• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

SỐNG và CHẾT ở XỨ NGƯỜI

Đêm khuya, xứ người, phòng vắng, đèn vàng, với tôi việc nằm đọc sách là một lạc thú. Khi đọc bản kê khai 36 cái gọi là Lạc Thú Ở Đời của Ông Tầu Kim Thánh Thán, tôi théc méc khi thấy ông không kể việc nằm Đọc Sách Đêm Khuya là một Lạc Thú.

Vua Ham NghiTrong những đêm đọc sách Lịch Sử ở Rừng Phong, khi gặp những trang Sử ghi những chuyện xưa làm tôi xúc động, tôi thường đi một đường cảm khái, úp quyển Sử lên ngực, nhắm mắt, mơ màng, tưởng nhớ người xưa, tưởng tượng chuyện xưa.

Như khi tôi gặp những Trang Sử này:

Hốt Tất Liệt đem quân đánh Nhà Tống, sau khi chiếm được nước Đại Lý — nước của Đoàn Dzự Nhất Dương Chỉ trong Thiên Long Bát Bộ, ở Vân Nam — Hốt Tất Liệt cho Sứ Giả sang nước Nam ra lệnh cho Vua Trần Thái Tông nước Nam phải thần phục Mông Cổ.

Vua Trần Thái Tông không nghe, bắt Sứ Giả giam trong ngục, sai Trần Quốc Tuấn đem binh lên trấn giữ biên giới phía Bắc. Bấy giờ là năm Đinh Tỵ — 1257.

Tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai đem quân từ Vân Nam tiến vào nước Nam. Trần Quốc Tuấn vì ít quân, ngăn chặn không nổi quân địch ở biên giới, phải rút về Sơn Tây. Quân Mông Cổ đánh vào kinh đô. Vua Trần phải chạy về sông Thiên Mạc, Hưng Yên.

Quân Mông vào thành, tìm được ba sứ giả Mông Cổ bị trói trong ngục. Một sứ giả đã chết. Ngột Lương Hợp Thai tức giận, cho quân tha hồ cướp phá, giết người.

Thấy tình thế nguy cấp, Vua Trần hỏi ý Thái Úy Trần Nhật Hiệu. Lúc đó vua tôi ngồi trên thuyền. Thái Úy không nói, chấm ngón tay vào chén trà, viết lên mặt bàn hai chữ Hán:

– Nhập Tống.

Vào Tống” tức là Đầu Hàng.

Vua Trần lại hỏi ý Thái Sư Trần Thủ Độ. Thái Sư nói:

– Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin Vua đừng lo.

Năm ấy Quân Mông Cổ bị quân dân nước tôi đánh bại lần thứ nhất.

Năm Giáp Thân — 1284 — 30 năm sau trận thua năm Đinh Tỵ — 1257, Vua Nguyên sai Đại Tướng Thoát Hoan đem quân sang đánh nước Nam. Nay Thái Sư Trần Thủ Độ đã từ trần, nước Nam còn Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Vua Trần Nhân Tông thấy thế giặc quá mạnh, đề nghị với Hưng Đạo Vương:

– Hay là ta hàng, cho nhân dân đỡ bị chết thảm?

Hưng Đạo Vương nói:

– Vua thương dân nhưng còn đất nước thì sao? Vua muốn hàng xin Vua chém đầu tôi trước.

Cũng là lời nói, nhưng lời nói của Thái Úy Trần Nhật Hiệu làm mất nước, lời nói cuả Thái Sư Trần Thủ Độ, lời nói của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm cho nước Nam còn đến hôm nay, một ngày Tháng Bẩy năm 2009.

Quân Tử Tầu gọi loại lời nói này “Nhất ngôn hưng bang, nhất ngôn táng bang.”

Tôi cảm khái vì những Trang Sử Anh Hùng của dân tộc tôi, tôi cũng cảm khái vì những Trang Sử Bi Thảm của Lịch Sử tôi, như chuyện:

Năm Quí Hợi — 1323 — Vua Trần Minh Tông ra lệnh cấm quân sĩ không được vẽ mình như trước. Nước Nam bỏ thói Vẽ Mình từ đấy.

Trần Minh Tông có lòng nhân, yêu thương dân, nhưng yếu về cách xử thế, tin lời quyền thần, làm chết oan Huệ Võ Vương Trần Quốc Chân.

Trần Quốc Chân là thân phụ Hoàng hậu, lại có công đánh Chiêm Thành. Vì Hoàng hậu chậm sinh hoàng tử nối nghiệp trong khi có bà Phi đã sinh con trai. Triều thần chia làm hai phái. Phái Trần Khắc Chung — người là đặc sứ vào thành Đồ Bàn cứu bà Huyền Trân về nước — muốn lập con bà Phi làm Thái tử, phái Trần Quốc Chân muốn chờ cho Hoàng hậu có con. Trần Khắc Chung bày mưu vu cho Trần Quốc Chân tội phản nghịch. Vua cho bắt Quốc Chân hạ ngục, lại không cho ăn uống để Quốc Chân phải chết. Hoàng hậu được tin thân phụ sắp chết, xin Vua cho vào ngục thăm cha. Vua cho phép. Biết thân phụ khát nước, Hoàng hậu nhúng nước một cái áo trong, mặc vào người đi vào ngục. Bà vắt nước trong áo cho thân phụ của bà uống. Uống xong chút nước, ông già chết.

Chuyện Ông Bố Vợ Vua bị Vua bắt chết vì khát nước trong tù, chuyện bà Hoàng hậu mặc áo ướt nước vào ngục thăm cha, cởi áo vắt lấy nước cho ông già uống, làm tôi kinh sợ vì những âm mưu, những tàn ác hại nhau vì tranh dành quyền lực của người ta.

Tôi đọc Sử Nước Tôi không nhiều lắm, nhưng có đọc. Mãi đến năm tôi bẩy mươi tuổi, tôi mới đọc và xúc đông về chuyện vị lão thần Trần Quốc Chân là Quốc Trượng — Bố Vợ Vua, Bố của Hoàng hậu — bị Vua Trần bắt giam và bắt chết đói; tôi xúc động vì chuyện Bà Hoàng hậu nước tôi mặc cái áo ướt nước vào ngục thăm cha, bà vắt nước thấm trong áo cho ông già uống. Chuyện đó nếu được cho vào phim ảnh sẽ làm cảm động người xem. Trong Kho Tàng Chuyện Tù Đày của Nhân Loại, tôi thấy chuyện đó thật đặc biệt.

Sự kiện ghi trên trang Sử — Đại Việt Sử Ký Toàn Thư — về tục Dân Việt Vẽ Mình làm tôi thắc mắc:

Sử nước tôi ghi ngày xưa có thời tên nước tôi là Văn Lang. Sáách Sử giải thích: sở dĩ nước có tên Văn Lang là vì người nước tôi thời xưa ấy sống nhiều nhờ việc xuống biển bắt cá, thường bị bọn cá dữ — gọi là giao long — làm hại nên phải xâm những hình vẽ lên người cho giống loài cá. Nhà Vua bắt toàn dân phải xâm mình. Đó là một điều Luật bắt buộc. Cho đến thời Nhà Trần, một ông Vua Trần sợ đau nên không chịu xâm mình. Vua bỏ xâm, nhân dân bỏ theo. Tuc Xâm Mình mất đi trong dân tộc tôi. Khi đọc chuyện Sử ấy tôi théc méc: Nếu Xâm Mình là một tục lệ của quốc gia, lại là một điều Luật bắt buộc, sao tôi không thấy dấu vết gì của nó trong dân tộc tôi? Dù dân tộc tôi không xâm mình nữa đã mấy trăm năm, chắc phải có dấu vết gì của nó ở trong nước, trong dân tôi chứ?

Và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi — Sử viết bằng chữ Hán, tôi đọc bản dịch Tiếng Việt –

Năm Quí Hợi — 1323 — Vua Trần Minh Tông ra lệnh cấm quân sĩ không được vẽ mình như trước. Nước Nam bỏ thói Vẽ Mình từ đấy.

“Vẽ mình” khác với “Xâm mình.” “Vẽ mình” là lấy mực vẽ lên da thịt, những hình vẽ này không giữ được lâu. Ngày xưa ông cha tôi “vẽ mực lên mình” hay dùng kim nhọn chấm mực thích lên da thịt mình?

Tôi sẽ làm những bài Sao Y Bản Chính, trích những chuyện tôi thấy hay, những chuyện chỉ riêng Sử Dân Tôi có, những chuyện cảm động, lãng mạn, bi hùng, để quí vị đọc.

Trong một lần cảm khái khi đọc Sử tôi nghĩ đến chuyện Dân Tộc Việt Nam của tôi là dân tộc có nhiều Ông Vua bị ngoại nhân bắt cầm tù nhất. Dân tộc tôi cũng là dân tộc có nhiều ông Vua phải bỏ nước đi sống và chết ở nước người nhất.

Ông Vua Việt Nam Thứ Nhất, đang làm Vua nước tôi, bị người Tầu bắt sống, đưa sang Tầu, chết ở bên Tầu là Hồ Quí Ly.

Năm 1400, Hồ Quí Ly cươp ngôi Vua Trần, lấy tên nước là Đại Ngu. Vua Hồ ở ngôi được 7 năm. Tướng nhà Minh Trương Phụ, Mộc Thạch đem quân sang đánh, bắt sống được Vua Hồ Quí Ly và con Vua là Hồ Hán Thương, đưa sang Tầu.

Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn.. Những Triều Vua nối tiếp nhau theo dòng thời gian. Ông Vua Việt Nam Thứ Hai phải bỏ nước sang sống ở bên Tầu và chết ở đất Tầu là Vua Lê Chiêu Thống.

Vua Lê Chiêu Thống không bị quân Tầu Nhà Thanh bắt sang Tầu, Vua bỏ nước đi sang Tầu theo bại quân Nhà Thanh. Vua tự ý lưu vong. Vua là Tổ Sư Lưu Vong của những người Việt Lưu Vong trong Thế Kỳ 20.

Thế rồi tôi có Ba Ông Vua Nhà Nguyễn vì chống Thực Dân Pháp, muốn dành lại Đất Nước Độc Lập, bị Thực Dân Pháp bắt sống, bắt làm tù nhân đưa sang sống ớ xứ người.

Ba Ông Vua ấy của tôi là Vua Hàm Nghi, Vua Thành Thái, Vua Duy Tân.

Tôi có một Ông Vua chết trận. Đó là Vua Trần Duệ Tông. Năm Đinh Tị 1377, Vua đích thân cầm quân vào đánh Thành Đồ Bàn của người Chiêm Thành. Vua Chiêm lúc ấy là Chế Bồng Nga dùng mưu bỏ thành trống để dụ Vua Trần vào thành. Vua Duệ Tôn tử trận trong trận đánh Thành Đồ Bàn. Không thấy Sách Sử nước tôi ghi xác Vua tử trận có được mang về nước hay không!

Vua Trần Duệ Tông là Ông vua Việt Nam Duy Nhất chết trên mặt trận. Tôi thấy lạ vì Lịch Sử Nước Tôi, và người nước tôi, không vinh danh Vua Trần Duệ Tông. Rất nhiều tên Vua lẩm cẩm, vớ vẩn, không công trạng với dân nước được dùng làm tên đường ở Sài Gòn, Thủ Đô Nước Tôi — như Hiền Vương, một ông Chuá Nhà Nguyễn — nhưng chúng tôi đã quên Vua Trần Duệ Tông.

Nhiều người Việt đi theo Vua Lê Chiêu Thống sang Tầu, tất nhiên với hy vọng có ngày theo Vua về nước, nhưng rồi chết trong cô đơn, tuyệt vọng và sầu tủi theo Ông Vua của họ — Vua Hèn, Vua Tồi cũng là Vua của họ — Tên tuổi và cuộc đời của những ngườiViệt không may phải bỏ nước ra đi và chết ở xứ người đó chìm mất trong dòng thời gian.

Trên một Trang Sử tôi tìm được bài thơ về một trong những người đi lưu vong theo Vua Lê Chiêu Thống: Trung thần Nguyễn Văn Quyên.

Ông Nguyễn Văn Quyên là người hầu giữ cương ngựa cho Vua Lê Chiêu Thống — không phải người nuôi ngựa mà là người hầu việc khi Vua ngồi trên lưng ngựa, dắt ngựa cho Vua — Ở Bắc Kinh, Vua Lê hay đến những công sở của Triều Đình Nhà Thanh, xin họ giúp cho Vua được trở về nước. Triều Đình Nhà Thanh khi đã giao hảo với Vua Quang Trung, không còn muốn giúp Vua Lê nữa. Nhưng vua Lê cứ đến xin sỏ làm phiền họ nên họ thấy Vua đến là họ xô đuổi. Một hôm trước cổng một công sở, Vua Lê bị bọn lính Tầu canh cửa xô đẩy, hạ nhục, Ông Nguyễn Văn Quyên chửi chúng nó:

– Sao chúng mày dám hỗn với Vua tao?

Ông đánh một thằng. Bốn, năm thằng xúm lại đánh ông một trận nhừ tử. Ông bị chúng đanh hộc máu, chết.

Nhiều năm sau, trong dòng thời gian vô tình, một người Việt không để lại tên, làm bài Thơ Tưởng Niệm Ông Nguyễn Văn Quyên:

Giữ ngựa tuy hèn cũng Chúa, Tôi.
Gan trung sôi tiết sợ gì ai.
Cường quyền Chúa gặp quân vô lễ,
Quốc thể tôi liều bịch mấy thoi.
Dùi dắng đã không tình cứu nạn,
Hung hăng còn giở thói khinh người.
Anh Ngô biết mặt thằng này chửa?
Giữ ngựa tuy hèn cũng Chuá Tôi.

Người nước tôi có nhiều ngừời là Thi sĩ, nhiều Thi sĩ nước tôi làm nhiều Thơ, nhưng Thi sĩ nước tôi làm thật ít Thơ về những vị Anh Hùng, Liệt Sĩ. Ba Ông Vua Nhà Nguyễn vì nhân dân, vì đất nước hy sinh ngôi Vua, tuy việc lớn không thành, nhưng cũng đáng để người sau tôn kính.

Trong Tàng Kinh Các Èo Uột của tôi ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích có tập Thơ “Việt Nam Tranh Đấu Sử” của bà Việt Nữ Hoan Châu. Như tên của tập Thơ, trong “Việt Nam Tranh Đấu Sử” chỉ có Thơ về những Anh Hùng, Liệt Sĩ Viêt Nam , có những Vị tôi thấy chưa bao giờ được con cháu làm Thơ ca ngợi, như:

Đại Tướng Lý Thường Kiệt.

Nổi danh Đại Tướng bậc anh hùng.
Vì nước hy sinh, dậy tác phong.
Phá Tống bao phen bừng khí thế,
Bình Chiêm mấy độ lập kỳ công.
Quế Châu tiếp viện quân trùng điệp.
Như Nguyệt truyền Thơ, chí hộc hồng.
Nam Quốc Sơn Hà danh đã rạng,
Nghìn Thu Sử Sách rực trời Đông.

Liệt sĩ Phạm Hồng Thái

Cảm thấy dân Nam bị nhiễu nhương,
Hy sinh dũng cảm rất phi thướng.
Tiếng bom Sa Điện không thành quả,
Tuẫn tiết Châu Giang rất thảm thương.
Vận nước suy vi vì Pháp thuộc!
Giang sơn nghiêng ngả bởi Tây dương.
Anh hùng ái quốc ghi thành sử,
Đảm lược hên ngang chống bạo cường.

Tôi trích đăng ở đây mấy bài Thơ Tưởng Niệm Ba Ông Vua Nhà Nguyễn đã hy sinh Ngôi Vua vì Dân, vì Nước trong thi phẩm “Việt Nam Tranh Đấu Sử” :

Ba Vua Nước Việt bị lưu đầy!
Gió thảm, mưa sầu, hỡi có hay?
Thành Thái Quốc Vương vừa bị phế,
Duy Tân theo gót thảm thương thay.
Hàm Nghi gian khổ châu khôn cạn,
Dân chúng lầm than lệ nhỏ đầy.
Căm phẫn thực dân tàn ác quá,
Ba Vua Nuớc Việt bị lưu đày.

Vua Thành Thái và Vua Duy Tân.

Thực dân truất phế phải lưu đày!
Mãi tận Phi Châu, Trời có hay?
Giặc Pháp chiếm quyền gây thảm họa,
Vua Nam mất nước ngậm chua cay.
Cha con đều một giây oan nghiệt,
Chồng vợ đôi đường thảm thiết thay.
Nước Việt bao năm gian khổ mãi,
Đồng tâm đoàn kết trả thù này.

Thơ của Bà Việt Nữ Hoan Châu nhắc tôi nhớ đến Những Ông Vua của tôi chết trên Xứ Người, cảm khái, tôi viết bài này.

Xứ Người Xa Thật Xa Quê Hương, Một Ngày Tháng Bẩy Năm 2009.

Advertisements

4 Responses

  1. Đi tìm mộ vua Hàm Nghi,Ngô công Đức,Vietbao.vn 7/12/2003.Nghĩa trang làng Thoniac,cách Paris 6 giờ xe. Trich:”Khi chúng tôi vào nghỉa trang,đi tìm từng hàng,để ý những mộ to,cứ nghĩ mộ vua rất đẹp và lớn…Hoá ra mộ thật đơn giản.Trên mộ có ghi tên 5 người:Vua Hàm Nghi,sinh1871 tai Huế mất 1940 tai Alger,các công chúa Như Mây,Sala,hoàng tử Minh Đức và bà Marie Jeanne Delorme,1852-1941,vợ vua Ham Nghi,không ghi tước vị “Ngưng trích.Tác gỉả cho biết vua Hàm Nghi còn môt người con gái cuối cùng,công chúa Nha Ly nay cũng đã trên 90.

  2. “…nấm mộ đơn sơ tại nghĩa trang của nhà thờ ngay tại Chabrignac,kém cả những ngôi mộ xây đủ hình khối ở ngay bên cạnh…tấm bia mặt trước ghi mấy dòng tiếng Pháp:Ici repose l’impératrice d’Annam,née Jeanne Mariette Nguyễn Hữu Thi Lan.Mặt sau tấm bia khắc dòng chữ Hán:Đại Nam Nam Phương Hoàng hậu chi mộ.”31/03/07 CAND

  3. Bài của Bố Già làm tôi cảm khái vô cùng!

    Xin thêm một anh hùng va một lời tuyên bố vô cùng bi hùng và khảng khái. Đó là đại tướng Trần Bình Trọng. Lời tuyên bố mắng thẳng vào giặc nhà Nguyên để đáp lại lời dụ hàng của chúng khi ông bị giặc bắt là:
    “Ta thà làm quỉ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc!”

    Khốn cho vận nước điêu linh của chúng ta. Toàn bộ bọn lãnh đạo Hà Nội đồng lòng bán đứng đất nước cho TQ hòng được giặc bảo hộ đảng và chế độ. Đến nỗi không thằng nào có đủ khí phách và liêm sĩ để nói nổi một lời, dù chỉ là chống đối yếu ớt trước bọn xâm lược Trung Cộng!
    Phải cấp thời đạp đổ chế độ này trước khi quá trễ! Phải đập tan bè lũ côn đồ đang âm mưu bán rẻ tiền đồ tổ quốc để cầu danh lợi.

  4. Ông HHT ơi,

    Đọc bài của ông cảm động quá!

    Chỉ mong ông nhiều sức khỏe để cống hiến cho bạn đọc những dòng cảm khái như thế.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: