• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Khuôn Trăng Đầy Đặn…

Một trong những nỗi sung sướng của tôi kể từ ngày tôi có truyện được đăng báo. được xuất bản thành sách, là đọc bài tôi viết được in trên báo, trong sách. Những năm 1976, 1982, 1983 ở Sài Gòn tôi viết một số bài gửi ra hải ngoại. Gửi đi mà không biết thư có đến nơi mình gửi hay không. Và từ 1975 đến 1994 tôi không có cái lạc thú được đọc những bài tôi viết đăng trên báo.

Thuy KieuBánh xe tị nạn khấp khểnh sang Hoa Kỳ, tôi được hưởng lại cái thú đọc những bài tôi viết đăng gọn, sạch, sáng trên những trang báo, trang sách. Sống tự do ở Hoa Kỳ, dọc những bài tôi mới viết ở Hoa Kỳ tôi đã sung sướng, được đọc những bài tôi viết mười, mười lăm năm xưa ở Sài Gòn tôi cảm khái. Trong niềm cảm khái có cảm giác bồi hồi, thương thân, ngậm ngùi, man mác buồn, tôi thấy hình ảnh tôi những năm xưa ấy, gầy gò, đen đủi, người chỉ có gân, da và xương như con trâu già, ngồi trong căn gác tối — gác lửng — cặm cụi viết những hàng chữ nhỏ síu trên những trang giấy học trò, viết mà biết những gì mình viết gửi đi sẽ đưa mình trở lại ngục tù; đang viết nghe tiếng người gõ cửa dưới nhà, vội vàng đem bài viết giở đi cất; những hôm mang thư ra Nhà Bưu Điện Sàigòn gửi đi, trên xe đạp thỉnh thoảng tôi lại nhìn về đằng sau xem mình có bị công an Việt Cộng theo rõi không; đưa thư quay tem máy, bỏ thư vào thùng, bùi ngùi vì ý nghĩ mình không bao giờ được đọc những bài ấy trên báo.

Sang Hoa Kỳ tôi tìm được một số bài tôi viết năm xưa. Bài dưới đây tôi viết ở Sài Gòn những năm 1982, 1983, gửi sang Kỳ Hoa, đăng trên Báo Văn Nghệ Tiền Phong số 178 & 179. Bài này tôi ký tên Ngụy Công Tử.

Vài Ý Nghĩ Về Những Nhân Vật Truyện Kiều.

Ngụy Công Tử.
Viết ở Sài Gòn

Trong mấy ngày Tết Quí Hợi, tình cờ tôi vớ được quyển “Các Nhà Thơ Cổ Điển Việt Nam” của Xuân Diệu. Đây là tuyển tập một số bài tiểu luận Xuân Diệu viết từ năm 1950 đến 1980 do Nhà Xuất Bản Văn Học ấn hành ở Hà Nội năm 1981. Trong tập này Xuân Diệu viết về hai nhà thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du.

Phần viết về Nguyễn Du có 7 bài. Bài đầu tiên “Hai trăm năm Nguyễn Du đã ra đời” có lời ghi “Gửi các bạn trí thức ở miền Nam” và lời chú “Bài viết cho đài Tiếng Nói Việt Nam.” Cuối bài ghi ngày viết là 21/11/1965.

Nằm khểnh đọc mấy bài tiểu luận ấy thấy đôi điều hay hay nên hôm nay nhân tiện tôi viết ra mấy dòng này. Chỉ cần nói tôi không phải là “trí thức miền Nam” và bài này không phải là để góp ý hay trả lời ai hết. Chẳng có việc gì làm hay hơn nên tôi viết chơi vậy thôi.

Tôi không thấy Xuân Diệu phát hiện được điều gì quan trọng đáng kể về Truyện Kiều hay về Nguyễn Du trong tập tiểu luận này. Vẫn cái luận điệu chung mà tôi thấy khê nồng, khê nặc trong tất cả những bài viết về Truyện Kiều của văn học xã hội chủ nghĩa miền Bắc, những bài gọi là lý luận văn học song phần lớn chỉ là những chuyện tán hươu, tán vượn. Xuân Diệu không làm gì khác hơn là ca ngợi và tán thán Thúy Kiều hết lời, đổ tội làm Thúy Kiều phải đau khổ cho chế độ phong kiến, đề cao Kim Trọng, Từ Hải, mạt sát Thúc Kỳ Tâm, Hoạn Thư và dày đạp Thúy Vân.

Giọng văn của Xuân Diệu tỏ ra quá khích hơn cả những người mác-xít trong việc phê phán người và việc trong Truyện Kiều. Thái độ này không có gì đáng cho ta ngạc nhiên hay thắc mắc. Ở đời, những kẻ theo đuôi, bắt chước thường hăng tiết vịt, thường tỏ ra hung hãn hơn những người đi đầu. Xuân Diệu còn có cái thói quen là luôn luôn tự nhận “Các Mác của chúng ta, Xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp của chúng ta..” Cứ làm như không vơ vào mình thì người khác xí mất.

Đây là một đoạn Xuân Diệu mạt sát Sở Khanh, tâng bốc Kim Trọng:

Trích “Những Nhà Văn Cổ Điển Việt Nam” — Xuân Diệu.

Và Sở Khanh! Sở Khanh! Ta đã nghe tên của y rất nhiều lần trước cách mạng, từ tên riêng của y đã thành tên chung của một hạng người: Từ anh Sở Khanh trong Truyện Kiều, có cưỡi ngựa và chuồn mất, đến những anh Sở Khanh trong đời không có ngựa cưỡi, chỉ đi bộ, đi xe đạp hay đi ô tô, mà người ta vẫn cứ nói “Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào..”! Bởi vì cái rẽ của anh rất điển hình! Anh đã lẻn vào khi tường đông lay động bóng cành, anh ta lại lẻn ra khi tiếng gà vừa xao xác gáy mau. Cái hình dung chải chuốt của anh ta tưởng như sặc mùi di-dzăng-tin hiện đại. Anh ta tự đấm ngực mà kêu trời, kêu đất, tất cả anh hoa phát tiết ra mồm:

“Ta đây có phải ai đâu mà rằng!” — Có ta đây cũng chẳng cơn cớ gì..”, nhưng rút cục chỉ còn một cái mặt mo mà Thúy Kiều đã muốn lơ đi, nhưng rồi cũng phải chỉ thẳng vào, phải vạch mặt!

Nhân vật chính là Kim Trọng, chàng thanh niên, chàng thư sinh, tuấn tú làm sao! Tao nhã làm sao! Kim Trọng bước đi xinh đẹp cả một vùng.. Một vùng như thể cây quỳnh, cành dao.., Kim Trọng là người có lòng chung thủy hiếm có.

Bao nhiêu của, mấy ngày đàng
Còn tôi, tôi một gặp nàng mới thôi!

Ngưng trích.

Trong đoạn trên Xuân Diệu moi ra chữ “lẻn” tả lúc Sở Khanh lẻn vào lầu Ngưng Bích với Kiều, anh đắc ý cho rằng Nguyễn Du đã cố ý hạ chữ “lẻn” đó để tả Sở Khanh là “thằng ăn cắp.” Thế nhưng, trẹo họng thay, Nguyễn Du cũng tả Kim Trọng “lẻn” vào nhà Thúy Kiều không khác gì Sở Khanh “lẻn” vào lầu Ngưng Bích:

Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng,
Băng mình lẻn trước đài trang tự tình.

Công Tử Chạp Phô Thúc Kỳ Tâm cũng “lẻn”:

Thừa cơ Sinh mới lẻn ra
Xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng.

Xuan DieuBất cứ ai khi vào một chỗ mình không được quyền vào đều phải “lẻn vào” cả. Tôi nghĩ Xuân Diệu không phải là không biết như thế — anh ta khoe đã đọc đi, đọc lại Kiều rất nhiều lần — nhưng vì thấy cần chửi, cần đề cao, thì cứ nại ra mà chửi, mà đề cao. Ở trang 137 sách đã dẫn, khi viết đến đoạn Kim Trọng từ biệt Thúy Kiều, Xuân Diệu đã cố ý sửa “Kim Trọng băng mình đến trước đài trang tự tình,” mặc dù tất cả những bản Truyện Kiều đều viết Kim Trọng “băng mình lẻn trước đài trang tự tình”. Đây là việc cố ý xuyên tạc sự thật cho hợp vói lời nói của mình, đó là việc làm bất lương. Khi viết như thế Xuân Diệu coi khinh người đọc, có thể anh ta nghĩ những người đọc anh đều ngu dốt, anh viết gì cũng tin răm rắp. Thường thì những anh tưởng người khác ngu dốt lại chính là những anh ngu dốt hơn ai hết.

Sau Xuân Diệu, rất nhiều anh ký sinh trùng văn nghệ miền Bắc XHCN tán nhăng, tán cuội về Truyện Kiều đã lấy đoạn Xuân Diệu viết về Sở Khanh và chữ “lẻn” theo kiểu diễn giải của Xuân Diệu làm mẫu mực. Có anh nức nở: “Xuân Diệu tìm ra chữ “lẻn” hay quá. Chỉ một chữ “lẻn” đã đủ tả hết thần thái thằng Sở Khanh ăn cắp..” Đại khái những lời mạt sát và suy tôn đều một giọng như thế.

Đồng ý là Sở Khanh hứa cuội và nói phét, nhưng cậu Kim Trọng thì có hơn gì?

Những là đắp nhớ, đổi sầu,
Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm.

Khi Thúy Kiều chui hàng rào sang nhà Kim Trọng chỉ cách lần họ gặp nhau cũng ở cạnh cái hàng rào dâm bụt đó nhiều lắm là một tháng. Vậy mà chàng Kim đã than: “Tóc anh trắng một nửa rồi vì mong đợi em..” Thề thốt nặng lời với những câu đao to, búa lớn như: “Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương..” nhưng chỉ sáu tháng sau — sáu tháng, không phải ba niên — khi trở lại Vuờn Thúy, thấy nàng đi mất, cậu khóc than, cậu lăn đùng, ngã ngửa… rồi tưởng gì, cậu lấy ngay cô em gái thơm như múi mít của nàng.

Tất cả những người viết về Truyện Kiều ở miền Bắc XHCN đều giống nhau y hệt ở điểm ca tụng Kim Trọng là người tình thủy chung hiếm có. Nhưng những lời hứa hẹn, đoan chắc:

Bao nhiêu của, mấy ngày đường,
Còn tôi, tôi một gặp nàng mới nghe.
…..
Rắp mong treo ấn, từ quan,
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng pha,
Dấn mình trong áng can qua,
Vào sinh, ra tử họa là thấy nhau..

Thực tế chỉ là những câu nói phét.

Tất cả những việc Kim Trọng làm với mục đích tìm Thúy Kiều chỉ vỏn vẹn có:

Đinh ninh mài lệ chép thơ..
Cắt người tìm tõi, đưa tờ nhắn nhe.
Biết bao công mướn, của thuê..

Nguyễn Du dùng chữ thật tài. Những tiếng “tìm tõi, nhắn nhe” nghe thật tệ bạc, vờ vĩnh, nói lên việc làm cho có làm. Thiếu gì chữ mà Nguyễn Du lại dùng những tiếng tồi đến như thế? Vì việc làm của nhân vật tồi nên Thi sĩ phải hạ những tiếng tồi. Tìm thì tìm tõi, nhắn thì nhắn nhe, công thì mướn, của thì thuê. Người tình chung thủy nhất đời họ Kim tên Trọng ấy trước sau không tốn một giọt mồ hôi cho việc tìm Thúy Kiều. Cậu chỉ tìm tõi và nhắn nhe thôi, tõi và nhe không được thì ..thôi, cậu cứ ôm đít Thúy Vân mà.. thương nhớ Thúy Kiều!.

Nếu cho rằng Nguyễn Du hạ chữ “lẻn” là có ý khinh bỉ thì ta cũng phải xét đến chữ “trộm” có vẻ còn ngụ ý mạt sát nặng hơn. Các nhân vật xoay quanh Thúy Kiều không có ai “trộm” cả, riêng cậu Kim Trọng thì không những cậu chỉ “trộm” mà thôi, cậu còn “trộm” đến ba, bốn lần lận. Trước hết, là học trò đến Bắc Kinh để học, tất nhiên cậu sống bằng tiền bạc của mẹ cha, cậu tỏ ra rất chú ý đến nhà người bạn học có cô chị mà cậu nghe nói rất đẹp:

Trộm nghe thơm nức hương lân,
Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều.
Nước non cách mấy buồng thêu,
Những là trộm nhớ, thầm yêu chốc mòng…

Rồi khi tán tỉnh Kiều, cậu lại “trộm”:

Rằng: “Từ ngẫu nhĩ gặp nhau,
“Thầm trông, trộm nhớ bấy lâu đã chồn..”

Đã không bới lông tìm vết thì thôi, còn đã bới, đã tìm thì bới, thì tìm cho đến nơi, đến chốn. Đã bới móc thì bới móc tất cả, chẳng nên chỉ bới móc kẻ mình ghét mà bao che cho kẻ mình ưa. Thái độ đó là thái độ con nít.

Xuân Diệu viết: “Tôi đọc Kiều cả quyển, đọc đi, đọc lại, nhớ nhiều..”

Bố khỉ. Đọc không đọc cả quyển thì đọc nửa quyển hay sao? Như vậy là anh khoe anh đọc kỹ Kiều và nhớ Kiều, thuộc Kiều rất kỹ. Ở một trang khác anh ta còn dậy người đời phải cẩn thận khi lẩy Kiều, phải tôn trọng từng chữ, đừng có để sai bừa bãi. Nhưng rải rác đó đây trong những trang viết của anh ta thấy anh lẩy Kiều văng tê, như anh lẩy:

Vui là vui gượng kẻo mà,

Liệu có cần phải nói là bất cứ ai chỉ cần có đọc Truyện Kiều một lần thôi cũng biết câu đó là

Vui là vui gượng kẻo là…

Nguyễn Du viết:

Mối tình đòi đoạn vò tơ
Giấc hương quan luống lần mơ canh dài…

Xuân Diệu lẩy:

Mối tình đòi đoạn vò tơ
Giấc hương quan luống mẩn mơ canh dài..

Nguyễn Du viết:

Vì ai ngăn đón gió đông..

Xuân Diệu lẩy:

Vì ai ngăn gió đón đông

Yêu Truyện Kiều, đọc Kiều nhiều lần, thuộc Kiều thật kỹ, dậy người khác phải trân trọng Thơ Kiều, mà lẩy Kiều như thế thì phải nói là:

Lẩy Kiều đến thế nghĩ mà buồn teo!

Đây là lời Xuân Diệu viết về chuyện Hoạn Thư cho Kiều ra ở Quan Âm Các chép kinh: Sớm khuya tính đủ dầu đèn..

Các nhà phong kiến đại gia theo kiểu như trong truyện Hồng Lâu Mộng, ăn tiêu rất xa hoa, phí phạm nhưng đồng thời lại chắt bóp dè xẻn từng đồng trinh. Bởi vậy nên mới tính đủ dầu đèn, không thừa một chút síu! Nguyễn Du không ưa bọn phong kiến, áp bức, bóc lột cho nên khi tả Hoạn Bà ngồi mắng phủ đầu Kiều:

Ban ngày sáp thắp hai bên,
Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà.

Thì đó là sáng tạo của Nguyễn Du, nguyên văn chỉ viết:.. giữa nhà có một phu nhân ngồi trạc năm mươi tuổi, hai bên có độ ba, bốn mươi thị nữ đứng hầu.” Nguyễn Du đã thắp sáp hai bên con mụ giữa ban ngày, đó là giết nó bằng văn đấy.

Ngưng trích.

Nó tính đủ dầu đèn, nó phát đủ dầu đèn thì có gì đáng để chửi nó? Nó có tính thiếu, phát thiếu mới chửi chứ. Chuyện nó sợ ánh sáng, nó ở kín trong phòng tối, ban ngày nó cũng phải thắp nến thì quả có hoang phí thật nhưng đừng quên người yêng hùng Từ Hải, khi nổi loạn chiếm được một vùng, rước vợ về cũng hưởng thụ huy hoắc như ai:

Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn
Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên

Đây là lời Xuân Diệu bình loạn về cuộc Từ Hải gặp Kiều:

Khi Từ Hải gặp Thúy Kiều, Nguyễn Du viết văn rất bạo:

Bấy lâu nghe tiếng má đào
Mắt xanh chẳng để ai vào, có không?

Từ Hải vốn tính bộc trực, gặp Kiều là hỏi độp ngay: Bấy lâu nghe đồn nàng chẳng để ai lọt vào mắt xanh nàng cả, việc ấy có hay là không? Nguyễn Du chỉ đặt hai chữ có? không? Thật đột ngột, nếu người vô ý đọc qua thì chẳng hiểu; hiểu rồi thì thú vị lạ lùng! Nó ngắn, gọn đến mức tột cùng, mà thành ra tả được tính người — khi nghe Kiều đáp lại thật ý vị sâu sắc, Từ lại bộc trực và sống sít:

Lại đây xem lại cho gần
Phỏng tin được một, hai phần hay không?

Thấy rõ như nắm vào áo Kiều kéo dịch lại để xem mặt mũi cô đĩ này thế nào mà lại nói được một câu ý nghĩa đến thế. Từ Hải chưa dám tin rằng trong hạng người làm đĩ lại có người như thế.

Ngưng trích.

Nguyên văn Truyện Kiều đoạn trên như sau:

Bấy lâu nghe tiếng má đào
Mắt xanh chẳng để ai vào, có không?
Một đời được mấy anh hùng,
Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi..
Nàng rằng: “Người dậy quá lời
Thân này còn dám coi ai là thường.
Chút riêng chọn đá, thử vàng,
Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu.
Còn như vào trước, ra sau,
Ai cho kén chọn vàng thau tại mình..”
Từ rằng: “Lời nói hữu tình,
Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân.
Lại đây xem lại cho gần,
Phỏng tin được một vài phần hay không..”

Ngưng trích.

Lời kể sáng như ban ngày, rõ ràng, không có gì khó hiểu để có thể hiểu lầm. Liệu có cần phải viết lại thành văn xuôi như sau:

Từ Hải: Nghe nói em chẳng yêu ai, chẳng tin ai, chẳng trọng ai cả; việc đó có không? Nếu em có thái độ như thế thì cũng đúng thôi. Đời này làm gì có nhiều anh hùng, toàn bọn cá chậu, chim lồng cả.

Kiều: Người dậy quá lời, em là gái chơi đâu dám coi thường ai. Thựïc ra riêng lòng em cũng để ý kén chọn nhưng đó là chuyện chỉ em biết với em thôi. Còn ở đây người ta ai có tiền là có quyền ra vào, em làm sao tuyển lựa được.

Từ Hải: Em nói nghe được lắm. Như ta đây em thấy sao? Em nghĩ ta là người như thế nào. Em lại đây nhìn ta cho gần, xem em có thể tin ta là người khá được không?

Chuyện như thế mà hiểu là “Từ Hải nắm áo Kiều kéo lại xem mặt cô đĩ này ra sao..” thì đúng là sống sít hết nước nói. Fi-nỉ lô đia. Đã vậy còn lên giọng dậy đời, còn được in ra thành sách dzăng học, đọc trên la-dzô, gửi cho “các bạn trí thức miền Nam!” Đây đúng là việc làm văng-tê săng phú tú lơ mo của cái nhà ông … “Xuân Diệu làm đoan, Xuân Riệu lậu!”

Và đây là lời nhà phê bình dzăng học XHCN Xuân Diệu viết về Thúy Vân:

Cuối cùng tôi xin nói đến chữ, những chữ dùng rất ý tứ. Thúy Vân

Hoa cười, ngọc thốt đoan trang.

Thốt cũng chỉ có nghĩa là nói thôi, nhưng nếu để “hoa cười, ngọc nói” thì chữ nói bị ảnh hưởng của chữ cười, hóa ra “cười nói”, cười cười, nói nói, hóa ra nói nhiều (Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe. Tục ngữ) đáng nói mới nói, nghĩ rồi mới thốt ra, có thế thì mới “đoan trang.”

Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang…

..nhưng cái đẹp phúc hậu “khuôn trăng đầy đặn” nói nôm na bình dân là “phinh phính đôi má bánh đúc…”

Ngưng trích.

Ký gì? Trên giấy trắng, mực đen, trong sách in đàng hoàng, Xuân Diệu, nhà văn học XHCN, người bất cứ lúc nào và ở bất cứ chỗ nào cũng vỗ ngực bịch bịch tự nhân là người Mác-xít và luôn mồm nói: “Các Mác của chúng ta..”, đã viết như thế về Thúy Vân. “Khuôn trăng đầy đặn..” mà phang là “phinh phính đôi má bánh đúc” thì chết cha người Việt Nam rồi. Thật vô phúc cho những ai sinh ra là người Việt Nam. Chỉ còn thiếu có việc bình loạn thêm “nét ngài nở nang” là lông mày sâu róm, lông mày chổi xể!

Trang 294, sách đã dẫn, Xuân Diệu viết:

Không những khi nhỏ, cha mẹ tôi dậy tôi phải “ăn xem nồi, ngồi xem hướng” mà lớn lên Nguyễn Du dậy cho tôi một cách sâu sắc cái nết ngồi, ngồi phải biết nhún nhường, khiêm tốn, chớ có ngồi tót sỗ sàng…

Ngưng trích.

Cũng còn chút may mắn cho người Việt Nam là anh ta đã được dậy cái nết lễ độ và có ý tứ từ thưở nhỏ — gia đình có giáo dục đàng hoàng chứ bộ — lớn lên anh ta lại được Nguyễn Du dậy cho cái nết “khiêm tốn.” Vậy mà anh ta còn viết như thế. Nếu anh là con nhà mất dậy thì không biết những chuyện anh viết vung vít “Từ Hải nắm áo cô đĩ Thúy Kiều”, chuyện anh cho “khuôn trăng đầy đặn” là “đôi má phinh phính bánh đúc” nó còn lố bịch và làm khổ đồng bào vô tội của anh đến đâu nữa!

Nguyễn Du sống khôn, chết thiêng, chắc anh hồn Thi sĩ đôi khi cũng trở về trần thế khi người ta đốt hướng, khấn vái chiêu niệm Thi sĩ. Nếu ông về, và nếu chẳng may ông đọc phải cái đoạn Xuân Diệu viết “Từ Hải nắm áo cô đĩ Thúy Kiều kéo lại để xem..” và “Thúy Vân khuôn trăng đầy đặn nôm na là phinh phính đôi má bánh đúc..” rất có thể chịu không nổi Thi sĩ phải hiển linh, để lại trên hương án mấy câu rồi thăng mất:

Ít lắm cũng Đặng Thái Mai,
Không thì Trương Tửu, Tô Hoài cũng xong,
Hay Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng,
Nhược bằng Xuân Diệu — Kiếu ông, tôi về!

 

 

 

——————–

NGỤY CÔNG TỬ & CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG

Viết ở Sài Gòn năm 1982

Viết lại ở Rừng Phong, Kỳ Hoa năm 2000 — Tháng Tưởng Niệm Nguyễn Du.

Advertisements

10 Responses

  1. “Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”.Tôi nhớ khoảng năm 1961,lúc học đệ nhị ở trường St Thomas Vũng Tàu,vị linh mục dạy lớp chúng tôi gỉai thích là nói cách nôm na bình dân,khuôn mặt Thúy Vân là “mặt mẹt”

  2. Kiều du Xuân tiết Thanh Minh

    Cô giáoVăn lớp 7 của chúng tôi nổi tiếng nghiêm và dữ nhất trường. Giờ cô giảng bài cả lớp cứ im phăng phắc, ngoài giọng đều đều của cô là tiếng vo ve của mấy chú ruồi muỗi bay ngang. Khi cô đọc đến 2 câu trong đoạn Thuý Kiều cùng hai em du Xuân tiết Thanh Minh

    Sè sè nấm đất bên đàng
    Rầu rầu ngọn cỏ, nửa vàng, nửa xanh

    Tôi đ ã nghe loáng thoáng tiếng khúc khích ở vài góc lớp. Cô nhìn quanh quất không thấy gì rồi tiếp tục giảng bài. Tôi nghĩ thầm thế nào cũng có vài anh ăn “đạn phấn”. Sau nhiều năm “luyện công” cô có chiêu ném phấn rất tài tình tới mấy cái đầu chụm lại to nhỏ nói chuyện trong giờ cô giảng bài, trăm phát chỉ chệch mục tiêu một hai lần. Được vài phút sau thì bỗng một tiếng “bốp” như súng nổ mang tai, cả lớp còn đang ngơ ngác nhìn quanh thì nhận ra một bạn thuộc “xóm nhà lá” đang xoa xoa bên thái dương của mình ra chiều đau đớn lắm, cô quát

    – Đứng lên!! Chuyện gì mà lắm thế?
    – Dạ … Dạ …Dạ …
    – Nóí!!
    – Dạ … bọn em đang đoán xem ai là … tác giả … làm mấy … “ngọn cỏ rầu rầu” ạ!!

    Cả lớp phá ra cười …

    Chưa kịp nói hết câu “Liệu hồn!!” cô đã quay mặt vào trong bảng (giấu nụ cười?), vài giây sau cô bước ra khỏi lớp, đi như chạy. Ngay lúc ấy cả lớp vỡ toang ra như cái chợ.

    – Thuý Vân!! Nhất định là Thuý Vân, em còn bé quá nên không nhịn được …
    – Cả hai!! Thuý Kiều nửa vàng, Thuý Vân nửa xanh …
    – Không, không, cả ba!! Kiều, Vân là người, thế Vương Quan là thánh à? …

    Cứ thế, mỗi anh một ý, giá cụ Tiên Điền có sống lại chắc cũng không nỡ trách mắng cái lũ đến ma quỷ cũng phải tránh xa. Đã hơn 30 năm rồi, cho mãi đến giờ này tôi vẫn théc méc cái từ “sè sè” cụ dùng bên cạnh “nấm đất bên đàng” nghe rất ư là “tượng thanh”.

    Quý vị có ý kiến ý cò gì về “nghi vấn văn học” này không?

    Nam Phục

    • Sáng vừa vào sở , mở trang web cuả CTHĐ ( thói quen hàng ngày ) , đọc bài này cuả NP , cười quá , thật là ý nhị , ” tới luôn bác tài ” , you make my day happy , thanks .

      • Cảm ơn bác Tbui.

        Nhờ vào những bài viết của Công Tử, NP mới có dịp liên tưởng đến những mẩu chuyện vụn vặt, kỷ niệm vui nho nhỏ thời trung học để chia xẻ cùng các bác, cũng như các bác đã dành nhiều thì giờ “quan lớn” viết ra những quan điểm, ý kiến, chuyện tiếu lâm qua những bài thơ bacthan “siêu tầm” viết lại trong “Đêm Nay Bác Không Ngủ” làm NP ôm bụng cười bò, nói theo từ việt cộng của anh chàng viết phóng sự về Tiến Hợi vào vai bác hồ là “chết cười”.

        Qua bài viết về Tiến Hợi có lẽ chúng ta cũng thấy phần nào đối với dân Hà Nội, hoặc miền Bắc nói chung, những hình ảnh “thần tượng” về bác hồ đã dần dần phai nhạt theo thời gian qua việc những nhà viết phim, viết kịch không còn viết về bác nữa làm Tiến Hợi jobless trong mười năm, qua việc đạo diễn kịch phim về bác không ngại văng tục chửi bác sát sạt mặc dù đã có lời cảnh cáo. Bộ mặt xảo quyệt, lừa thầy phản bạn của bác đã từ từ lộ diện. Dù sao hồ vẫn là hồ, cáo vẫn hoàn cáo!!

        Anh bạn tôi, mới vừa trở lại sau chuyến dắt díu bầu đoàn thê tử về thăm gia đình ở Saigon lần đầu tiên, kể lại một câu chuyện về niềm “thành kính” của dân Hà Nội đối với bác ngày nay. Anh ra Hà Nội lần đầu cho biết sự tình, thuê bao taxi viếng 36 phố phường cùng những “danh lam thắng cảnh”. Một lần nói ý định viếng lăng bác thì được anh tài ưu ái giả nhời

        – Xin lỗi Anh Hai, lăng bác có đếch gì mà xem!! Anh Hai thích thì em đưa đi nhưng đấy là em báo trước.

        Theo anh bạn, dân Hà Nội thích dùng từ “Anh Hai” để tỏ lòng tôn kính các “Công Tử Saigon” ra Hà Nội tham quan. Đối với những người ít tiếp cận Việt kiều như anh tài thì ai cũng là Anh Hai, Chị Hai từ “nước” Saigon bay tới viếng VN, giống như Saigon là một quốc gia tân tiến trên thế giới biết nói tiếng Việt!! Xe đến lăng bác anh bạn đã ngần ngại chưa muốn vào vì chỉ thấy lác đác dăm ba chú tây ba lô ở quầy vé xí xô chỉ chỏ lưỡng lự trước khi mua vé (còn tiếc năm nghìn tiền hồ vào cửa?), nhìn vào trong không một bóng người, cả đến mấy bóng chim trên những ngọn cây xung quanh cũng không nốt!! Như để giúp anh bạn quyết định nhanh hơn anh tài bồi thêm

        – Năm nghìn, rõ thối!! Cho không em cũng … ị vào!! Ngày xưa còn miễn phí thiên hạ xếp hàng đến cuối đường vì nó phát cho mỗi người vào cửa một ổ bánh mì!! Chỉ phải ngắm bộ xương khô ba giây rồi thơ thới đi ra với ổ bánh mì, ai dại gì mà không ngắm?

        À ra thế!! Lòng thương tiếc bác không hơn một ổ bánh mì!! A lê hấp, chúng ta trực chỉ về hotel!!

  3. Có lẻ là hồn ma của Đạm Tiên ?

  4. bacthan ơi… làm ơn xóa đoạn văn trên và đoạn văn này vì tôi nhớ lầm… Ông giáo già có tiếng là “dữ như tên VC gác cầu HIền Lương” năm xưa dạy chúng em cuốn “Lục Vân Tiên” chứ không phải là truyện Thúy Kiều! Lục Vân Tiên cũng có nhiều câu thơ bị “chế”nghe tếu lắm, nhưng em sẽ bàn đến trong một lần khác…
    Cám ơn bacthan nhiều…

  5. Tôi không có cái duyên được biết trang web của bác HHT nên đọc bài này muộn. Rất mê nên đọc ngược lại những bài cũ muốn xin góp ý, có thể các bác không để ý đến phần viết của tôi nhưng mong bạn nào đó cũng như tôi sinh sau đẻ muộn để mắt đến. Trí nhớ tôi cùn nên không nhớ rõ năm nào học ở Chu văn An và thầy Việt văn là ai song cũng như các bác câu thơ “sè sè một nấm bên đường” trong giờ học truyện Kiều cũng làm cả lớp chúng tôi cười bể bụng.Tiếng Việt ta phong phú dùng những chữ tả tình cảm lẫn lộn thật khó mà dịch ra ngoại ngữ một cách chính xác chẳng hạn “mẹ gặp con mừng mừng tủi tủi “, cười ra nước mắt và những âm tượng thanh tượng hình thật nên thơ như “nhè nhẹ, hiu hiu”. Ngày chị em Thúy Vân, Thúy Kiều đi tảo mộ gặp phải một ngôi mộ bỏ hoang, không người chăm sóc, cỏ mọc nửa vàng nửa xanh đã bị thời gian, mưa gió trôi mòn , đó chính là mộ của Đạm Tiên. Ngôi mộ không còn dạng của nó thấp lè tè có thể lầm là một mô đất, tôi nghĩ đó là ý của lời thơ. Lè tè đổi thành sè sè cho nó vần với rầu rầu ( không lẽ dùng tè tè thì nghe hơi chướng). Xin chờ nghe lời dạy cuả các bác.

    • Bác duongrong đoán trúng boong!! Thật ra, ngay từ thời trung học, khi đọc tới hai câu thơ này của cụ Nguyễn Du, bất cứ ai trong chúng ta cũng đều hiểu chữ “sè sè” cụ Tố Như dùng ở đây không có nghĩa “sè sè” một cách rất tượng thanh, lệch lạc như chúng ta cố ý hiểu để mua những trận cười trong lớp, thật là đắc tội với tiền nhân!!

      Thú thật trước khi bác giải thích chữ sè sè có nghĩa là thấp lè tè, tôi lại đoán chữ này có nghĩa như “buồn buồn” để hợp với câu dưới “Rầu rầu …” (có bản chép là “Dàu dàu …”). Dạ, “buồn buồn” chứ không phải buồn … ấy đâu ạ! Sau đó, khi tra tự điển Việt-Việt mới thấy câu trả lời của bác trúng phóc! Sorry bác, đố vui này không có thưởng!

      Chúc mừng và cám ơn bác đã giải đáp một “nghi vấn văn học” của tôi cách đây đã gần bốn chục năm rồi!

  6. “Quý vị có ý kiến ý cò gì về “nghi vấn văn học” này không?”

    Bác NP , có ý kiến mới rồi nè.

  7. 1) Thật ra nói T. Vân mặt mẹt là hơi nặng quá…các bác ạ :

    Đầu lòng hai ả tố nga
    Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân
    Mai cốt cách tuyết tinh thần
    Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
    Vân xem trang trọng khác vời
    Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
    Hoa cười ngọc thốt đoan trang
    Mây thua nước tóc tuyết nhường mầu da

    Mặt mẹt mà : Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da thì cũng đáng xây nhà vàng cho T. Vân ở chứ.

    2) Còn về chuyện Kiều…sè sè…thì em nghĩ đám thứ ba học trò…phá cho vui vậy thôi chứ làm gì mà cỏ trở thành màu vàng nhanh vậy được.

    Cũng như có 1 anh đố các bạn trong T. Kiều có bầu lúc nào???

    Kiều Bị Đánh Thuốc Mê
    Muốn bắt cóc Kiều hai tên đầy tớ của Hoạn Thư phải tưới thuốc mê cho nàng mê đi:
    ”Đầy sân gươm tuốt sáng lòa,
    “Thất kinh nàng chửa biết là làm sao.
    “Thuốc mê đâu đã tưới vào,
    “Mơ màng như giấc chiêm bao biết gì.”

    Các bác thấy rõ chưa:
    Thất kinh, nàng chửa…biết là làm sao…

    Chẳng qua em nghĩ đọc cho vui vậy thôi….

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: