• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Trăm Năm Binh Lửa

Trích và bình tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí.

BÀ CHÚA CHÈ

Kính gửi bạn đọc,

Tôi đã nhiều lần đọc bộ lịch sử tiểu thuyết Hoàng Lê Nhất Thống Chí — HLNTC. Tôi đọc lần thứ nhất năm 1960. Tuổi đời nhiều hơn, có nhiều kinh nghiệm sống hơn, mỗi lần đọc lại tôi càng thấy giá trị và sức hấp dẫn của HLNTC . Tác phẩm ngời ngời sức sống, lôi cuốn như nước dòng sông lớn. Tôi có ý định viết những cảm nghĩ của tôi khi đọc HLNTC. Mỗi kỳ báo tôi sẽ trích đăng một đoạn truyện HLNTC với Lời Bàn của tôi. Hôm nay xin gửi tới bạn bài BÀ CHÚA CHÈ.

Rừng Phong, Tháng Năm 1999.
Hoàng Hải Thủy

***** 

Mời bạn đọc những trang đầu Hoàng Lê Nhất Thống Chí:

HỒI THỨ NHẤT

Đặng Tuyên Phi được yêu dấu, đứng đầu hậu cung.
Vương Thế Tử bị truất ngôi, ra ở nhà kín.

Triều Lê Trang Tông Dụ hoàng đế — tức Vua Lê Trang tông, tên là Duy Ninh (1533 – 1548) — trung hưng cơ nghiệp ở Sông Tất Mã. Bấy giờ Thế Tổ Minh Khang Vương Trịnh Kiểm làm phụ chính, giúp vua dẹp yên được đảng họ Mạc, Vua Lê trở về kinh đô cũ. Rồi tứ đó họ Trịnh đời đời nối tiếp tước vương, nắm giữ hết quyền bính trong tay, hoàng gia mỗi ngày một suy yếu.

Truyền đến đời Hiển tông Vĩnh hoàng đế — Vua Lê — niên hiệu Cảnh hưng (1740 – 1786) thì Thánh tổ Thịnh Vương — Chúa Trịnh — chuyên quyền cậy thế, làm oai, làm phúc; Vua Lê chỉ còn chắp tay, rủ áo ngồi làm vua bồ nhìn.

HLNTCThịnh Vương — tức Trịnh Sâm — là người cứng rắn, thông minh, quyết đoán, sáng suốt, trí tuệ hơn người, có đủ tài văn võ, đọc nhiều kinh sử, biết viết văn, làm thơ. Từ khi Thịnh vương lên ngôi chúa từ những kỷ cương trong triều đến việc chính trị trong nước, hết thảy đều được sửa đổi; bao nhiêu tướng giặc, đảng nghịch đều bị dẹp tan. Chúa có cái chí muốn làm bá chủ, nào diệt giặc Trấn Ninh, nào phá bọn Công Chất.

Một hôm Tiệp dư Trần thị Vinh sai nữ tỳ Đặng thị Huệ bưng một khay hoa tươi đến trước chỗ Chúa ngồi. Ả họ Đặng này quê ở làng Phù Đổng, mắt phượng, mày ngài, vẻ người mười phần xinh đẹp. Chúa nom thấy rất vừa mắt, bằng lòng, bèn tư thông với ả.

Từ đó Thị Huệ càng ngày càng được Nhà Chúa yêu quí, ả nói gì Chúa cũng nghe, ả xin gì Chúa cũng cho, ngay cả đến những việc nước Chúa cũng bàn với ả. Rồi ả được ở chung một chỗ với Chúa, sống gần nhau y như vợ chồng thường dân. Xe kiệu, đồ dùng của ả đều giống như của Chúa.

Thị Huệ được Chúa yêu thương, chiều chuộng nên trở thành lộng hành. Hễ có chuyện gì không vừa ý là ả xây xẩm mặt mày, rồi kêu khóc thảm thiết để làm rối lòng Chúa.

Chúa có một viên ngọc dạ quang, lấy được trong khi đi đánh dẹp phương nam, vẫn xâu ở trên đầu khăn làm đồ trang sức. Một hôm Thị Huệ cầm xem viên ngọc, Chúa nói:

— Cẩn thận. Đừng làm ngọc xây xát.

Thị Huệ ném ngay viên ngọc, khóc:

— Quí báu gì cái này. Chẳng qua vào Quảng Nam kiếm trả Chúa viên khác là cùng. Sao Chúa nỡ trọng của mà khinh người như vậy ?

Rồi ả tự ý bỏ ra cung khác, từ chối không gập Chúa. Chúa phải dùng nhiều cách dỗ dành cho ả vui lòng, lúc ấy ả mới chịu làm lành với Chúa.

Đến khi Thị Huệ có mang, Chúa sai người đi lễ bái khắp các chùa, đền miếu trong nước để cầu sinh con thánh. Đến kỳ, vào năm Đinh Dậu, niên hiệu Cảnh hưng Ba Mươi Tám (1777) Thị Huệ sinh con trai. Chúa hết sức yêu mến đứa bé, lấy tên riêng của mình lúc nhỏ là Cán đặt cho con, tỏ ý muốn con sẽ giống mình.

Khoa thi hươnng năm ấy Chúa lấy hai câu: “Sơn xuyên anh dục, hà hải tú chung” — nghĩa nôm: “Khí thiêng sông núi tụ lại, tốt đẹp hồ biển đúc nên“, ý chỉ Trịnh Cán — làm đề thi. Các quan văn võ đưa đón ý Chúa có người lấy bốn chữ “Tinh hưng, hải nhuận” — Sao sáng, biển hòa — làm câu chúc mừng Chúa.

Khi Vương tử Cán đầy tuổi tôi cốt cách, tướng mạo đẹp đẽ, sáng rỡ khác hẳn người thường. Đến khi biết nói Vương tử ăn nói gẫy gọn, đường hoàng không kém gì người lớn. Mỗi khi các quan văn võ vào thăm Vương tử tiếp đãi thật nghiêm chỉnh. Có người cách hàng năm mới gập lại Vương tử vẫn nhớ đúng họ tên, kể lại chuyện cũ vanh vách. Chúa sai quan từ hàn làm bài tụng 16 chữ để A Bảo dậy truyền miệng cho Vương tử. Vương tử chỉ nghe qua một lượt là thuộc liền. Thấy Vương tử Cán thông minh, Chúa càng yêu quí bội phần.

Do đó Thị Huệ nẩy ra ý định cướp ngôi Thế tử cho con mình.

Khi ấy Thịnh vương đã có Thế tử — con trai trưởng, người sẽ nối ngôi Vương — là Trịnh Tông — Sau đổi tên là Trịnh Khải — Trịnh Tông do bà thái phi họ Dương sinh ra. Thái phi tên là Ngọc Hoan, người làng Long Phúc, huyện Thạch Hà. Chị nàng là cung tần của Ân vương — cha của Thịnh vương, tức Trịnh Doanh — bà này sinh ra Thụy quận công, được Ân vương hết sức yêu quí. Nhờ chị, thái phi Ngọc Hoan được tuyển vào làm cung tần của Thịnh vương. Vào cung cả năm trời nàng không được Chúa gọi đến dùng một đêm, nàng vẫn sống cô quạnh trong đợi chờ. Bỗng một đêm nàng nằm mơ thấy vị thần đem cho nàng tấm đoạn có vẽ hình đầu con rồng. Không hiểu đó là điềm gì nàng kể chuyện giấc mộng với quan hầu là Khê trung hầu. Khê trung hầu cho đó là điềm sinh con thánh.

Mấy đêm sau Chúa cho gọi cung tần Ngọc Khoan vào hầu. Khê trung hầu cố ý giả vờ nghe lầm, đưa Thái phi Ngọc Hoan đến. Thấy Ngọc Hoan, Chúa không thích nhưng đã gọi đến không nỡ đuổi về. Bèn cho hầu. Hôm sau Chúa đòi Khê trung hầu vào quở mắng, Khê trung hầu cúi đầu tạ tội, đoạn thuật rõ chuyện Thái phi nằm mơ cho Chúa nghe. Chúa nín lặng không nói gì.

Thái phi Ngọc Hoàn được qua một đêm mưa móc bèn có thai. Đến kỳ nàng sinh con trai. Đó là năm Quý Mùi, Cảnh Hưng hai mươi tư (1763).

Chúa tự nghĩ đầu rồng tuy có khí tượng làm vua nhưng là rồng vẽ, không phải rồng thật, mà lại chỉ là đầu rồng không có đuôi rồng. Chưa hẳn là điềm thật tốt. Vả lại ở triều trước bọn Trịnh Cối, Trịnh Lệ cũng do người làng Long Phúc sinh ra và đều mưu sự phản nghịch. Trịnh Cối là con thứ Trịnh Kiểm, Trịnh Lệ là con Trịnh Doanh. Hai người này làm loạn tranh ngôi Chúa nhưng đều thất bại.

Do đó Chúa có ý không vui. Các quan vào chúc mừng, Chúa nói đứa con ấy không phải do vợ cả sinh ra, từ chối không nhận lời mừng.

Khi Thế tử Tông lớn lên dung mạo rất khôi ngô nhưng cũng vẫn không được Chúa thương yêu.

Thế tử Tông thích võ nghệ, không thích đọc sách. Năm Thế tử lên bẩy Chúa sai Nguyễn Khản, tiến sĩ khoa Canh Thìn (1760), làm tả sư giảng, và Trần Thản, tiến sĩ khoa Kỷ sửu (1769) , làm hữu tư giảng, giảng dậy kinh điển cho Thế tử. Nhưng chẳng bao lâu Thản chết, còn Khản thì được Chúa tin dùng, phải quán xuyến nhiều công việc, nên không mấy khi đích thân đến giảng dậy cho Thế tử. Chỉ có năm bẩy viên tùy giảng dậy Thế tử học mà thôi. Chuyện đó Chúa cũng có biết nên lại càng không bằng lòng.

Theo lệ, Thế tử nối ngôi hễ đến mười hai tuổi thì phải ra ở Đông cung . Bấy giờ các quan có tâu trình việc ấy, song Chúa không cho, bắt Thế tử ra ở nhà riêng của Quan A Bảo là Hân Quận Công Nguyễn Đĩnh. Như vậy ngôi Đông Cung vẫn bỏ trống, như có ý chờ đợi người khác.

Đến năm Thế Tử Tông mười lăm tuổi thì Vương tử Cán ra đời. Chúa càng ngày càng yêu dấu Vương tử Cán. Ba năm nữa Thế tử Tông mười tám tuổi. Theo lệ Thế tử được mở phủ riêng, nhưng lúc đó các quan chẳng ai dám nhắc đến chuyện này mà Chúa thì làm như quên luôn.

Như thế là người nối ngôi Chúa vẫn chưa được định, lòng người phân vân. Trong phủ Chúa sinh ra hai đảng : đảng phò Thế tử Tông, đảng theo Đặng thị Huệ phò Vương tử Cán.

Thị Huệ thấy Thế tử Tông đã khôn lớn còn con mình quá nhỏ nên cố mua chuộc lòng người để gây thế lực.

Khi ấy Huy quận công Hoàng tố Lý — trước tên là Hoàng đăng Bảo — đang được Chúa trọng dụng, nắm quyền quân sự. Huy quận công và Đặng thị Huệ liên kết với nhau.

Quận Huy người làng Phụng Công, là cháu Bình Nam Thượng Tướng quân Việp quận công Hoàng ngũ Phúc. Quận Huy vẻ người thanh dật, là tay văn võ toàn tài. Khoa thi hương năm Ất Dậu (1765) Huy đi thi được trúng cách; đến khoa thi võ năm Bính Tuất (1766) Huy lại đỗ luôn tạo sĩ. Hồi ấy Chúa Trịnh Ân vương đang trọng dụng Quận Việp nên gả con gái thứ cho Quận Huy.

Uy quyền của Quận Việp mỗi ngày một lớn. Có người cho rằng quyền thần mà thế lực quá mạnh thì sẽ xẩy ra chuyện thoán nghịch. Thời ấy có câu sấm “Nhất thỉ trục quần dương” — Một con lợn đuổi đàn dê — nên có kẻ tán rằng : Thỉ là Quận Huy, Quận Huy tuổi Hợi — Tuổi Lợn — dương là Chúa Trịnh và Thế tử Tông, cả hai đều tuổi Mùi — tuổi Dê. Rồi những kẻ hiếu sự còn đặt ra câu sấm: “Thảo nhất, điền bát” để chỉ chữ Hoàng, là họ của chú cháu Hoàng ngũ Phúc và Hoàng đăng Bảo vv. Sợ thiên hạ dị nghị Quận Việp bảo Quận Huy đổi tên từ Đăng Bảo ra Tố Lý.

Ngưng trích.

Lời bàn của Công Tử Hà Đông:

Ngay trang đầu của Hoàng Lê Nhất Thống Chí đã thấy xuất hiện nữ nhân vật Đặng thị Huệ. Những năm 1940 ta có quyển tiểu thuyết lịch sử nhan đề “Bà Chúa Chè” — dường như tác giả Bà Chúa Chè là ông Phan trần Chúc. Đặng thị Huệ người làng Phù Đổng, làng của Đức Thánh Gióng ngựa sắt, thương sắt, đánh giặc Ân ngày xưa. Làng Phù Đổng nằm ngay bên bờ đê sông Đuống. Quanh đó là ba bốn làng mang tên Phù : Phù Lưu, Phù Dực và Phù Chẩn. Đặc biệt làng Phù Chẩn có tên nôm là Làng Cháy. Tục truyền khi Thánh Gióng mặc giáp sắt, cầm cây thươnng sắt, nhẩy lên lưng ngựa sắt, thúc ngựa đi đánh giặc Ân, con ngựa sắt chồm lên, hí một tiếng lớn; lửa từ họng ngựa sắt phun ra làm cháy làng Phù Chẩn ở cách đó một cánh đồng. Từ đó làng Phù Chẩn có tên là Làng Cháy.

Phù Chẩn, Phù Đổng, Phù Lưu, Đình Bảng… Những tên làng gợi cho tôi nhớ lại những năm tháng xanh xưa khi tôi mới mười lăm, mười sáu tuổi tôi tham gia kháng chiến chống Pháp ở vùng đất ngày xưa có cái tên thơ mộng là Kinh Bắc. Tôi từng sống trong hai làng Phù Đổng, Phù Chẩn, từng nhiều lần một mình tha thẩn vào chơi trong đình làng Phù Đổng. Đình làng thật lớn, có cặp rắn xanh cũng thật lớn thường nằm vắt trên nhữnng cây xà đình trông dễ sợ. Hội Gióng là một hội lớn trong vùng. Tôi không được dự hội lần nào. Những năm thanh bình trước 1945 mỗi năm làng mở hội vào mùa xuân, tôi sống ở Hà Đông, và tôi còn nhỏ không được về quê để tối đến theo các anh em trong làng qua sông Đuống sang chơi Hội Gióng. Những năm kháng chiến tôi sống ở Kinh Bắc, lại sống ngay trong làng Phù Đổng nhưng đang thời chiến tranh — phi cơ Spitfire từ phi trường Gia Lâm bay lên chỉ bay nhấp nháy mấy phút là tới Tiên Du, Từ Sơn — làng Gióng không thể mở hội, dù là hội đêm.

Những làng Phù Đổng, Phù Chẩn, Phù Lưu, Đình Bảng thời tôi sống ở đó thuộc phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Từ làng Phù Đổng đi xuôi theo dòng sông Đuống — một chi nhánh của sông Hồng: Ai về bên kia sông Đuống.. Có nhớ từng khuôn mặt búp sen. Những cô hàng xén răng đen.. Cười như mùa thu tỏa nắng.. Hoàng Cầm — đi về hướng đông chừng năm bẩy cây số là sang địa phận huyện Tiên Du. Ông cha ta nói cảnh sắc nơi này đẹp đến nỗi các nàng tiên chính cống trên trời phải xuống chơi. Vì vậy đất này có tên là Tiên Du.

Tiên Du có núi Trà. Người Bắc gọi trà là trè, hoặc chè. Cái tên Bà Chúa Chè được người đời — không biết người đời Lê Trịnh những năm 1770 – 1800, những người sống cùng thời với bà Chúa, hay người đời sau, những người thế hệ ông Phan trần Chúc — 1900 – 1950 — đặt cho. Điều ta biết chắc là vì Đăng thị Huệ , tức Đặng Tuyên phi, là người làng Phù Đổng, và làng Phù Đổng ở gần Núi Chè, nên Tuyên phi được gọi là Bà Chúa Chè.

Tiên Du, Bắc Ninh.. Địa danh này có gợi cho bạn nhớ đến chuyện gì không ? Tôi nhớ chuyện Từ Thức gập nàng tiên nữ Giáng Tiên trong huyền thoại tình sử của ta. Nàng tiên nữ Giáng Tiên có nhiều tên: lúc thì Giáng Tiên, lúc thì Giáng Hương, lại có lúc là Giáng Kiều. Như đã nói Giáng Tiên là tiên nữ. Ngày Hội Hoa được tổ chức ở một ngôi chùa Tiên Du nàng hiện thân xuống chơi ở vùng đất có ngọn Núi Trà thơ mộng. Chuyện xưa kể rằng Giáng Tiên vô ý làm gẫy cành hoa mẫu đơn của nhà chùa. Nàng bị nhà chùa bắt đền. Là tiên nữ nàng làm gì có tiền mà đền hoa cho nhà chùa! Nàng bị nhà chùa giữ lại. Nghe nói còn cả trói lại nữa! Từ Thức là quan huyện Tiên Du đến chơi Hội Hoa. Chàng cởi áo hồ cừu đang mặc đưa cho nhà chùa để chuộc tội cho Giáng Tiên. Rồi một chiều thu xanh chàng chèo thuyền ra biển, lên được Bồng Lai, hòn đảo trôi bềnh bồng giữa biển, chàng gập lại Giáng Tiên và kết duyên chồng vợ với nàng. Sống hạnh phúc với Giáng Tiên ở Bồng Lai được một thời gian Từ Thức nhớ quê hương, chàng trở về trần thế. Thời gian chàng sống với Giáng Tiên trên tiên cảnh chỉ là năm, mười năm nhưng thời gian ở dưới trần đã là cả trăm năm. Từ Thức Việt kiều Yêu Nước Ngoài ngơ ngáo về thăm quê hương. Nhưng về tới quê chàng chán ngắc vì quê nhà đã đổi khác, quê nhà không còn là quê nhà thời chàng sống ở đó, những người thân của chàng đã chết hết. Chàng chán đời muốn trở lại Bồng Lai nhưng giấy ReEntry Permit của chàng đã hết hạn. Đoạn cuối chuyện tình kể rằng Từ Thức một mình đi vào núi rồi không ai biết chàng đi đâu…

Phạm Thiên Thư:

Ngày xưa có gã từ quan..
Lên non tìm động hoa vàng, ngủ say…
Thôi thì thôi, đừng ngại mưa mau
Đưa nhau ra đến bên cầu nước xuôi.
Sông này chẩy một dòng thôi
Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông …

Ở Thanh Hóa có Động Bích Đào. Tục truyền Từ Thức đi đến Động Bích Đào và mất tích từ động này. Người đời sau còn gọi Động Bích Đào là Động Từ Thức. Ông Lê quý Đôn đến chơi Động Bích Đào, nhớ chuyện Từ Thức, làm bài thơ Đề Động Từ Thức. Những năm 1980, 1981 đen hơn lá đa ca dao, đen hơn mõm chó mực, sống mỏi mòn ở khu Ngã Ba Ông Ta thân thương, tôi dịch bài thơ chữ Hán của Lê quý Đôn ra thơ Việt. Rất tiếc trong tập bản thảo tôi giữ được, tôi mang được theo tôi đến Rừng Phong, Xứ Mẽo, quê người Mẽo, chỉ có bài thơ dịch của tôi, không có bài thơ chữ Hán của Lê quý Đôn. Có còn hơn không, đúng hơn là có ít còn hơn không có gì, tôi viết bài thơ ấy ra đây bạn đọc chơi cũng chẳng hại gì:

Đề Động Từ Thức

Thần tiên trên biển chuyện hoang đường.
Bích Đào động ấy cảnh thê lương
Đất trời một áo đau Từ Thức
Mây nước đôi hàng khổ Giáng Hương.
Trống đá nhiều lời khua nắng sớm,
Muối rêu không vị đẫm thu sương.
Người đời ôm mộng Thiên Thai khổ,
Ai biết Thiên Thai chuyện vẩn vương..!

Tôi còn nhớ được mấy câu trong bài Thơ Chữ Hán của Lê quí Đôn:

Càn khôn nhất hạt cùng Từ Thức
Vân vũ song nga lão Giáng Hương
…..
Thế nhân khổ tác Thiên Thai mộng,
Thùy thức Thiên Thai diệc hí trường.

Ý Lê bảng nhãn muốn nói: “Chuyện Thiên Thai là chuyện vẩn vương. Làm gì có cõi tiên mà người đời ôm mộng được đến để ngàn năm sống mãi..” Nhưng… Lê bảng nhãn dù là nhà khoa bảng, là học giả thứ thiệt, ông cũng chỉ là người như chúng ta. Cũng như chúng ta ông không, hay ông chưa, thoát ra được cõi đời này, làm sao ông biết — biết chắc chắn, biết chắc như bắp rang, chắc như cua gạch, chắc như gỗ lim — rằng ở ngoài cõi đời này có hay không có một hay nhiều cõi đời khác ??? Chúng tôi cũng biết như ông là — có thể — không có cõi Tiên, không có Non Bồng, nước Nhược, không có Niết Bàn, Thiên Đàng chi cả, nhưng dù không có ta cứ tưởng tượng là có, ta đỡ khổ hơn. Nếu có càng tốt, không có cũng chẳng sao. Tại sao ta lại cứ phải nhất định nói là không có ?

Trở lại với chuyện Giáng Tiên bị rắc rối ở một ngôi chùa nào đó trên núi Trà, huyện Tiên Du, ta thấy chuyện có vài chi tiết làm ta théc méc:

— Nhà chùa nào ác ôn côn đồ đến cái độ thiện nam, tín nữ đến vãn cảnh chùa chỉ làm gẫy của nhà chùa có một cành hoa — hoa mà lại là hoa mẫu đơn, quí báu gì, mùa xuân vườn đất Bắc kỳ có cả đống hoa mẫu đơn — mà nhà chùa làm dữ như là người ta đánh bom phá chùa, nằng nặc bắt đền tiền và khi người ta — người ta đây lại là con gái chưa chồng — không có tiền đền, bắt trói người ta ??? Tôi không tin là ngày xưa có nhà chùa nào ở huyện Tiên Du làm cái trò ma tịt, ma bùn quá đáng ấy.

— Nhưng… cứ cho là có nhà chùa hổ mang, hổ lửa làm cái trò ma tịt như thế đi thì Từ Thức là quan huyện — đã là quan huyện mà còn là quan huyện sở tại, quan huyện tại chỗ, quan huyện chính huyện Tiên Du — quan đến chùa chơi Hội Hoa Xuân, thấy nhà chùa bắt giữ gái đẹp quan động lòng trắc ẩn, quan can thiệp… Thì quan chỉ nói một tiếng: “Thôi.. Nhà chùa hỉ xả thả cho người ta đi..” là nhà chùa thả liền tút suỵt. Làm gì đến nỗi Quan Huyện — Từ Huyện lệnh oai như hạch chứ bộ — phải cởi áo vét Quan đang bận trao cho nhà chùa giữ với lời hẹn sẽ về huyện lấy tiền mang đến chuộc áo?

Advertisements

7 Responses

  1. Vẫn còn ngon lành lắm, khỏe lắm.
    Cám ơn và chúc bác khỏe dài dài.

  2. CTHD là một trong những cao thủ viết về lời bình văn học Thích nhất là những đoạn văn đầy lãng mạn viết về Tiên Du, Từ Sơn Lòng chân thật của tác giả trãi đầy qua những câu văn và câu thơ làm xúc động người đọc vô hạn Cảm ơn tác giả lắm lăm.. Mong được đọc nhiều lời bình văn học nửa cũa tác giã Trân trọng cảm ơn tác giã CTHD một lần nửa

  3. Nàng Giáng Hương của tích Từ Thức lên tiên trong câu chuyện Công Tử kể ở đây hình như cũng là nàng Giáng Hương mà Nam tôi nghe được trong bản nhạc Cành Hoa Trắng của nhạc sĩ Phạm Duy, trước khi nhạc sĩ tự đổi tên của cha sinh me đẻ đặt ra thành “Phạm Duy Vật” – từ sau ngày tôn thờ chủ nghĩa duy vật, rao bán linh hồn cho quỷ đỏ Karl Marx với chút ít tiền “âm phủ”, tức là tiền hồ.

    Một đàn chim tóc trắng
    Bay về qua trần gian
    Báo tin rằng: có nàng Giáng Hương
    Nàng ngồi trên cung vắng
    Trong một đêm tàn trăng
    Phá then vàng …

    Tương truyền chúa Trịnh Sâm trong một chuyến ngao du sơn thủy đã phê động Bích Đào nơi quan huyện Từ Thức lên tiên là “Nam Phương Đệ Nhị Động”. Có nhị tất phải có nhất, thế thì “Nam Phương Đệ Nhất Động” là cái động chi và nó nằm ở đâu? Dạ, kính thưa quý vị nó chính là động Hương Tích, khoảng 70 km hướng Tây Nam Hà Nội, được nhắc qua (còn đươc gọi nôm na là “chùa trong”) trong bài thơ Đi Chơi Chùa Hương của thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp đấy ạ.

    Ồ! Chùa trong đây rồi!
    Động thẳm bóng xanh ngời
    Gấm thêu trần thạch nhũ
    Ngọc nhuốm hương trầm rơi

    Người đẹp Giáng Kiều trong bài viết này của Công Tử, nếu Nam tôi nhớ không lầm, hình như cũng là “người đẹp trong tranh” của chàng Tú Uyên trong truyện thơ Bích Câu Kỳ Ngộ (cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu). Bích Câu Kỳ Ngộ (BCKN), tác giả unknown, cũng là một loại fairy tale tương tự như tích Từ Thức – Giáng Hương mà Công Tử thuật lại trong bài viết.

    Chắc nhiều bạn đã nghe qua truyện BCKN, Nam tôi chỉ tóm tắt: chuyện kể rằng thiếu niên Tú Uyên học giỏi tuấn tú, mồ côi từ bé, đi lễ hội gặp một thiếu nữ đẹp như tiên, trò chuyện một lúc thì biến mất. Tú Uyên ốm tương tư, cầu khẩn được thần mách bảo mua được bức tranh vẽ thiếu nữ đã gặp, về nhà treo tranh lên và cư xử như người thật. Những lúc Tú Uyên vắng nhà Giáng Kiều, tên thiếu nữ, từ trong tranh bước ra chăm sóc cơm nước quần aó bút nghiên cho Tú Uyên như một người vợ. Tú Uyên rình bắt quả tang Giáng Kiều bước từ trong tranh. Hai người kết nghiã vợ chồng, được vài năm Tú Uyên đổ đốn say sỉn tối ngày, Giáng Kiều khuyên bảo không được giận bỏ đi, Tú Uyên năn nỉ làm hoà, chăm chỉ học hành đỗ cao làm quan, vợ sinh con giai thông minh ngoan ngoãn. Sau vài năm vợ chồng chán cảnh trần gian cưỡi hạc lên giời bắt đầu cuộc sống thần tiên.

    Theo Wikipedia, Bích Câu (ngòi biếc) là một địa danh cũ thuộc Hà Nội, hiện nay ở đây cũng có một con phố tên Bích Câu.

    Tích BCKN nhắc Nam tôi một kỷ niệm nhỏ thời trung học. Năm đệ lục (lớp 7) chúng tôi có cô giáo Việt văn tuyệt đẹp, giờ cô giảng Bích Câu Kỳ Ngộ cả lớp cứ há hốc mồm nhìn cô không chớp, có anh mơ (ngày) tưởng tượng mình biến thành Tú Uyên, có anh thì: Tao chưa gặp Giáng Kiều bao giờ nhưng cũng chỉ đẹp đến thế này (ám chỉ cô) là cùng!! Một lần cô gọi anh bạn ngồi cạnh Nam tôi lên trả bài, anh lên đến bàn cô … một phút … hai phút … rồi năm phút … anh bạn cứ đứng trơ như phỗng, cô nhắc cho vài chữ không thấy ép-phê gì cô cho anh bạn về chỗ ngồi kèm theo điểm zero to tướng giữa quyển vở. Câu chuyện trao đổi giữa Nam tôi với anh bạn cùng bàn đại khái như sau.

    – Thích nhé, tối nay về ăn cơm mẹ khỏi phải luộc trứng.
    – Quái!! Tao thuộc bài như cháo mà lên đấy không ra lấy nửa chữ.
    – Lần tới lên trả bài đừng nhìn cô nữa, quay xuống lớp như thế này này.
    – Ông đếch, để nhìn cái mặt mốc của mày à? Đợi cả tháng mới được nhìn gần mặt cô như thế!!

    Nam Phục

    • Chà , NP viết hay dí dỏm quá , đọc xong thấy tâm hồn bỗng bay bổng nhẹ nhàng , cũng muốn thành tiên luôn .

    • Cám ơn Nam Phục. Bài này làm tôi cười thoải mái không kém gì đọc bài của CTHĐ. Bài được tham khảo khá rộng. Văn phong nghe nhẹ nhàng nhưng tếu không chịu được!

  4. Tôi cũng thắc mắc như CTHĐ khi đọc chuyện Từ Thức – Giáng Hương : Sao lại có thứ nhà chùa ” ác ôn ” nỡ bắt trói, giam cầm một thiếu nữ đẹp như … tiên, chỉ vì nàng vô ý làm gẫy một cành mẫu đơn ! ? Thắc mắc có từ hồi tôi mới bắt đầu biết đọc chuyện Từ Thức và chuyện …kiếm hiệp. Lúc ấy, Tôi ước ao mình sẽ là một hiệp khách, phi thân tới bên người đẹp, đẩy cho cái anh thày Chùa ” dô dang ” một phát, vung kiếm chặt đứt xích xiềng cho tiên nữ và cùng nàng ung dung sánh vai về chốn thiên thai; khỏi phải dùng tới hạ sách, cởi trần, nộp áo hồ cừu, như anh Từ Thức, coi ẹ quá, không được ! Théc méc 60 năm xưa, nay vẫn còn nguyên, và khi đọc được CTHĐ viết ra , tôi khoái vô cùng . Nhưng thắc mắc đó, cho tới nay, vẫn còn nguyên vẹn. Nào ai biết được cái chùa hắc điếm đó ở mô, hoặc tại sao tác giả một chuyện thần tiên hay như Chuyện Từ Thức – Giáng Tiên, lại bịa ra một tình tiết không hay ho chi và vô lý như thế !

  5. Với trí nhớ cùn của tôi thì tác giả “Bà Chúa Chè” là ông Nguyễn triệu Luật thì phải!
    Lúc nào tôi đọc văn HHT cũng khoái hết. Mong ông được nhiều sức khỏe.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: