá những tượng Pháp ở Hà Nội: Tượng Paul Bert, Jean Dupuis, Đầm Xoè ở Cửa Nam, Đài Kỷ niệm Lính Khố Xanh, Khố Đỏ.

Ngày 6/8/1945. Thành phố Hiroshima, Nhật bản, bị phá tan bằng trái bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ, 66.000 người Nhật chết.

Ngày 7/8/1945. Thủ Tướng Trần Trọng Kim từ chức, nhưng được lưu xử lý thường vụ.

Ngày 8/8/1945. Thành phố Nagasaki, Nhật bản, bị đánh bom nguyên tử.

Ngày 17/8/1945. Vua Bảo Đại gửi điện văn đến Tổng Thống Mỹ Truman, chính phủ Anh, và cả De Gaulle, yêu cầu bảo vệ Độc Lập của Việt Nam, điện văn ghi rõ: dân Việt Nam nhất quyết tranh đấu đến cùng để giữ nước.

Công chức Hà Nội tổ chức biểu tình khổng lồ, tuần hành qua các đường lớn, để tỏ ý chí bảo vệ đất nước. Cuộc biểu tình lại biến ra biểu tình ủng hộ Mặt Trận Giải Phóng. Các đoàn Dân Quân Giải Phóng chiếm đoạt chính quyền ở nhiều địa phương.

Ngày 18/8/1945. Bắc Bộ Phủ bị quần chúng tới bao vây. Khâm sai Phan Kế Toại vắng mặt, rồi loan tin từ chức.

Một Ủy Ban Nhân Dân thành lập tại Hà Nội, nhưng dân chúng chưa rõ những ai lãnh đạo.

Ngày 19/8 /1945. Quân Nhật vẫn canh gác trên nhiều ngả đường Hà Nội. Biểu tình lớn trước Nhà Hát Lớn, để nghe tuyên bố của Mặt Trận Cứu Quốc Việt Minh.

Dân Quân Giải Phóng và cờ đỏ, sao vàng xuất hiện ở nhiều nơi, chiếm đóng các công sở.

Đê Đông Lao ở Hà Đông bị vỡ, nước tràn ngập nhiều vùng.

Ngày 22/8/1945. Vua Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị.

Ngày 2/9/1945. Hồ chí Minh ra mắt dân chúng tại bãi Cột Cờ, Hà Nội, tuyên bố Việt Nam độc lập và hô các lời thề chống Pháp: Không làm việc cho Pháp, không đi lính cho Pháp, không tiếp tế cho Pháp.

Tạm ngưng Hai Muơi Năm Qua.

Co Que LyNgày 17/4/1945 ta có chính phủ Trần Trọng Kim, chính phủ đưa ra Cờ Quẻ Ly làm quốc kỳ. Như vậy là trước ngày đó nước Việt không có quốc kỳ, không có quốc ca. Nhưng quốc kỳ chính phủ đưa ra không được nhân dân dùng ngay. Có thể vì không được phổ biến rộng trong dân. Ngày 8/5/1945 Bộ Trưởng Thanh Niên Phan Anh tổ chức biểu tình ủng hộ chính phủ ở trước Nhà Hát Lớn, Hà Nội, những đoàn biểu tình mỗi đoàn mang một kiểu cờ khác nhau, không thấy nói có đoàn nào dùng kiểu Cờ Quẻ Ly làm quốc kỳ.

Cờ Quẻ Ly nền vàng có ba vạch đỏ, nhưng vạch đỏ ở giữa bị gẫy làm hai. Dân Việt không ưa kiểu cờ này, họ không muốn dùng nó làm quốc kỳ. Thủ Tướng Trần Trọng Kim, vị Thủ Tướng Chính Phủ Thứ Nhất cuả Việt Nam, rất bực vì lá cờ ông đưa ra làm quốc kỳ không những chỉ không được hoan nghênh mà còn bị chê bai, ông bị chế riễu. Tôi sẽ trích đoạn ông Trần Trọng Kim viết về Cờ Quẻ Ly trong Hồi ký “Một Cơn Gió Bụi” của ông mời quí vị đọc.

20 Năm Qua: Ngày 13/2/1945. Tết Nguyên Đán Ất Dậu.

Chưa bao giờ rét như thế này. Tại Hà Nội, buổi trưa, hàn thử biểu xuống tới 4 độ.

Hà Nội lạnh 4 Độ C thì Hà Đông lạnh đến 2 Độ C. Đã 3, 4 Tết Nguyên Đán, Tết nào cũng vậy, cứ sáng Mồng Một Tết là anh em tôi theo Mẹ tôi đến nhà Ông Ngoại tôi. Mồng Một Tết Ất Dậu, chúng tôi ở nhà. Người chết đói nằm đầy trên đường phố. Chỉ một mình tôi mang món quà Tết của thầy mẹ tôi lên mừng Ông Ngoại tôi. Nhà Ông Ngoại tôi cách nhà tôi chừng năm trăm thước. Tôi đi xe đạp, hai tay tôi lạnh buốt trên ghi-đông xe. Tất cả các nhà trong tỉnh lỵ đóng cửa im ỉm. Đường phố vắng tanh. Nhà Ông Ngoại tôi có mái hiên che một bên nhà, dưới mái hiên ấy có nhiều người nằm. Buổi sáng Mồng Một Tết Ất Dậu 50 năm xưa tôi thấy dưới mái hiên ấy có người đàn bà nằm — dường như bà đã chết — có em bé chừng 7, 8 tháng ngồi bên xác bà.

Ông Ngoại tôi là Cụ Phủ Nghiêm Duy Ninh, tri phủ hồi hưu. Chính phủ Trần Trọng Kim nâng tỉnh lỵ Hà Đông lên làm Thị Xã. Ông Ngoại tôi được chính phủ — qua ông Khâm Sai Phan Kế Toại – mời làm Thị Trưởng Thị Xã Hà Đông.

Giáo sư Trần Trọng Kim lên làm Thủ Tướng ngày 14/4/1945, ngày 7 Tháng 8, 1945, Thủ Tướng đã đệ đơn từ chức. Như vậy chính phủ Trần Trọng Kim chỉ làm việc nước được trong chưa đầy 4 tháng. Trong 4 tháng ngắn ngủi ấy một trong những việc chính phủ Trần Trọng Kim làm được mà tôi biết là việc lấy gạo từ miền Nam ra cứu đói người miền Bắc. Năm ấy quốc lộ và đường tầu hoả nối liền Nam Bắc bị phi cơ Mỹ đánh phá tan nát nhiều nơi, nhiều cầu bị bom đánh sập, xe ô tô, tầu hoả đến đó phải ngừng lại. Người, hàng hoá trên tầu xe phải xuống đi bộ, dùng sức người khiêng, qua chỗ cầu đổ, sang bên kia sông, lên tầu, xe chờ ở đó tiếp tục đi. Việc vận chuyển như thế gọi là “tăng-bo”, do tiếng transport của Pháp. Việc “tăng-bo” vất vả, mất công và tốn tiền. Vậy mà chính phủ Trần Trọng Kim, chính phủ Thứ Nhất của nước tôi, cũng mang được một số gạo khá lớn từ trong Nam ra Bắc. Gạo bán cho dân ở những thành phố. Ở Hà Đông, các ông Trưởng Khu Phố làm sổ kê khai dân số từng nhà trong khu, nộïp cho Toà Thị Chính. Nhân viên Thị Chính làm những phiếu mua gạo cho từng nhà, gọi là Bông — “Bon”, tiếng Pháp — mỗi người trong Bông được mua giá nhà nước một số ký-lô gạo. Những tiếng Gạo Bông, mua Bông đến trong ngôn ngữ Bắc Kỳ từ đó. Tôi được trưng dụng đến Toà Thị Chính làm những Bông Mua Gạo. Những tờ Bông bằng giấy cứng mầu xanh, in đàng hoàng.

Bên cạnh Hai Mươi Năm Qua, tác giả Đoàn Thêm còn có tập Hồi Ký “Những Ngày Chưa Quên” trong có chương ông viết về Nạn Đói năm Ất Dậu.

Xin quí vị đừng nóng, tôi sẽ trích đăng chương Nạn Đói Ất Dậu, cùng nhiều chương khác, trong “Những Ngày Chưa Quên” để quí vị đọc.

Advertisements

5 Responses

  1. 1. “Cũng không biết tầu Lamotte-Picquet bị bom Mỹ đánh chìm ở đâu, Hải Phòng, Sài Gòn hay Vũng Tầu”. Trang 288 của cuốn sách “The official chronology of the U.S. Navy in World War II By Robert Cressman” có đoạn: ” At or near Saigon [……..], French ships due to their proximity to Japanese vessels, also under come attack: light-cruiser Lamotte-Picquet is sunk,..” NÔm na diễn giải là: chiếc tàu Pháp Lamotte- Picquet chạy gần gần mấy chiếc tàu Nhật nên bị máy bay Mỹ dội nhầm, “tên bay đạn lạc”. Còn chiếc tàu này bị chìm gần hay ngay tại Sài Gòn

    2. “Con chó của ông Chủ Báo Đặng Văn Bé, nhà ở đường Võ Tánh, tôi quên tên tờ nhật báo của ông.” Ông Đặng Văn Bé là chủ nhiệm báo Thách Đố

  2. Lamotte-Picquet bi. My~ da’nh chi`m o? Ca’t La’i , so^ng Do^`ng Nai , 12/1/1945 chu’ kho^ng phai?1941va co’ chu’`ng 10 li’nh Pha’p va 60 ngu’o’`i li’nh ha?i qua^n VN ( les marins annamites ) che^’t . Nam 1944 ta`u na^`y du`ng no’i hua^’n luye^.n l’inh ha?i qua^n VN . Ca’c b.an co the^? va`o web lamotte.picquet.free.fr . va`o pha^`n l’ Indochine , tourane ( Da` Na?ng ) xem hi`nh Vua Ba?o Da.i vie^’ng tham ta`u na^`y do mo^.t thu?y thu? Pha’p chu.p tre^n ta`u .

  3. May’ bay My~ Task Force 38 tu`ha`ng kho^ng ma^? u ha.m o ? bie^?n Thai Bi`nh Duong du’oi quye^`n Pho’ De^` Do^c John S Mc Cain , cha cua o^ng Mc Cain .

  4. Trong bài viết này, bác Hoàng Hải Thủy có nói về sự kiện ngày 17/4/1945 về Quốc Kỳ của VN thưở ban sơ. Anlocson mạn phép bác bổ sung thêm một ít tư liệu từ bài viết của tác giả Tôn Thất Bình: (Trích)

    “…Người vẽ ra lá quốc kỳ màu vàng ba sọc đỏ không phải là danh họa Lê Văn Đệ mà là danh họa Tôn Thất Sa. Cuộc thảo luận biểu quyết lá quốc kỳ tại Huế chứ không phải tại Hồng Kông. Khi hội nghị nhất trí lựa chọn xong lá quốc kỳ vàng ba sọc đỏ thì phái đoàn mới đi Hồng Kông bái kiến và đệ trình lá cờ quốc gia lên vua Bảo Đại. Cờ vàng ba sọc đỏ được vua Bảo Đại chính thức chấp thuận là quốc kỳ của nước Việt Nam.”

    … Quốc kỳ thời Nội Các Trần Trọng Kim là cờ “quẻ LY”. Lúc vẽ lá quốc kỳ này cụ Tôn Thất Sa khựng lại vì không đồng ý. Cụ bàn với Linh mục Trần Hữu Thanh, Dòng Chúa Cứu Thế rằng quẻ LY có gạch giữa bị đứt đoạn là điềm không lành cho Đất Nước. Chữ LY có một nghĩa khác là ly tán. Đó là điềm xui xẻo cho Đất Nước trong khi đang kêu gọi nhân sĩ bỏ chiến khu trở về hợp tác. Cụ đề nghị đổi quẻ LY thành quẻ CÀN , nghĩa là nối lại gạch giữa bị đứt đoạn. Linh mục Thanh góp ý nên bổ túc thêm con rồng ở giữa lá cờ vì dân tộc Việt Nam là con Rồng, cháu Tiên. Lá cờ theo ý nói trên được trình lên Hội Nghị trước khi qua Hồng Kông bệ kiến vua Bảo Đại. Ông Trương Văn Huế, Tổng Thanh Tra Công Chánh miền Trung , Chủ tịch Liên đoàn Công giáo VN thời đó, không đồng ý có thêm con rồng ở giữa cờ vì cầu kỳ. Đa số tán thành ý kiến bỏ con rồng. Ngày 21-12-1947, phái đoàn do cụ Trần Văn Lý dẫn đầu qua Hồng Kông bệ kiến vua Bảo Đại và đệ trình lá cờ quẻ CÀN thay cho lá cờ quẻ LY . Vua Bảo Đại chấp thuận.Từ giờ phút đó lá cờ vàng ba sọc đỏ trở thành lá quốc kỳ của Việt Nam. Cơ duyên của cụ Tôn Thất Sa với là cờ vàng là ở chỗ được nhờ vẽ bức tranh đoàn người tiến lên theo lá cờ (quẻ LY), đã giúp cụ nghĩ ra lá quốc kỳ (quẻ CÀN) hôm nay…” (Hết trích)

    Tác giả còn minh họa hình và giải thích: (trích)

    Quẻ “Thuần Càn”, đồ hình |||còn gọi là quẻ Càn tức Trời là quẻ số 1 trong Kinh Dịch

    Quẻ “Thuần Ly”, đồ hình |:| còn gọi là quẻ Ly, là quẻ thứ 30 trong Kinh Dịch (Hết trích)

    Thấy trong sách kinh dịch có nói: “Đoài hạ kiền thượng chi tượng” là chỉ quẻ Ly, ý nói “dùng nhu khắc cương”, Anlocson đoán có lẽ cố Thủ Tướng Trần Trọng Kim muốn dụng ẩn ý cho hình đồ của lá cờ rắng:

    “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
    Lấy chí nhân để thay cường bạọ”
    (trích từ “Bình ngô Đại cáo” của Nguyễn Trãi)

    Liệu có phải ngài cố Thủ Tướng đã cho một ẩn dụ hay về mặt ý nghĩa, nhưng xét về mặt tượng hình lại là điềm báo ứng không tốt, không hay? Và nếu theo cái linh cảm bất an của cố họa sỹ Tôn Thất Sa khi bắt đầu hoàn chỉnh lá cờ VNCH lúc sơ khởi, thì “điềm chẳng lành” của của lá cờ quẻ Ly ngày xưa đã ứng nghiệm như giai đoạn thời gian sau 1975 vừa qua rồi chăng? …

    Giờ đây, khi đọc được thông điệp tốt lành về Quốc Kỳ , tức lá cờ hiện nay của chúng ta, qua nghị quyết HCR258 ở Texas, cùng với bản tin Cộng Đồng Việt nam ở Washington D.C. vừa bẻ gãy ngọn cờ máu ô nhục của cộng sản Việt Nam vào cuối tháng 5 này, Anlocson biết rằng Lá Cờ Vàng Chính Nghĩa (2), Tinh Thần của Việt Nam Cộng Hòa đang trỗi dậy mạnh mẽ.

    Tôi nguyện cầu cho Lá Cờ Vàng chính nghĩa của dân tộc mình bay xa và vươn cao hơn nữa trên khắp thế giới tự do, để những người dân mất nước ngay tại chính quê nhà được khơi sáng thêm niềm tin về sự chiến thắng của Cờ Vàng Đại Nghĩa. Và mong sao một ngày không xa, Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa của CHA sẽ trở về với quê MẸ mong chờ, như khúc khải hoàn ca của Trời Đất giao hòa (2). Ngày đó, lá cờ ngoại bang của Việt cộng (3) sẽ bị vùi sâu xuống đáy sâu địa ngục trong đêm tàn cộng sản.

    Cảm ơn bác Đào văn Lễ (Đả Đảo CSVN) đã gửi đến một thông điệp tốt lành về Quốc Kỳ của chúng ta.

    (1) Lá Cờ Vàng Chính Nghĩa bắt nguồn từ thời Hai Bà Trưng (năm Canh Tý 40), cờ vàng đời Gia Long (1802), và cờ Long Tinh đời Khải Định (1916), cờ vàng sọc đỏ hình quẻ Ly (1945) của chính phủ Trần Trọng Kim (1947).

    (2) Trong kinh dịch, quẻ Càn tượng trưng cho Trời (THIÊN) trong vũ trụ, và tượng trưng cho Cha trong gia đình. Càn còn là hình đồ lá cờ của chúng ta hiện nay. Quẻ Khôn tượng trưng cho Đất (ĐỊA) trong vũ trụ, và tượng trưng cho Mẹ trong gia đình.

    (3) Cờ đỏ của cộng sản VN là mẫu ăn cắp nguyên si (copy 100/100) từ cờ tỉnh Fuzhou của Trung Quốc vào năm 1933- 1934.

    Nếu có sai sót, mong các bác chỉ dạy thêm đế Anlocson học hỏi.

    Kính

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: