• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Con Nai Vàng Ngơ Ngác

Trong Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh có đoạn viết về Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Lưu Trọng Lư và Nguyễn Vỹ.

Mời quí vị đọc:

Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh. Trích:

Nhân dịp tác phẩm “Vỡ Đê” của Vũ Trọng Phụng được tái bản, ngày 25 tháng 3 năm 1983, vợ chồng Sơn-Hằng — Hằng là con gái, Sơn là con rể Vũ Trọng Phụng — tổ chức một cuộc liên hoan tại nhà riêng ở Mọc Giáp Nhất.

Lu Trong Lu Nhiều nhà văn được mời tới dự: Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Bùi Huy Phồn, Lưu Trọng Lư và vợ con, Như Phong, Hoàng Trung Thông,ông Lưu, nhà nhiếp ảnh từng quen biết Vũ Trọng Phụng, bà Tuệ, vợ Nguyễn Tuân, hàng năm đều có đi viếng mộ cụ Tú Lan, nhân đó cũng viếng mộ Vũ Trọng Phụng ở gần đấy. Vì thế bà Tuệ cũng đến dự liên hoan.

Trong khi chờ đợi dọn tiệc, người ngồi trong nhà, người ở ngoài sân trò chuyện với nhau. Như Phong đến góp chuyện, kể năm 1937, anh hai mươi tuổi, có đến nhà Nguyễn Tuân ở Thanh Hoá. Rồi Như Phong nhắc đến bài thơ của Nguyễn Vỹ ví “nhà văn Annam khổ như chó”. Nguyễn Tuân cười, nói:

Bây giờ nên sửa lại là nhà văn Việt Nam khổ như sư tử, sư tử bị bẻ hết vuốt, hết móng”.

Rồi ông chuyển luôn sang giọng tâm tình:

Ngày xưa, nhà văn có tình với nhau lắm, hơn bây giờ. Cái đêm trước ngày đưa ma Phụng, chúng tôi không ai ngủ được. Cánh ở Gia Quất, cánh ở nhà chú Trô Mã Mây… Không ai ngủ được”.

Tôi nói với Nguyễn Tuân:

Bài ‘Một đêm họp đưa ma Phụng’ bác viết rất hay”.

Ông nói:

Bây giờ không viết được như thế nữa”.

Các mâm cơm được dọn ra. Như Phong, Nguyễn Tuân, Hoàng Trung Thông, Lưu Trọng Lư ngồi một mâm, vừa nói chuyện vui, vừa khích bác lẫn nhau.

Hoàng Trung Thông nói anh không tán thành lời bình của Nguyễn Tuân về câu thơ Kiều:

Bóng trăng đã xế, hoa lê lại gần”.

Nguyễn Tuân nói:

Cái đó tuỳ ý mọi người, tôi không bắt ai nghĩ hay thấy theo tôi cả”.

Bỗng nhiên mọi người thấy Lưu Trọng Lư đùng đùng bỏ ra về. Hình như là do Như Phong khen Nguyễn Vỹ thế nào đó. Lưu Trọng Lư chạnh lòng, vì do Nguyễn Vỹ mà Lưu Trọng Lư bị mang tiếng là ăn cắp Thơ của Nhật. Bài Tiếng Thu.

Đang ăn, Lưu Trọng Lư nhất quyết bỏ về, bắt con không ăn nữa, đưa bố về ngay.

Ngưng trích Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh.

Nguyen Vy Nhà Văn Vũ Trọng Phụng tạ thế ngày 13/10/1939. Ngày con gái và con rể Nhà Văn tổ chức cái gọi là “Liên hoan” trên đây là ngày 25/3/1983. Gọi đó là bữa “ăn mừng” đúng hơn. Năm 1959 Lão Đảng viên Cộng sản Hoàng văn Hoan — Lão này tuổi Đảng chỉ kém thâm niên có Lão Đảng viên Hồ chí Minh — viết bài vu cáo Vũ Trọng Phụng làm “mật thám cho Tây, đi đến tiệm hút bằng xe ô-tô của Sở Mật Thám”. Tên tuổi của Vũ Trọng Phụng bị nhục mạ — không tên văn nghệ sĩ nào ờ Hà Nội thời ấy dám nói nửa lời minh oan cho Vũ Trọng Phụng — tất cả tác phẩm của Vũ Trọng Phụng bị cấm in, cấm lưu hành.

Thế dzồi.. Ba mươi năm qua. Trong thời gian ấy Hồ chí Minh đi tầu suốt, Lão Đảng Hoàng văn Hoan hục hặc với Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, bỏ trốn sang Tầu, chết già bên Tầu, rồi Tượng Ông Nội Lenin, Tượng Ông Ngoại Stalin của bọn Cộng sản bị dân Nga cho ra nằm ở bãi rác; ở Việt Nam Tuợng Hồ chí Meo sắp theo gót “Nhị vị Lão đồng chí tiền bối” ra nằm bên cầu tiêu, bọn Cộng Hà Nội Chuyên Theo Đuôi Ngửi Dzắm bị bắt buộc phải để những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng trở lại với nhân dân. Vì vậy, nhân tiểu thuyết Vỡ Đê của Vũ Trọng Phụng được tái bản, người con gái của Nhà Văn được hưởng khoản tiền tác quyền của Nhà Văn, bà làm bữa ăn mời một số người từng quen biết Nhà Văn đến nhà chung vui.

Hồi Ký NĐ Mạnh:

Rồi Như Phong nhắc đến bài thơ của Nguyễn Vỹ ví “nhà văn Annam khổ như chó”. Nguyễn Tuân cười nói:

Bây giờ nên sửa lại là nhà văn Việt Nam khổ như sư tử, sư tử bị bẻ hết vuốt, hết móng.

Ngưng trích.

Nguyễn Tuân không nói bậy, không nói nhảm mà là nói ngu. Bọn Văn Nô Bị Rọ Mõm ở Hà Nội có tên nào là Sư tử, có bao giờ là Sư tử? Toàn một lũ Chó bị Rọ Mõm. Nguyễn Tuân đúng ra phải nói như vầy:

Nhà văn Annam xưa khổ như chó, nhà văn Annam bây giờ khổ hơn chó, vì đã khổ như chó mà còn bị rọ mõm.”

Hồi ký NĐ Mạnh:

Rồi ông — Nguyễn Tuần — chuyển luôn sang giọng tâm tình:

Ngày xưa, nhà văn có tình với nhau lắm, hơn bây giờ. Cái đêm trước ngày đưa ma Phụng, chúng tôi không ai ngủ được. Cánh ở Gia Quất, cánh ở nhà chú Trô Mã Mây… Không ai ngủ được.

Ngưng trích.

Nguyễn Tuân nói đúng, nhưng không nói tại sao mấy ông văn thi sĩ lại không ngủ được. Số là đêm trước ngày đưa đám Vũ Trọng Phụng mấy ổng họp lại làm hai nhóm, một nhóm đi hát cô đầu ở Gia Quất, một nhóm nằm hút thuốc phiện ở tiệm Chú Tầu Trô đường Mã Mây. Đến tiệm thuốc phiện nằm thì tất nhiên phải hút thuốc phiện, đi hát cô đầu thì cũng hút thuốc phiện. Nghe hát ít, hút thuốc phiện nhiều. Mấy ông nằm hút suốt đêm, chờ sáng về Hà Nội đưa đám ma Nhà Văn Vũ Trọng Phụng. Hít tô phê cả đêm, làm sao mấy ông ngủ được. Các ông không ngủ được đâu phải vì thương tiếc ông Văn hữu Vũ Trọng Phụng mà là vì các ông bị Nữ Thần Phù Dzung không cho ngủ.

Nhà văn Nguyễn Vỹ được nhắc đến trong bữa tiệc mừng, ông đã viết gì làm cho “Lưu Trọng Lư bị mang tiếng là ăn cắp Thơ của Nhật?” Ông Nguyễn Vỹ viết có đúng không? Thi sĩ Lưu Trọng Lư, tác giả bài Tiếng Thu, có ăn cắp Thơ Nhật thật không? Và nếu có, ông ăn cắp như thế nào?

Mời quí vị đọc bài viết của ông Nguyễn Vỹ:

Văn Thi Sĩ Tiền Chiến. Hồi ký của Nguyễn Vỹ

Lưu Trọng Lư không thích chơi với Thế Lữ, mà lại ưa ông Phan Khôi, và các anh Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật, Vũ Trọng Phụng, Lê Tràng Kiều. Với giọng nói trọ trẹ đặïc biệt Quảng Bình, và nụ cười đôi khi khinh miệt, đầy nét trào phúng, Lư ngạo văn Nguyễn Công hoan là “văn gõ đầu trẻ”, anh chê bọn “thi sĩ” hay “tâng hót” Thế Lữ là “lũ chạy hiệu”, gặp những người này không bao giờ anh bắt tay họ.( .. .. )

Một đêm cuối năm 1939, bắt đầu chiến tranh thế giới, tôi đang ngủ trên căn gác trong căn nhà của một người bạn ở phố Quan Thánh, những ngày này tôi đang lẩn trốn vì được tin Mật Thám Pháp muốn bắt tôi. Khoảng 2 giờ sáng có tiếng đập cửa ầm ầm, ông bạn chủ nhà ra bao-lơn nhìn xuống đường thấy chiếc xe kéo đậu trước cửa nhà, trong xe có người nằm nghẹo đầu.

Bạn tôi lên tiếng hỏi:

“Ai? Có chuyện gì đấy?”

Anh phu xe ngước mặt lên, đáp:

“Có ông say rượu nói là bạn ông muốn vào ngủ nhờ. “

“Bạn tôi là ai?”

Anh phu xe không biết tên. Người nằm trên xe cũng không trả lời. Bạn tôi hỏi ý tôi, tôi nói anh cứ xuống xem ai. Một lúc sau, bạn tôi dìu một người lên lầu. Người này bèo nhèo, sộc sệch. Tôi nhìn xem. Đó là Lưu Trọng Lư.

Chúng tôi đỡ Lư nằm lên phản, lấy chăn đắp cho anh, người anh lạnh như đá, rồi lấy dầu xoa bóp cho anh. Một lúc sau, tôi khẽ gọi:

“Lư..! Cậu làm sao thế?”

Lư trả lời từng tiếng:

“ Tao.. ăn.. thịt.. chó.. Tao.. hút ..thuốc phiện.. Cho.. cái.. chậu.. Tao.. nôn..”

Bạn tôi lật đật đem cái chậu vào. Tôi đỡ Lư ngồi dậy. Bấy giờ tôi thấy Lư vừa nồng chua mùi rượu vừa khét mùi khói thuốc phiện. Tôi biết Lưu Trọng Lư hút thuốc phiện nhưng tôi không ngờ anh nghiện nặng đến thế. Một bạn làng văn thường nằm với Lư trên gác một tiệm hút ở Chợ Hôm, cho tôi biết có đêm Lưu Trọng Lư hút đến 100 điếu. Tôi không biết chuyện đó có đúng hay không, nhưng tôi nghĩ cả trăm làn khói phù dung thấm vào tim phổi Lư như thế làm gì mà anh chẳng mỗi ngày một gầy đét. ( .. .. .. )

Thời Việt Minh nắm chính quyền, nghe nói Lưu Trọng Lư làm cán bộ Công An ở Huế, anh đi bắt thuốc phiện lậu. Nghe mà tức cười.

Năm 1949, tôi có đọc mấy bài thơ ký tên Lưu Trọng Lư trên vài tờ báo xuất bản trong chiến khu miền Trung. Tôi không tin những bài thơ đó là thơ của Lư. Sau năm 1954 tôi được đọc một bài của anh trong một tập sách của cơ quan văn hoá Việt Cộng, sách xuất bản tại Hà Nội. Tôi không ngạc nhiên nữa nhưng hết sức buồn. Thi sĩ mơ mộng của Mùa Thu dịu hiền nay ca tụng sự chém giết, say sưa kêu gọi máu.. máu.. máu!

Than ôi..! Thế cuộc đảo điên! Đến nỗi Lưu Trọng Lư hiền lành, thân mến của tôi cũng không còn là Lưu Trọng Lư nữa.

Lưu Trọng Lư thích làm thơ hơn là viết truyện. Khi phải viết tiểu thuyết, Lư không viết hăng say như Lan Khai, không chăm chú như Vũ Trọng Phụng, không cặm cụi như Nguyễn Tuân.

Những truyện dài, truyện ngắn của Lư đều giống như những bài thơ bị gượng ép kéo dài ra bằng văn xuôi, tất cả nhân vật, tình tiết đều thơ mộng. Nếu tiểu thuyết của Lưu Trọng Lư có phần nào hấp dẫn chính là vì sắc thái thơ mộng bề ngoài của chúng hơn là những tình tiết, bố cục ở nội dung.

Lưu Trọng Lư thuộc hạng thi sĩ bẩm sinh, loại người sống bằng mơ mộng hơn là thực tế, nhiều khi quên cả thực tế.

Có một lần ở nhà trọ của Lư ở phố Hàm Long, tôi cười hỏi anh:

“Lư ơi.. Bài thơ Tiếng Thu có thật là của cậu không?”

Lúc ấy có Nguyễn Xuân Huy ngồi đó, Lư “cười như nắc nẻ”:

“Thằng Vỹ này mơ mộng thật. Mi tưởng bài đó của Thế Lữ à?

Tôi nói:

“Thế Lữ làm sao nổi một bài thơ như thế. Tao hỏi mày vì tao có đọc bài thơ của một thi sĩ Nhật Bổn giống hệt bài thơ của mày, bài thơ Nhật cũng có tựa đề là Tiếng Thu.”

Lưu Trọng Lư ngó Nguyễn Xuân Huy:

“Huy.. Mày thấy thằng Vỹ nó có điên không?”

Huy hỏi tôi:

“Thật không? Bài thơ Nhật ra sao?”

Tôi trả lời:

“Mày muốn chép tao đọc cho mà chép. Đó là một bài Tanka nổi tiếng.

Oku yama ni.
Momoji fumi wake.
Naku shiku no
Koe kiku toki zo
Aki wa kanashiki

Tác giả là Sarumaru, thế kỷ VIII.

Bài thơ này được Michel Revon dịch ra Pháp văn, đăng trong quyển “Anthologie des poètes japonais.”

Combien triste est l’automne
Quand j ‘entends la voix
Du cerf qui brame
En foulant et dispersant les feuilles des érables
Dans les profondeurs de la montagne.

Karl Petit, trong quyển “La poésie japonaise” lại dịch đảo ngược bài thơ :

Aux profondeurs de la montagne
Écartant et foulant les feuilles d’érable
Le cerf brame
Et à l’entendre ainsi
Ah.. ! Que l’automne m’est lourdement triste.

Dịch đúng ra nghiã Việt văn :

Trong núi rừng sâu
Ta nghe tiếng xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá bàng khô
Ôi.. buồn làm sao !

Bài Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư :

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức ?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ ?
Em không nghe mùa thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô.

Lưu Trọng Lư cãi :

“Bài của tao còn đoạn:

Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ
?”

Tôi hỏi Lư :

“Cậu làm bài thơ này hồi nào ?”

“Mới đây.”

“Mới đây và mấy năm nay trong nước mình làm gì có chiến tranh, có “kẻ chinh phu”, có “người cô phụ ?” Tôi cho rằng cậu ghép ba, bốn câu đó vào bài thơ của Sarumaru để thay đổi đôi chút , nhưng cậu lấy trọn vẹn bản chính của Sarumaru.

Lưu Trọng Lư không cãi nữa.

Nguyễn Xuân Huy cười, nói :

“Kết luận “Les grands esprits se rencontrent.””

Lưu Trọng Lư biết anh nổi tiếng vì bài thơ Tiếng Thu nên anh đặt tên tập thơ của anh là TIẾNG THU.

Trong dịp này tôi nói cho Lưu Trọng Lư và Nguyễn Xuân Huy biết câu thơ:

Yêu là chết ở trong lòng một ít

Của Xuân Diệu, là lấy nguyên vẹn câu của nhà văn Pháp Roland Dorgelès đề trên trang đầu quyển phóng sự hồi ký “Sur la route mandarine“:

Partir, c’est mourir un peu.”

Đi là chết trong lòng một tý.

Chỉ đổi động từ Partir thành Yêu mà thôi.

Cũng như tất cả những truyện ngắn của Đoàn Phú Tứ trong tập truyện “Những bức thư tình” đều dịch ra từ những truyện của các nhà văn Pháp: Jules Renard, Courteline, P. Benoit, Sacha Guitry..

Đoàn Phú Tứ dịch hẳn ra Việt văn, chứ không phải phóng tác hay phỏng dịch, mà anh ta lờ luôn xuất xứ, cứ để tên tác giả là Đoàn Phú Tứ.

Cùng hôm ấy, Lưu Trọng Lư và Nguyễn Xuân Huy có gợi ý cho tôi viết một bài phê bình tập truyện của Đoàn Phú Tứ với câu kết là “Trả lại César những gì của César.” Bài đó đăng hai trang trong Hà Nội Báo của Lê Tràng Kiều.

Ngưng trích Hồi Ký Văn Thi Sĩ Tiền Chiến.

Như dzậy, Thi sĩ Lưu Trọng Lư có “ăn cắp Thơ” của Thi sĩ Nhật hay không? Xin quí vị vị trả lời câu hỏi.

Theo tôi, nếu chỉ có thế mà bảo Lưu Trọng Lư “ăn cắp Thơ” là quá đáng. Đây chỉ là việc “mượn ý.” Muợn ý Thơ của người mà làm được một bài Thơ của mình, không chỉ là Thơ mà còn là Thơ Hay — như Lưu Trọng Lư làm bài Tiếng Thu — sì đã nàm thao? Có gì xấu ? Trên văn đàn có thiếu gì tuyệt tác phẩm nẩy sinh từ việc “mượn ý.” Ý của bài Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư hay hơn ý bài Tiếng Thu của Sarumaru. Thêm nữa không cần phải sống trong chiến tranh người nghệ sĩ mới có những cảm xúc về chiến tranh, về chia ly, về thương nhớ.

Nhà văn Nguyễn Vỹ sinh truởng ở miền Trung, khoảng năm 1935 ông ra Hà Nội học. Ông làm thơ, viết văn trước năm 1945. Về Thơ, ông có thơ trong tập Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh. Ông vào Sài Gòn khoảng năm 1950. Những năm sau năm 1954, ông chủ trương Tạp Chí Phổ Thông, làm chủ Thi Đoàn Bạch Nga — mấy ông ký giả văn nghệ sĩ chuyên tụ tập uống Bia 33 ở đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn thời ấy gọi là Thi Đoàn Bạch Ngan — những năm 1965, 1966, ông là chủ nhiệm Nhật Báo Dân Ta, khoảng năm 1971 ông tử nạn xe ô-tô trên đường Sài Gòn — Mỹ Tho.

Ông Nguyễn Vỹ làm thơ, viết văn nổi tiếng từ thời tiền chiến. Ông là tác giả hai bộ tiểu thuyết Dây Bí Rợ, Tuấn Chàng Trai Nuớc Việt, và Hồi Ký Văn Thi Sĩ Tiền Chiến. Cả ba tác phẩm đều xuất bản ở Sài Gòn những năm 1960-1970. Tôi không đọc tác phẩm nào cả. Năm 2005 ở Kỳ Hoa Đất Trích, tôi mới đọc Tuấn Chàng Trai Nuớc Việt Văn Thi Sĩ Tiền Chiến. Nếu có Dây Bí Rợ, tôi cũng đọc luôn.

Trong Hồi ký Văn Nghệ Sĩ Tiền Chiến, chương viết về Nhà Văn Vũ Trọng Phụng, ông Nguyễn Vỹ kể ông không ở trong nhóm văn nghệ sĩ đi nằm bàn đèn suốt đêm — ông không hút thuốc phiện, nhưng ông có mặt trong đám văn nghệ sĩ đưa tiễn Nhà Văn Vũ Trọng Phụng đến nghĩa trang. Ông viết điếu văn trên xe điện chạy từ Bờ Hồ Hà Nội đến nghĩa trang ở Ngã Tư Sở. Mấy ông văn nghệ sĩ đi xe điện tới, đứng chờ xe tang ở cổng nghĩa trang.

Tôi sẽ trích đăng vài chuyện hay hay trong Tuấn Chàng Trai Nuớc Việt Văn Thi Sĩ Tiền Chiến.

Trong bài viết của ông Nguyễn Vỹ có thành ngữ “cười như nắc nẻ.” Tôi nhớ lờ mờ “nắc nẻ” là tên một loài bọ có cánh, giống như con cánh cam, con xén tóc, đặt nó nằm ngửa, nó rẫy và phát ra những tiếng ách ách như tiếng cười. Con gái mà cuời sành sạch, người ta gọi là “cười như nắc nẻ.” Những năm tôi sáu, bẩy tuổi có vài lần tôi bắt được con nắc nẻ. Không biết tôi nhớ về Nắc Nẻ như thế có đúng không ? Bẩy mươi mùa xanh xưa dzồi còn gì !

Advertisements

23 Responses

  1. Con Nai Vàng Ngơ Ngác … cái thành ngữ ám chỉ những người ngây thơ vô (số) tội – thường nhắm vào quý vị phụ nữ – không biết có phải bắt nguồn từ bài thơ Tiếng Thu này không?

    Một trong những chỗ độc đáo nhất của bài thơ này là hai dấu hỏi. So sánh nỗi buồn của người cô phụ ngồi bên song nhớ chồng chinh chiến nơi xa xôi với mùa thu dưới trăng vàng đang thổn thức. Nam tôi đoán già đoán non là nàng còn trẻ lắm, mới xa chồng cũng chỉ vài tháng là cùng. Trăng, nguồn cảm hứng của nhiều văn thi nhạc sĩ còn được dùng như một đơn vị thời gian. Nàng nhìn trăng thổn thức mà tâm hồn rạo rực – chữ “thổn thức” ở đây thi sĩ dùng thật tài tình, trăng vàng thổn thức hay cô phụ thổn thức? Nếu nàng xa chồng vài niên hay vài chục niên thì nỗi buồn da diết hơn, chịu đựng hơn chứ không sôi nổi rạo rực như nỗi buồn xa chồng mới chỉ vài tháng. Rồi nỗi buồn của nàng lại chan hòa lây lan vào chú nai vàng (hay cô nai?) đang ngơ ngác đạp trên lá vàng khô. Nai là một động vật khá thính tai, lúc nào cũng sẵn sàng co giò phóng chạy khi gặp cọp beo thú dữ trong rừng, thế mà cả một rừng thu lá kêu xào xạc nhưng con nai của thi sĩ cứ nhởn nhơ và ngơ ngác đạp trên lá vàng chẳng thiết tha sống chết gì cả, một là con nai của thi sĩ thất tình, hai là nhớ người yêu, không cùng tâm trạng với cô phụ thì cùng tâm trạng với ai?

    Về câu hỏi của Công Tử Hà Đông thi sĩ Lưu Trọng Lư (LTL) có đạo (ý) thơ từ thi sĩ Nhật Sarumaru, theo ý riêng của Nam tôi thì có thể lắm!! Nguyễn Vỹ là một nhà văn nhà báo lâu năm không mang tai tiếng, kể lại câu chuyện phiếm về một người bạn thơ văn cùng thời mang tính chất hoài niệm hơn là vu xấu. Vả lại Nam tôi cũng đồng ý cả hai tay lẫn hai chân với CTHĐ là dù có đạo ý thơ, nghệ thuật lẫn tứ thơ bài Tiếng Thu của LTL vượt hẳn bài của Sarumaru.

    Một thí dụ rất điển hình về chuyện ý cóp đôi khi còn hay hơn cả nguyên bổn đó là những tiểu thuyết phóng tác của CTHĐ thường hay hơn “gin” rất nhiều. Hồi mới qua đây đi học Nam tôi còn nghèo lắm, ăn đong từng bữa tiền đâu mua tiểu thuyết, ghé nhà Tú Quỳnh thuê cuốn Như Chuyện Thần Tiên, thuê đi thuê lại bao nhiêu lần đọc vẫn thấy hay. Sau này đỡ vất vả hơn, tìm lại để mua cuốn này, lùng mãi không ra, mua sách thuê cũng không còn. Mãi sau này lang thang vào một Web thấy Như Chuyện Thần Tiên được post lên mừng như bắt được vàng, Nam tôi đọc ngấu đọc nghiến đến chương 12 thì … tắc tị, nghĩa là chuyện chỉ post đến đấy rồi ngưng, chờ mãi mòn cả mắt Nam tôi lùng trên eBay mua được cuốn nguyên bổn Scorpion Reef của Charles Williams, đọc vẫn không “phê” bằng Như Chuyện Thần Tiên của CTHĐ. Nam tôi phải chịu tài Công Tử dàn dựng lại không gian, nhân vật, địa danh đôi khi cả thời gian của câu chuyện khiến độc giả thỉnh thoảng quên mất mình đang đọc chuyện phóng tác và cảm tưởng như chính CTHĐ sáng tác.

    Lâu lâu mới có dịp bốc thơm Công Tử một phát, chắc quý vị cũng không cho là quá đáng?

    Nam Phục

    • Hình như là đến chương 11 chứ bác. Bác lụm bên vnvanhoa.net, đúng không?

      • Mèn ơi, chắc BT thuộc hết trơn hết trọi truyện cuả CTHĐ rồi phải không ?

      • Bắc Thần có khác, suy đoán như thần!! Chịu quan bác. Hỏi riêng, quan bác có phải là người post lửng lơ cái chuyện thần tiên ấy không?

      • Không phải em đâu bác. Em đi tìm mấy trang rách của cuốn đó thì thấy thôi. Em đã đánh máy và lưu lại phần rách trong mục Trích Đoạn rồi đó bác.

      • @Tbui: Còn vài cuốn em biết là có nhưng chưa được hân hạnh đọc qua. Hình như sư phụ em còn một cuốn chưa được tái bản ở Hoa Kỳ thì phải.

  2. Kính thưa Hoàng Lão Công Tử,

    Theo tự điển của bọn Bắc cộng mà tôi gởi theo đây thì Nắc Nẻ đúng như Hoàng Lão Công Tử nhớ.
    Nhờ bài viết này mà tôi mới biết con Nắc Nẻ là con gì.

    ¨ Nắc Nẻ : Loài sâu bọ thuộc loại bướm, đêm hay bay vào chỗ đèn sáng, đập cánh xành xạch.¨

  3. Chúng ta không bốc thơm CTHĐ, chúng ta chỉ nói lên sự thực. Nhiều phóng tác của ông đọc khoái hơn bản chính. Đây không phải là biệt lệ của CTHĐ hay của Lưu Trọng Lư.

    Truyện Kiều của Nguyễn Du chẳng là một phóng tác tuyệt vời hơn nguyên tác đó sao ?

  4. Không những thế, những phóng tác này còn đi sâu vào lòng các độc giả của thế hệ trẻ thuở ấy. Bởi vì ngoài mục đích giải trí, những tiểu thuyết này có tính cách răn đời một cách sâu xa hơn. Ai đọc xong tiểu thuyết “Định mệnh đã an bài” mà không một lần băn khoăn thoáng nghĩ: “làm bậy quả là… không khá!” ?

    • Em đọc Gã Thâm và em ao ước lớn lên trở thành dân anh chị gọi bọn cắc ké kỳ nhông là chú và xưng anh với chúng nó! Đứa nào lộn xộn em móc khẩu .38 Special ra độp một viên đạn vào đít nó.

      • Úi cha! CTHĐ làm tâm hồn tôi bay bổng với tiểu thuyết “Như chuyện thần tiên” hồi tôi mới lớn. bacthan cũng mơ mộng tít cung trăng chả kém gì chúng tôi nên trở thành lifetime fan của CTHĐ là phải dzồi. Tôi dư biết có hàng vạn độc giả miền Nam ở cùng lứa tuổi bọn mình cũng là fan của Bố Già CTHĐ, nhưng họ không nói ra đấy thôi! Phải không các bác?

      • Thật ra em có dùng cuốn Như Chuyện Thần Tiên đi ve gái một vài lần. Cuốn đó có hậu và chứa đựng nhiều thông điệp mơ hồ để các em hiểu mình muốn nói gì. Tuyệt đối không nên cho các em mượn cuốn Đêm Vĩnh Biệt vì nó có thể có những phản ứng ngược tai hại.

        Ngoài ra em còn có cho một người mượn cuốn Ngoài Cửa Thiên Đường nhưng xé đi trang cuối. Mấy chục năm sau người đó vẫn hỏi em “rồi kết cuộc ra sao hả anh?”

      • Bắc Thần giờ này còn thủ khẩu .38 Special thì rõ ràng là đệ tử chân truyền đời thứ nhất của Gã Thâm (bút hiệu khác của CTHĐ) rồi. BT đọc Già Móng chưa? Liệt tên thử vài truyện của Công Tử mà BT chưa đọc qua, may ra chúng nằm trong list Nam tôi collect được, gửi BT mượn đọc cho đỡ cơn ghiền.

      • Hay là… nam phục cho bacthan mượn những tác phẩm mà bạn đang có. bacthan sẽ post lên trang này để chúng ta cùng thưởng lãm. Dĩ nhiên là phải có sự đồng ý của Bố Già CTHĐ. May ra sẽ còn vớt vát lại những tác phẩm đã bị tuyệt bản, chẳng hạn như cuốn “Như Chuyện Thần Tiên”. Tôi tìm cuốn này hổm rày muốn lòi cả hai con mắt mà tìm không ra đặng, các bác!

      • Em đọc Nổ Như Tạc Đạn một lần cách đây hơn 20 năm lúc em còn rất trẻ và đẹp trai. Bây giờ không thấy nó ở đâu nữa.

        Cuốn thứ hai em muốn đọc là cuốn Người Vợ Mất Tích. Cuốn này em biết chắc có một chỗ có nhưng mà chưa mượn được.

        Cuốn còn lại là cuốn tựa đề TÌNH. Cuốn này … hì hì … thất truyền giang hồ đã lâu.

      • Kính bác bacthan,

        Người Vợ Mất Tích của bác chưa tìm ra, nhưng TÌNH thì vưỡn còn đầy (đủ)!! Nổ Như Tạc Đạn thuộc loại hàng hiếm, cũng chưa tìm ra nốt.

        Hơn 20 năm xưa, nếu có những em gái nào may mắn được bác bacthan (rất trẻ và đẹp trai) cho mượn cuốn Nổ Như Tạc Đạn khi bị miểng tạc đạn nổ văng tứ tung chắc cũng khó mà “toàn thân”!!

        Gửi cuốn Tình cho bác bằng cách nào đây? An toàn cho bác là trên hết.

      • À, cám ơn thạnh tình của bác nhưng em đã mượn được cuốn TÌNH rồi. Nếu khi nào bác kiếm được cuốn Nổ Như Tạc Đạn thì ới em một tiếng.

        Nhắn luôn với bác Phương Lê là cuốn Như Chuyện Thần Tiên em đoán sẽ có ngày được đăng lên trên đây thôi. Bác khỏi cần đi kiếm làm chi mất công.

  5. Truyện Kiều của Nguyễn Du chẳng là một phóng tác tuyệt vời hơn nguyên tác đó sao ?

    “Tư tưởng nhớn” găp nhau , tôi đã nghĩ như vậy , viết , chưa gửi đi thì bạn đã nói dùm , cám ơn .

  6. Lần đầu tiên Nam tôi được nghe bản “Con Nai Vàng Ngơ Ngác” của thi sĩ Lưu Trọng Lư do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc qua phần hoà âm và độc tấu dương cầm của Diễm Huyền. Nhạc không lời. CD này với hơn 11 bài ca tiền chiến được đặt tên là Tiếng Thu do chính cô sản xuất. Phần hòa âm và trình tấu bản Tiếng Thu của Diễm Huyền cho người thưởng ngoạn cảm nhận được sự đồng điệu của cô trên bản nhạc, và cô đã diễn đạt gần như trọn vẹn nét tinh tuý của bài thơ ngắn, cô đọng trong chỉ hơn chục câu.

    Hình như LTL có nhiều bài thơ được phổ nhạc nhất trong số những thi sĩ tiền chiến, Nam tôi đếm được ít nhất 5 bài, chỉ đứng sau Nguyễn Bính (vị thi sĩ này nghe nói sau 54 đã tự chối bỏ đi tước thi sĩ và đổi tên thành Nguyễn Béng, theo như tài liệu có kiểm chứng rõ ràng của CTHĐ!!)

    Thông thường các thi sĩ tiền chiến chỉ có độ một hoặc hai bài được phổ nhạc. Dưới đây là danh sách những bài Nam tôi nhớ được.

    Ngậm Ngùi (Huy Cận) – Ngậm Ngùi (Phạm Duy)
    Tự Tình Dưới Hoa (Đinh Hùng) – Mộng Dưới Hoa (Phạm Đình Chương)
    Một Tiếng Em (Đinh Hùng) – Mái Tóc Dạ Hương (Nguyễn Hiền)
    Màu Cây Trong Khói (Hồ Dzếnh) – Chiều (Dương Thiệu Tước)
    Tình Cầm (Hoàng Cầm) – Tình Cầm (Phạm Duy)
    Nguyệt Cầm (Xuân Diệu) – Nguyệt Cầm (Phạm Duy)
    Chiều (Xuân Diệu) – Mộ Khúc (Phạm Duy)
    Màu Thời Gian (Đoàn Phú Tứ) – Màu Thời Gian (Phạm Duy)
    Đây Thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử) – Đây Thôn Vĩ Dạ (Phạm Duy)
    Đôi Mắt Người Sơn Tây (Quang Dũng) – ĐMNST (Phạm Đình Chương)

    Riêng bài thơ Đi Chơi Chùa Hương của thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp – bài này tất cả quý vị nam phụ lão ấu phải nghe qua ít nhất một lần, không thì phí lắm ạ – đã được 2 nhạc sĩ khác nhau phổ nhạc. Bài đầu tiên do nhạc sĩ Trần Văn Khê, phải là tiếng hát Thanh Lan mới “đạt”. Sau đó nhạc sĩ Trung Đức trích một đoạn ngắn phổ thành bài Em Đi Chùa Hương, cũng rất phổ thông trong đại chúng. À quên, còn Màu Tím Hoa Sim của thi sĩ Hữu Loan nữa chứ, Phạm Duy đổi thành Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà và Dzũng Chinh đặt lại tên Những Đồi Hoa Sim.

    Thi sĩ Chế Lèn Vèn, bắt chước Nguyễn Béng đổi tên tuổi sau 54, hình như không có bài thơ nào được phổ nhạc để làm vốn!! Điều này cũng chẳng có gì lạ. Nhưng lạ nhất là thi sĩ Vũ Hoàng Chương có rất nhiều bài thơ tuyệt tác, sao không có bài nào được phổ nhạc? Hay là Nam tôi không biết? Quý vị nào biết làm ơn chỉ bảo thêm.

    Dưới đây là danh sách những bài thơ của Nguyễn Bính được phổ nhạc.

    Ghen (Trọng Khương)
    Cô Hái Mơ (Phạm Duy)
    Gái Xuân (Từ Vũ)
    Cô Lái Đò (Nguyễn Đình Phúc)
    Hôn Nhau Lần Cuối (Văn Phụng)
    Lỡ Bước Sang Ngang (Trần Thiện Thanh?)
    Thời Trước (Văn Phụng đổi thành Trăng Sáng Vườn Chè)
    Thoi Tơ (Đức Quỳnh)

    Thi sĩ Nguyễn Bính chiếm giải vô địch về số lượng thơ được phổ nhạc!! Nếu không đổi tên sau 54 may ra thi sĩ còn có thể break nhiều records nữa!!

    Trở lại với thi sĩ Con Nai Vàng Ngơ Ngác, hình như Phạm Duy rất “sính” thơ LTL, “chơi” luôn một lúc 3 bài: Tiếng Thu, Thú Đau Thương và Còn Chi Nữa (đổi thành Hoa Rụng Ven Sông). Có một điều rất lạ, hình như chưa bao giờ xẩy ra với bất cứ một bài thơ nào, bài thơ Một Mùa Đông của LTL bị “xẻ thịt” làm 2 đoạn và phổ nhạc bởi 2 nhạc sĩ khác nhau.

    Đoạn đầu bài thơ Một Mùa Đông được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ thành Mắt Buồn (Đôi mắt em lặng buồn Nhìn thôi mà chẳng nói Tình đôi ta vời vợi Có nói cũng không cùng …) Đoạn giữa bài thơ được nhạc sĩ Y Vân phổ thành Người Em Sầu Mộng (Em là gái trong song cửa Anh là mây bốn phương trời … Em chỉ là em gái thôi Người em sầu mộng muôn đời …) Nhưng Nam tôi mến nhất mấy câu cuối trong đoạn thơ này.

    Ai bảo em là giai nhân
    Cho lệ đêm Xuân tràn
    Cho tình đầy trước ngõ
    Cho mộng tràn gối chăn

    Quý vị để ý dùm véc-bờ “tràn” ở câu hai và câu tư. Thi sĩ thường ít khi lặp lại từ hoặc ý, trừ trường hợp cố ý. Nam tôi nghĩ là thi sĩ LTL cố ý dùng từ “tràn” trong hai câu này, “lệ” hơi khó nhưng có thể cân đo được chứ “mộng” thì thực là bó tay. Yêu như thế mới thật là Yêu, và Thơ như thế mới thật là Thơ!!!

    Bàn nhảm tí với quý vị cho vui thôi.

    Nam Phục

  7. Gọi là “bàn nhảm”, nhưng là một bài học thi ca và âm nhạc cận đại đáng được đem giảng dạy ở nhà trường. Nhờ những trao đổi như thế này thấy những gì mình biết quá ít ỏi, chỉ là hạng ếch ngồi đáy giếng. Xin cám ơn nam phục đã chia sẻ cho đàn em học hỏi.

    • Cảm ơn bác Phương Lê đã quá lời. Nhân cái comment của bác, Nam tôi có dịp đọc lại những gì mình viết trong lúc vội vã đã nhận ra một sai sót cần đính chính: bài thơ Nguyệt Cầm của Xuân Diệu do nhạc sĩ Cung Tiến lấy ý thơ phổ nhạc chứ không phải Phạm Duy phổ nhạc, khung nhạc đầu tiên (8 nốt) của bài Nguyệt Cầm giống y chang bài Ave Maria (Schubert) do Phạm Duy chuyển dịch. Nhạc sĩ Cung Tiến (Hương Xưa, Hoài Cảm) còn phổ nhạc 2 bản khác (không popular lắm) từ 2 bài thơ nổi tiếng của thi sĩ Quang Dũng: Đôi Bờ và Kẻ Ở (Mai Chị Về) với những câu hay quá cỡ là hay!!

      Đôi Bờ

      Thoáng hiện em về trong đáy cốc
      Nói cười như chuyện một đêm mơ

      Kẻ Ở

      Sao rơi đáy nước vương chân ngựa
      Buồn dâng đôi mi hàng lại hàng

      Theo như Wikipedia Cung Tiến sáng tác bản Hoài Cảm năm ông 14 tuổi. Nam tôi lại nghe tin truyền miệng khác (chưa được kiểm chứng) bản nhạc đầu đời của ông là bản Thu Vàng làm ra năm ông 16 tuổi. Thật là “thiên tài” chẳng đợi tuổi!!

  8. Thưa Công Tử Hà Dông,
    Trong phần Hồi ký của Nguyễn Vỹ:
    Thực ra bản dịch thơ Nhật của Karl Petit mới là đúng.
    Bản dịch của Michel Revon mới là đảo ngược.

  9. Cám ơn nhiều lắm, mấy cái comment của nam phục cũng được quá !

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: