• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Đất Hồ Ngàn Năm

Một đi từ biệt cung vua
Có về đâu nữa, đất Hồ ngàn năm…

Tản Đà — Nguyễn thiện Kế

 
Tu Dai Giai Nhan
 
Bao Tự, Tây Thi, Vuơng Chiêu Quân, Dương Quí Phi là Tứ Đại Giai Nhân của lịch sử Trung Hoa. Trong văn chương Vương Chiêu Quân là người đẹp được những thi sĩ Trung Hoa làm thơ ca tụng, thương tiếc nhiều nhất; Lý Bạch, Đỗ Phủ cùng có thơ về Chiêu Quân.

Bao Tự, Tây Thi, hai người đẹp đời Nhà Chu — sự tích hai nàng được ghi chép trong truyện trường thiên Đông Chu Liệt Quốc — Dương Quí Phi, tên thật là Dương Ngọc Hoàn, một tên khác là Dương Thái Chân, người đẹp đời Đừơng, Vương Chiêu Quân là giai nhân đời Hán.

Chiêu Quân tên thật là Vương Tường, khi nhập cung — khi được tuyển vào cung làm cung nữ, để dành cho Vua dùng, nhiều đời Vua Hán có đến 3.000 cung nữ chờ sẵn — được đặt tên là Chiêu Quân. Mấy trăm năm sau, qua đời nhà Tấn — những ông Vua Tấn là con cháu Tư Mã Ý, người là địch thủ của Khổng Minh trong những trận thư hùng đời Tam Quốc — vì Vua Tấn tên là Tư Mã Chiêu nên người đời ấy đổi tên Chiêu Quân ra là Minh Phi, vì “kỵ huý”: tránh trùng tên với tên Vua. Chiêu đồng nghĩa với Minh. Ở nước ta ông cha ta chẳng ngại gì Vua Tấn nên vẫn gọi Chiêu Quân bằng cái tên Chiêu Quân.

Đỗ Phủ không làm thơ về Dương Quí Phi, đây là bài thơ của Đỗ Phủ về Chiêu Quân:

MINH PHI CỐ LÝ

Quần sơn, vạn hác phó Kinh Môn
Sinh trưởng Minh Phi thượng hữu thôn.
Nhất khứ tử đài liên sóc mạc
Độc lưu thanh trủng đối hoàng hôn.
Họa đồ tỉnh thức xuân phong diện
Hoàn bội không qui nguyệt dạ hồn.
Thiên tải Tì Bà tác Hồ ngữ
Phân minh oán hận khúc trung luân.

Dịch nghĩa:

Ngàn núi, muôn suối đưa tới Kinh Môn
Làng cũ, nơi Minh Phi sinh trưởng, vẫn còn trên đó.
Một đi cung vua liền với sa mạc
Chỉ còn nấm mồ xanh dưới hoàng hôn.
Qua bức họa khó thấy được nét mặt đượm vẻ xuân
Người đẹp đeo ngọc nay chỉ còn hồn phách đi về trong những đêm trăng.
Ngàn năm đàn Tỳ Bà phổ khúc tiếng Hồ
Rõ ràng còn nói lên lời oán hận trong khúc nhạc.

QUÊ CŨ MINH PHI

Ngàn non, vạn suối đến Kinh Môn
Thôn cũ Minh Phi ở đỉnh non.
Một đi cung khuyết liền sa mạc
Ngàn năm mộ biếc dưới hoàng hôn.
Hoạ đồ còn đó xuân in mặt
Châu ngọc về đâu nguyệt đắm hồn.
Tì Ba muôn thưở đau Hồ nhạc
Nhạc ý thê lương oán hận còn.

H.H. Thủy phỏng dịch.

Và đây là bài thơ Chiêu Quân-Minh Phi của Lý Bạch:

MINH PHI

Hán gia, Tần địa nguyệt
Lưu ảnh chiếu Minh Phi.
Nhất thuớng Ngọc Quan đạo
Thiên nhai khứ bất qui.
Hán nguyệt hoàn tòng Đông Hải xuất
Minh Phi tây giá vô lai nhật.
Yên Chi trường hàn, tuyết tán hoa,
Nga my tiều tụy một Hồ sa
Sinh phạp hoàng kim uổng đồ họa,
Tử lưu thanh trủng xử nhân ta.

Dịch nghĩa:

Vầng trăng nơi cung Hán nay đến đất Tần
Chuyển bóng chiếu theo Minh Phi.
Một khi bước lên đường Ải Ngọc Quan
Là đi mãi đến chân trời, không trở lại.
Trăng Hán vẫn từ biển Đông mọc lên,
Minh Phi bị gả sang nuớc phiá Tây không ngày trở về.
Đỉnh Yên Chi lạnh mãi, tuyết trắng tung hoa,
Mày ngài rầu rĩ chìm trong cát bụi đất Hồ.
Lúc sống vì thiếu bạc vàng nên chân dung bị vẽ xấu
Khi chết để lại nấm mồ cỏ xanh cho người đời thương xót.

Dịch Thơ:

Xứ Tần trăng Hán tỏ
Rõi bóng chiếu Minh Phi.
Một lên đường Ải Ngọc
Bên trời biền biệt đi.
Trăng Hán vẫn mọc ngoài Đông Hải
Minh Phi sang Hồ không trở lại.
Lạnh lùng hoa tuyết núi Yên Chi
Cát bụi bay mù ngập thúy mi.
Sống thiếu cân vàng tranh vẽ nhọ
Chết phơi nấm đất cỏ xanh rì.

Trúc Khê

Thơ Đỗ Phủ, Thơ Lý Bạch về Chiêu Quân đều nói đến “thanh trủng“. Đây là chi tiết ly kỳ và thơ mộng nhất trong Huyền Thoại về cuộc sống và cái chết của Vương Chiêu Quân từ khi nàng sang đất Hồ làm vợ Chúa Thuyền Vu. “Thanh trủng” là mả xanh, mồ xanh. Huyền thoại kể rằng Chiêu Quân sang đất Hồ làm vợ Chúa Thuyền Vu — Vua Hồ — được chừng năm, sáu năm thì Chuá Thuyền Vu qua đời. Theo tục lệ của dân Hung Nô thời ấy khi ông bố chết tất cả những bà vợ của ông bố đều thuộc về người con trai thừa hưởng gia sản — Anh con trai có quyền “dùng” tất cả các bà vợ của ông bố, trừ bà mẹ đẻ ra anh ta — Dân Do Thái cách đây hai ngàn năm có tục lệ người anh chết nếu không có con, người em trai phải lấy chị dâu làm vợ để sinh con nối dõi cho anh.. Đây chỉ là một tục lệ có nguyên nhân là kinh tế: người con được hưởng tất cả những của cải của ông bố để giữ số của đó lại trong gia đình. Anh con trưởng Hung Nô chỉ chừa có bà mẹ đẻ ra anh là anh không được đụng đến, còn bao nhiêu vợ bé, nàng hầu, tì thiếp của ông bố anh đều thuộc quyền sở hữu và xử dụng của anh, chỉ khi anh chê nàng nào anh không dùng đến thì nàng ấy mới được nghỉ hưu, được ngồi chơi sơi nước. Chiêu Quân là người Hán, và người Hán không có cái tục lệ ấy. Phong tục và đạo lý Hán cho việc người con đụng đến những bà vợ của ông bố là loạn luân, là phạm trọng tội về đạo đức. Vì vậy nên Chiêu Quân — theo huyền thoại, theo tục truyền — sau khi Chuá Thuyền Vu chồng nàng chết, không chịu theo phong tục của dân Hung Nô, tức là nàng không chịu làm vợ anh con của ông chồng nàng, nàng tuyệt thực đến chết. Đất Hồ quanh năm tuyết trắng, trời đất lạnh giá đến nỗi cỏ cây, hoa lá đều chỉ có một mầu trắng tuyết. Cỏ trên tất cả những nấm mồ đất Hồ đều trắng, chỉ riêng cỏ trên mộ Chiêu Quân là mầu xanh. Danh từ “thanh trủng: mồ xanh” trong thi văn Trung Hoa do huyền thoại Vương Chiêu Quân mà ra.

Sau Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị là nhà thơ lớn thứ ba đời Đường làm thơ về Vương Chiêu Quân. Họ Bạch là tác giả bài Trường Hận Ca, bài thơ thật dài về cuộc tình Dương Quý Phi và Đường Minh Hoàng; bài thơ của ông về Vương Chiêu Quân lại thật ngắn, chỉ là một bài thất ngôn tứ tuyệt, bốn câu bẩy chữ thôi nhưng tình ý tha thiết và mới lạ. Khác với Lý, Đỗ ngỏ lời thương tiếc Vương Chiêu Quân, Bạch Cư Dị dùng ngay lời Vương Chiêu Quân để diễn tả tâm tình của nàng:

CHIÊU QUÂN TỪ

Hán Sứ khước hồi bằng ký ngữ
Hoàng kim hà nhật thục nga my?
Quân Vương nhược vấn thiếp nhan sắc
Mạc đạo bất như cung lý thì.

Dịch nghĩa:

Sứ giả nước Hán sắp về xin gửi lời hỏi
Ngày nào đem vàng bạc đến chuộc người đàn bà này?
Nếu Vua có hỏi về nhan sắc của thiếp
Xin đừng nói nay nhan sắc của thiếp không giống như thời thiếp còn ở trong cung.

Dịch Thơ:

BÀI HÁT CHIÊU QUÂN

Hán Sứ sắp về xin gửi nhắc
Ngày nào vàng ngọc chuộc nhau cùng?
Quân Vương nếu hỏi thăm nhan sắc
Đừnng nói không bằng lúc ở cung.

H.H. Thủy dịch

Trong thi ca Việt Chiêu Quân được nhiều nhà thơ Việt nhắc đến nhất. Chiêu Quân và tiếng đàn tì bà của nàng được tả trong đoạn Vương Thúy Kiều đánh đàn trong Hiên Lãm Thúy:

Quá quan này khúc Chiêu Quân
Nửa phần oán Chuá, nửa phần tư gia.

Đến hôm nay chúng ta vẫn chưa được biết đích xác Nguyễn Du viết Truyện Thơ Kiều vào năm nào, nếu cứ theo giả thuyết khi ông đi sứ sang Trung Quốc vào những năm 1813-1814, ông tìm được quyển tiểu thuyết Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân và phóng tác thành Truyện Thơ Kiều thì trước ông cả bốn trăm năm Vương Chiêu Quân đã đượùc nói đến — có thể là nói đến quá nhiều — trong thơ Việt Nam.

Những năm 1470 đến 1497 Vua Lê Thánh Tôn mở ra Hội Thơ Tao Đàn do chính Vua làm chủ hội với chức danh Tao Đàn Nguyên Soái. Cùng với 27 vị quan văn trong triều đình, Vua gọi nhóm thơ của mình là Nhị Thập Bát Tú — Hai mươi tám vì sao — Các vị ra đề tài, làm thơ xướng hoạ, ngâm vịnh với nhau. Người đời sau tập hợp thơ của các vị trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập. Điều đáng nói là tới cả mấy trăm năm sau những người làm thơ triều Nguyễn — như Nguyễn Du, Phan Huy Ích, Ngô Thời Nhiệm, Cao Bá Quát vv.. — vẫn làm thơ bằng chữ Hán, nhưng ngay trong đời vua Lê Thánh Tôn, Thế kỷ 15, những người làm thơ triều Lê đã làm rất nhiều thơ bằng tiếng Việt. Tất nhiên là vì không có chữ để ghi tiếng nói, các vị phải dùng chữ Hán biến cải đi để ghi lời Thơ thơ tiếng Việt.

Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập có tới 50 bài thơ Vịnh Vương Tường, tức Chiêu Quân-Minh Phi. Tới đây có một điều đáng kể, đó là vào đờùi nhà Trần — đời Vua trước nhà Lê: Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê… — ta có Công Chuá Huyền Trân được gả cho Vua Chiêm Thành. Việc này làm cho nước ta có thêm giải đất gồm hai châu Ô, Lý:

Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dậm,
Một gái Huyền Trân của mấy mươi…

Tình trạng Huyền Trân không hoàn toàn giống tình trạng Chiêu Quân song trên đại thể thì cũng là việc người phụ nữ, vì những nguyên nhân chính trị, quyền lợi quốc gia, phải đi ra nước ngoài lấy chồng và sống, chết ở xứ người. Nhưng các nhà thơ Hồng Đức đời Lê đã tỏ ra tha thiết, rạt rào tình ý làm những bài thơ về nàng Chiêu Quân bên Tầu mà hoàn toàn không nhắc gì đến nàng Huyền Trân người phụ nữ nước các ông, người sống trước các ông không xa lắm trong thời gian. Tôi thấy đây là một đặc tính không được khá mấy của ông cha ta thời xưa: đó là cái tật không nhắc, không nói đến triều vua trước. Điển hình là bài Hịch Tướng Sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Trong bài Hịch lịch sử này tác giả đề cao hành động trung nghĩa, yêu nước, hy sinh của những người nước ngoài với những cái tên lạ hoắc như Đường Ngột Ngạt, Xích Tu Tư, Vương Công Kiên ..vv, mà hoàn toàn không nêu lên làm gương những chiến công đời Lý của Lý Thường Kiệt, Tôn Đản. Phải chăng vì mặc cảm cướp ngôi và không muốn cho nhân dân nhớ đến đời vua trước nên cha ông ta đời Trần đã có thái độ không mấy đẹp ấy?

Bài thơ Vịnh Vương Tường phổ biến nhất, được nhiều người trong chúng ta biết nhất, của Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập, bài thơ đã có trước chúng ta 500 năm, là bài:

ĐẾ DỤ VƯƠNG TƯỜNG GIÁ HỒ

Vua khuyên Vương Tường đi làm dâu Rợ Hồ
Hán, Hồ số muốn vẹn trăm đường,
Há Trẫm thiên tư có phụ nàng.
Bắc quốc tuy rằng ngoài dị tục,
Vương đình xong cũng một biên phương.
Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt,
Về đấy sen tàn trổi cỏ hương.
Non nước quản chi xa thắc ấy,
Chờ ngày áo gấm lại hoàn hương.

Những vị thi sĩ đời Hồng Đức, sống trước chúng ta năm trăm năm, đã tưởng tượng ra lời Hán Nguyên Đế nói với Vương Tường để làm bài thơ trên. Bài thơ này có hai câu kỳ kỳ:

Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt,
Về đấy sen tàn trổi cỏ hương..

Ý hai câu thơ trên có thể được hiểu là: “…Ở đây nhiều người đẹp quá nên nhan sắc của nàng không nổi đình đám được bao nhiêu. Về đấy ít người đẹp nên nàng sẽ là người đẹp nhất..” Chắc chẳng có người phụ nữ nào trên cõi đời này ấm lòng, được an ủi khi phải nghe một câu vỗ về như thế.

Trước khi tả tiếng đàn nguyệt của Vương Thúy Kiều ai oán như tiếng đàn tì bà của Vương Chiêu Quân, Nguyễn Du đã nhắc đến Vương Chiêu Quân trong bài thơ “Dao vọng Càn Hải Từ“; bài thơ cho ta biết tấn thảm kịch cuối cùng của nhà Tống Trung Hoa. Quân Nguyên do Hốt Tất Liệt chỉ huy đánh chiếm Trung Hoa. Các tướng Tống đưa Vua Tống Đế Bính và bà Dương Thái Hậu — bà mẹ Vua Đế Bính — bỏ nước chạy ra đảo Hải Nam. Quân Nguyên đuổi theo đến đảo Hải Nam. Các tướng Tống đưa Vua và Thái Hậu xuống thuyền chạy xuống miền nam. Nhưng không kịp. Vua Tôi nhà Tống ôm nhau nhẩy xuống biển tự tử. Tục truyền Vua Tống Đế Bính còn ít tuổi, sợ không dám nhẩy xuống biển, một vị quan ôm Vua nhẩy ra khỏi thuyền. Tống Thái Hậu, bà mẹ Vua, cùng hai công chúa, cũng nhẩy xuống biển. Xác Dương Thái Hậu trôi vào cửa biển gọi là Cửa Cờn ở huyện Quỳnh Lưu nước ta. Dân ta vớt xác Dương Thái Hậu lên và lập đền thờ bà ở Cửa Cờn. Vào một chiều thu muộn, Nguyễn Du đi thuyền qua biển ngang Cửa Cờn, nhìn thấy ngôi miếu ở xa xa và làm bài thơ:

DAO VỌNG CÀN HẢI TỪ

Nhìn Đền Cờn từ xa
Mang mang hải thủy tiếp thiên khu,
Ẩn ước cô từ xuất tiểu chu.
Cổ mộc hàn liên phù chử mộ,
Tình yên thanh dẫn hải môn thu.
Hào thiên tướng tướng đan tâm tận,
Phủ địa Quỳnh Nhai khối nhục vô.
Tiếu nhĩ Minh Phi trường xuất tái,
Tỳ-bà, bôi tửu khuyến Thuyền Vu.

Dịch nghĩa:

Xa trông Đền Cờn
Mênh mông nước biển tiếp trục trời,
Thấp thoáng ngôi đền lẻ loi ló ra trên bãi biển nhỏ.
Hơi lạnh của cây cổ thụ liền với sắc chiều trên bãi chim le le,
Màu xanh của khói lam tỏa ra đưa hơi thu đến cửa biển.
Tướng văn, tướng võ kêu trời đến hết lòng son,
Vỗ đất ở Quỳnh Nhai (Hải Nam) khóc vì hòn máu độc nhất (của Nhà Tống) không còn nữa.
Đáng cười thay nàng Minh Phi khi đi ra cửa ải
Gẩy đàn tỳ-bà và mời rượu Chúa Thuyền Vu.

Ý thơ trong bài “Dao vọng Càn Hải Từ” ca tụng những người chịu chết, dù là chết thảm, chứ không chịu sống nhục, và chê Chiêu Quân Minh Phi đã không dám chết khi phải sang Hồ, vẫn sống ở đất Hồ để phục vụ cha con Chuá Thuyền Vu.

Như vậy, với lời chỉ trích ấy, Nguyễn Du đã đánh nhẹ vào cái gọi là “Huyền thoại Vương Chiêu Quân“: Chiêu Quân sang đất Hồ nhưng thương nhớ đất Hán và chết, riêng mộ nàng có cỏ xanh trong khi cỏ trên tất cả những nấm mồ đất Hồ đều là cỏ trắng

Và đây là bài Văn Tế Chiêu Quân của Tản Đà. Nhà thơ Núi Tản, Sông Đà viết về bài thơ:

Bài này khi tôi ở chơi Chùa Tiên viết bằng chữ Nho để tế nàng Chiêu Quân giữa đêm hôm 13 Tháng Ba năm Duy Tân thứ bẩy. Sau về đến Nam Định, quan Huyện Nẻ mới dịch ra nôm cho. Tản Đà.”

VĂN TẾ CHIÊU QUÂN

Sắc diễm tuyệt thế. Mệnh bạc vô thiên
Hán cung nhất biệt. Hồ điạ thiên niên
Thanh trủng lưu hận. Hoàng tuyền cô miên
Thương tai hồng nhan. Y hồ nãi nhiên
Ô hô Chiêu Quân..!
Phương cốt hữu tận
U hám vô kỳ
Minh nguyệt độc cử. Ám vân không thùy
Tinh chiên phỉ loại. Điếu tế y thùy
Thương tai hồng nhan
Linh hồn hà tại ?
Hiếu
Thiên Nam cùng sĩ. Sơn Tây tiên sinh
Cách đại, dị quốc. Cộng bi đồng tình
Viên trân phỉ lễ. Vọng bái trung đình
Hồn lễ dư tá. Giá dĩ dư hành.

“Sắc đẹp tuyệt trần, mệnh bạc chẳng còn trời đất nào. Một đi khỏi Cung Hán, ngàn năm ở Đất Hồ. Oán hận còn ở trên mả xanh, suối vàng ngủ một mình. Thương thay hồng nhan, cuộc đời đến như thế. Ôi..Chiêu Quân ơi..Xương thơm có ngày mất, u hận còn mãi. Trăng sáng có một mình, mây mờ dăng mắc. Ở chốn hôi tanh, có ai cúng tế. Thương thay hồng nhan. Linh hồn về đâu?

“Hiếu: Kẻ cùng sĩ ở trời Nam, cách đời, khác nước với nàng, cùng buồn sầu với nàng. Một chút lễ bạc, tế nàng trước sân này. Nếu hồn nàng về, đưa tôi cùng đi.”

Nặng tình với nàng Chiêu Quân Người Đẹp Tầu đến như Thi sĩ Tản Đà là thứ nhất Bắc Kỳ, thứ nhất luôn cả Đông Dương. Trong văn tế Thi sĩ hai lần kêu lên: “Thương tai hồng nhan: Thương thay người đẹp..” Song người đời sau chỉ nhớ và nhắc đến việc Thi sĩ tế Chiêu Quân qua bài thơ tiếng Việt của ông Huyện Nẻ Nguyễn thiện Kế. Nói rằng Nguyễn thiện Kế đã dịch bài thơ Tế Chiêu Quân bằng chữ Hán của Tản Đà ra thơ lục bát tiếng Việt là không đúng hẳn. Nguyễn thiện Kế chỉ mượn ý bài thơ Tế Chiêu Quân bằng chữ Hán của Tản Đà để làm ra bài thơ lục bát tiếng Việt hoàn toàn Việt Nam, không có qua một âm Tầu nào:

Cô ơi… Cô đẹp nhất đời
Mà cô mệnh bạc Thợ Trời cũng thua.
Một đi từ biệt cung vua
Có về đâu nữa, đất Hồ ngàn năm.
Mả xanh còn dấu còn căm
Suối vàng lạnh lẽo cô nằm với ai?
Má hồng để tiếc cho ai
Đời người như thế có hoài mất không!
Khóc than nước mắt ròng ròng
Xương không còn vết, giận không có kỳ.
Mây mờ, trăng bạc chi chi
Hôi tanh thôi có mong gì khói nhang.
Ơi hồng nhan, hỡi hồng nhan!
Khôn thiêng cũng chẳng ai van, ai mời.
Trời Nam thằng kiết là tôi
Chùa Tiên đất khách, khóc người bên Ngô.
Cô với tôi, tôi với cô
Trước sân lễ bạc, có mồ nào đây.
Hồn cô có ở đâu đây
Đem tôi đi với, lên mây cũng đành.

Tôi đọc bài thơ trên những năm tôi mới mười, mười một tuổi — những năm đầu thập niên 40 — cũng như nhiều người tôi không nhớ được toàn bài, cũng như nhiều người tôi nhớ được bốn câu đầu. Vào cái tuổi chưa biết đời, chưa biết yêu, chưa biết đàn bà, con gái ấy tôi đã cảm khái vì bốn câu đầu của bài thơ. Tôi nhớ bốn câu ấy trong suốt năm mươi năm trời dù chẳng một lần nào tôi đọc lại toàn bài:

Cô ơi… Cô đẹp nhất đời
Mà cô mệnh bạc Thợ Trời cũng thua.
Một đi từ biệt cung vua
Có về đâu nữa, đất Hồ ngàn năm…

Nhưng thực ra Vương Chiêu Quân đi sang đất Hồ làm Yên Chi — Yên Chi là tên gọi hoàng hậu xứ Hung Nô — có nhớ thương cung Hán, có nhớ thương đất Hán, có không chịu làm vợ anh Chuá Thuyền Vu con cuả chồng nàng, có tự tử , cỏ trên mộ nàng có mầu xanh trong khi cỏ trên tất cả những ngôi mộ Hồ khác đều là cỏ trắng… hay không???

Tất cả những chuyện thơ mộng, ly kỳ, ai oán người đời truyền tụng về cuộc sống của Chiêu Quân ở Hung Nô đều chỉ là huyền thoại, là chuyện không có thật. Bộ Hán Sử của Trung Hoa ghi rõ sự tích Vương Chiêu Quân. Sự tích ghi trên giấy mực trong lịch sử chính thống của triều đại:

Khi Chuá Thuyền Vu Già từ trần, theo phong tục Hung Nô bao nhiêu của cải, kể cả những bà vợ của ông Vua Già vừa qua đời đều thuộc quyền sở hữu của ông Vua Trẻ lên kế vị. Theo phong tục ấy Chiêu Quân trở thành vợ ông Vua Con con của chồng nàng. Từ sau khi Chiêu Quân sang Hồ chiến tranh Hán-Hồ tạm ngừng; hai nước có bang giao tốt, có sứ giả qua lại, có cả toà đại sứ. Chiêu Quân viết thư về hỏi triều đình Hán nay Chuá Thuyền Vu chồng nàng chết, phong tục Hung Nô làm nàng trở thành vợ của ông con chồng, nàng phải làm sao? Theo đúng công pháp quốc tế và rất không “sô-vanh nước lớn” một ly ông cụ nào triều đình Hán trả lời Chiêu Quân: nàng đã về sống ở đất Hồ nàng phải theo phonng tục Hồ. Điều này có nghiã là triều đình Hán không có ý kiến gì về việc nàng trở thành vợ Ông Chuá Thuyền Vu mới.

Hán Sử ghi rõ Chiêu Quân trở thành vợ ông vua con. Chiêu Quân với ông này ngang tuổi nhau và nàng được Ông Vua Con yêu thương, nàng sống có hạnh phúc với Ông Chúa Thuyền Vu Trẻ. Nàng sinh hạ với ông Chuá Trẻ hai công chuá. Hai vị phò mã con rể của Chiêu Quân từng có thời đến làm một chức vụ tương đương với chức vụ đại sứ của Hung Nô ở kinh đô nhà Hán. Chiêu Quân chết già trong bình yên ở đất Hồ. Mộ nàng cũng y hệt như trăm ngàn ngôi mộ ở đất Hồ. Nói rõ hơn là mộ nàng chẳng có cỏ xanh, cỏ biếc chi hết. Cái gọi là “Thanh trủng” — riêng cỏ trên mộ Chiêu Quân có mầu xanh — là chuyện do người Tầu đời sau bầy đặt ra.

Tại sao lại bầy đặt ra và để làm chi vậy? Theo tôi nghĩ chuyện đó được đặt ra là để xoa dịu lòng tự ái bị tổn thương của các vị quân tử Tầu. Cái gọi là lòng tự ái dân tộc Đại Hán chí tôn, chí quí trong thiên hạ bị sứt mẻ, bị trầy trụa nhiều vì việc vợ bé của Hán Thiên Tử phải đi làm vợ một ông vua ngoại quốc. Quân tử Tầu chuyên môn từ đời ông, đời cha, đời Bành Tổ, đời Khương Tử Nha, đời Mã Viện, đời Khổng Minh.. đi xâm lăng những quốc gia khác, đi chinh phục những dân tộc khác, bắt đàn bà, con gái đẹp của những dân tộc khác về làm tì thiếp, quân tử Tầu hết sức cay đắng và cay cú vì việc vợ ông vua của họ — dù chỉ là cung phi, nhưng cung phi cũng là đàn bà để cho vua dùng, mà đã là của vua là không người nào khác được đụng đến — phải đi phục vụ vua nước khác. Việc Vua Hán phải cho Chiêu Quân sang Hồ theo lời yêu cầu của Chuá Thuyền Vu không khác gì việc nhà Hán phải cống nạp, phải dâng nộp bảo vật để khỏi bị chiến tranh. Nhưng quân tử Tầu cay cú mà không làm gì được, sự việc nó rành rành, sờ sờ và lù lù ra đấy, họ đành xoa dịu lòng tự ái của họ bằng cách bầy đặt ra chuyện Chiêu Quân sang Hồ mà vẫn nhớ thương đất nước, Chiêu Quân tự tử chết chứ không chịu sống với “bọn hôi tanh” và ở đấy mộ người toàn cỏ trắng, riêng mộ Chiêu Quân cỏ sắc xanh.

Chuyện tưởng tượng, chuyện bầy đặt, song chúng ta cũng phải nhìn nhận cái chuyện tưởng tượng, chuyện bầy đặt ấy mới thơ mộng làm sao, đẹp và cảm khái đến là chừng nào. Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị và nhiều nhà thơ Tầu khác tất nhiên là có đọc Hán Sử, chắc các ông phải biết chuyện “Chiêu Quân thanh trủng” chỉ là huyền thoại, là chuyện không có thật, nhưng các ông vẫn cứ cho là có thật và các ông cứ mần thơ thương tiếc Chiêu Quân.

Người Việt chẳng mấy ai đọc Hán Sử, nhưng nhiều người Việt đọc Thơ Tản Đà, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị và nhiều người Việt biết chuyện Chiêu Quân Cống Hồ, những người Việt này — chắc như bắp rang, như cua gạch — sẽ mãi mãi cảm khái về chuyện “mộ xanh” của Chiêu Quân, sẽ mãi mãi tin rằng Chiêu Quân sống không hạnh phúc, chết trong sầu hận ở đất Hồ, và riêng cỏ trên mộ nàng có mầu xanh trong khi cỏ trên tất cả những ngôi mộ khác trên đất Hồ đều mầu trắng.

Tưởng tượng luôn luôn đẹp hơn thực trạng, huyền thoại thường thơ mộng hơn chính sử. Đẹp và thơ mộng là tính chất, là ý nghĩa và là nguyên tố tồn tại của tưởng tượng và huyền thoại. Nhờ tưởng tượng và huyền thoại loài người sống, và chết, đỡ khổ sở hơn. Công chuá Huyền Trân của ta đi xuôi theo biển xuống phiá nam làm vợ vua Chiêm Thành, cũng không được mấy năm Vua Chiêm băng hà, theo phong tục Chiêm thời ấy các bà vợ Vua bị hoả táng — lên dàn hoả thiêu sống — để chết theo Vua, để tiếp tục hầu hạ Vua ở cái gọi là thế giới bên kia. Triều đình ta cứu Công chuá ta bằng cách cho phái đoàn sứ giả vào thành Đồ Bàn điếu tang, lén đưa Công chuá ta an toàn trở về Thăng Long. Một loại điệp vụ cứu người giống như những truyện “Mission Impossible” chiếu trên băng tần 9 Đài TiVi Quân Đội Hoa Kỳ chúng ta xem nhờ ngày nào — ngày nào đây là những ngày trước năm 1973, năm đơn vị quân đội Mỹ rút ra khỏi chiến tranh Việt Nam — Thi sĩ Tản Đà không làm bài thơ nào về Huyền Trân nhưng dù có làm chắc tình tiết cũng không thể làm ta cảm khái bằng ông làm thơ thương khóc Chiêu Quân..

Cô ơi… Cô đẹp nhất đời
Mà cô mệnh bạc Thợ Trời cũng thua.
Một đi từ biệt cung vua
Có về đâu nữa, đất Hồ ngàn năm…

*****

Ngay từ cuối Thế kỷ 15 hình ảnh Vương Chiêu Quân, nàng cung phi nhà Hán bên Tầu, sang Hồ làm vợ Chuá Thuyền Vu, với mộ xanh, cỏ biếc, đàn tỳ-bà, đất Hồ quanh năm tuyết trắng… đã đến trong thi ca của ta. Như đã nói, tập thơ nôm Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập, đời Vua Lê Thánh Tôn — 1470-1497 — có tới hơn 50 bài thơ xướng họa về đề tài Chiêu Quân cống Hồ, Chiêu Quân hoà Phiên. Từ đó, các vị sứ thần nước ta, năm năm sang tuế cống, triều cống “thiên triều Trung Quốc”, thường làm những bài thơ vịnh cảnh Mộ Chiêu Quân, Quê Cũ Minh Phi. Đến những năm đầu Thế kỷ 20 Thi sĩ Tản Đà: “Hiếu… Thiên Nam cùng sĩ..”, làm bài Văn Tế Chiêu Quân; trong những năm giữa Thế kỷ 20 Thi sĩ Hoàng Cầm nhắc đến tiếng đàn tì-bà của Chiêu Quân trong bài thơ:

NẾU ANH CÒN TRẺ

Nếu anh còn trẻ như năm cũ
Quyết đón em về sống với anh.
Để những chiều vàng phơ phất lại
Anh đàn, em hát níu xuân xanh.
Có mây bàng bạc gây thương nhớ
Có ánh trăng vàng soi giấc mơ
Có anh ngồi lặng so phím cũ
Mong chờ em hát khúc xuân xưa.
Nhưng thuyền em buộc bên sông hận
Anh chẳng quay về với trúc tơ.
Ngày tháng tỳ-bà vương ánh nguyệt
Mộng héo bên song vẫn đợi chờ.
Nếu có ngày nào em quay gót
Trở về thăm lại bến thu xa
Thì đôi mái tóc không xanh nữa
Mây bạc, trăng vàng vẫn thướt tha.

Và tôi, trong những đêm buồn những năm 1981, 1982, trên căn gác Hoàng Hạc của vợ chồng tôi ở Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, đọc thơ người xưa tôi cảm khái vì chuyện mồ xanh, cỏ biếc của Vương Chiêu Quân ở đất Hồ, tôi làm bài thơ:

SẮC CỎ

Ở đấy mộ người toàn cỏ trắng
Riêng mộ người yêu cỏ sắc xanh.
Đêm mưa, đèn tắt, thành xưa vắnng
Thương nhớ tình ta chỉ một anh.
Em đi mùa ấy mưa hay nắng?
Đời vắng Khanh đời chỉ nhớ Khanh.
Lầu vàng, nhà cỏ rồi yên lặng
Phố chợ, rừng hoang cũng vắng tanh.
Người yêu, người ghet đều quên lãng
Chẳng còn em cũng chẳng có anh.
Mồ em cỏ ấy vàng hay trắng?
Anh biết mồ anh cỏ sắc xanh.

Tôi biết chuyện ở đất Hồ chỉ riêng mộ Vương Chiêu Quân có cỏ xanh là chuyện hoang đường, chuyện không có thật, chuyện do người đời sau đặt ra, nhưng chuyện ấy mới đẹp, mới thơ mộng, mới ấm lòng làm sao! Chuyện ấy nói lên việc con người có linh hồn và linh hồn chúng ta còn mãi sau khi thân xác chúng ta chết, mất: “Thác là thể phách, còn là tinh anh..” Có người cho rằng vì con người sợ chết nên bầy đặt ra chuyện linh hồn sống mãi để tự an ủi. Thì cũng đã sao? Những chuyện như thế giúp cho chúng ta đỡ khổ cực hơn, đỡ đau thương hơn khi chúng ta đang sống.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: