• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Trở Về Dĩ Vãng

Vietnamese pilots

Buổi sáng Tháng Tám 2009, tôi đọc bản tin đăng trên trang nhất Nhật Báo The Washington Post:

  • 18 Years After Drowning in Iraq, Navy Pilot’s Remains Are Found.”
  • 18 năm sau ngày bị rơi ở Iraq, di hài người phi công Hải Quân được tìm thấy.”

January 1991, Đại úy Phi công Mỹ Michael S. Speicher trên phi cơ tham chiến trong những ngày đầu Trận Chiến Vịnh Ba Tư — Kuwait — phi cơ bị bắn rơi ở biên giới Kuwait – Irak. Xác người phi công bị mất từ ngày đó. Cuộc tìm xác kéo dài trong 18 năm. August 2009, di hài Đại úy Phi công Michael S. Speicher được tìm thấy, được đưa về Mỹ Quốc, an táng ở Jacksonville, Florida, thành phố nơi ông sinh trưởng.

Japanese pilotsChuyện người phi công Mỹ chết trên chiến trường làm tôi nhớ những chàng phi công của quân đội nước tôi. Từ việc nhớ hình ảnh những chàng trai anh tuấn ấy tôi nhớ những lời ca trong bài Không Quân Việt Nam của Văn Cao, những lời ca tôi đã hát trong năm 1946 khi tôi 14 tuổi.

1946 – 2009. Những ngày như lá, tháng như mây. 53 năm đã qua đời tôi kể từ ngày ấy. Hôm nay, trong thời gian cuối đời, ở xứ người, tôi trong phút giây thả hồn trở về dĩ vãng, tưởng tượng ra hình ảnh chú thiếu nhi là tôi 50 năm xưa — năm ấy tôi ở giữa tuổi nhi đồng và thiếu niên, nhi đồng thì tôi hơi già mà thiếu niên thì tôi quá trẻ — tôi thuộc lòng lời ca hai bài Không Quân Việt Nam, Hải Quân Việt Nam của Nhạc sĩ Văn Cao, thuộc như ngày ấy tôi thuộc lời những bài Thiên Thai, Suối Mơ, Đàn Chim Việt.

Năm xưa tôi thuộc lòng lời ca những bài hát ấy nhưng năm nay, 2009 — sau 50 năm không hát, không nghe ai hát, không một lần được đọc lại lời ca — tôi chỉ còn nhớ loáng thoáng vài câu:

Không Quân Việt Nam lướt trên ngàn mây gió
U.. ù.. u.. u.. ú.. ú..
Đây đó hồn nước ơi
Không Quân ra đi cánh bay rợp trời.
.. .. ..
Khi đất nước đang chờ bao người con ra đi
Luyến tiếc tấm thân làm chi.
.. .. ..
Ra đi không ai tìm xác rơi
Khi nhìn qua khói những kinh thành tan
Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng.. ..
.. .. ..

Rất tiếc, tôi chỉ nhớ có từng đó.

Kính gửi quí vị Khưá Lão Việt Nam Tuổi Đời Bẩy Bó trở lên, quí vị đang sống ở bốn phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca, hay quí vị đang sống trong nước mà tình cờ để mắt đọc những dòng chữ này, quí vị nào còn nhớ lời ca Không Quân Việt Nam của Văn Cao, xin ghi lại — dù không nhớ trọn bài — quí vị gửi cho tôi. Tôi sẽ đưa những lời ca năm xưa khi chúng ta còn trẻ vào bài viết, lên Net, để cho những vị đồng tuổi với chúng ta đọc và sống lại tuổi trẻ, dù chỉ trở về tuổi trẻ trong năm, bẩy sát-na. Và để lại cho những người Việt đến sau chúng ta trăm năm, biết trong thời ta trẻ, ta có những lời ca đó.

Vietnamese pilots

Mới đây, đọc mấy bài viết đả kích nhóm Nhân Văn Giai Phẩm năm xưa, tôi thấy Xuân Diệu viết phê bình Văn Cao, nhắc đến bài Không Quân Việt Nam:

Không quân của ta để bảo vệ tổ quốc, không đi xâm lăng nên những cảnh nhìn qua khói những kinh thành tan là không thể có.”

Đó là nguyên nhân làm cho bài ca Không Quân Việt Nam của Văn Cao bị mất trong cuộc đời này.

Tháng Tám 2009, tôi đọc bài “Tháng Tư của Saburo Sakai.” Tác giả Trần Vũ, đăng trên “NguoiVietBoston.com”. Bài viết về những Phi công Quyết Tử Nhật trong những ngày cuối của Trận Thế Chiến Thứ Hai. Tên tiếng Nhật cuả những phi cơ và phi công Quyết Tử Nhật là KAMIKAZÉ.

Ngày xưa ấy — năm 1944, 1945 — chiến tranh thế giới sắp tàn, Quân Nhật chiến đấu những trận cuối cùng — trong tuyệt vọng — trên Thái Bình Dương. Những chiến hạm Đồng Minh, gần như tất cả là tầu chiến Hải Quân Mỹ, tiến dần đến xứ Phù Tang. Để ngăn chặn những chiến hạm ấy, những phi công Nhật được Lênh Quyết Tử. Những phi cơ khu trục, trên có một phi công, được gắn bom, bay ra biển nhắm thẳng vào những tầu chiến Mỹ mà lao xuống. Bom nổ, phi công tan xác với phi cơ trên tầu địch.

Những phi công Nhật quyết tử năm xưa ấy là những người trẻ, tinh hoa của dân Nhật, từ 20 đến 25, 27 tuổi, đại đa số chưa vợ con. Nhiều chàng chưa có cả người yêu. Họ khẳng khái ra đi để chết. Chết vì nước. Trước khi lên phi cơ, họ chào quốc kỳ lần cuối, uống ly rượu saké cuối cùng. Tôi không biết có bao nhiêu phi công Nhật đã chết như thế. Trong lịch sử chiến tranh thế giới, họ là vô song: trước họ không có và sau họ không có phi công nào chết đẹp, chết hùng như họ.

Trước khi đọc bài viết của ông Trần Vũ, xin quí vị cảm phiền nghe tôi kể vài chuyện về thời ngày xưa còn bé của tôi, mấy chuyện liên can đến người võ sĩ đạo Nhật trong những phim xi-nê Nhật. Chuyện những chàng phi công Quyết Tử Nhật gợi tôi nhớ những chuyện này.

Năm 1940 Quân đội Nhật vào đất nước tôi. Tôi không nhớ đúng tôi xem 2 bộ phim Nhật tôi kể dưới đây trong những năm 1942, 1943 hay trong năm 1945 sau khi Quân đội Nhật làm cuộc binh biến lật đổ bộ máy cai trị của người Pháp ở Đông Dương. Hai bộ phim Nhật ấy là phim Trở Về Dĩ VãngKhúc Nhạc Đồng Quê.

Dĩ Vãng Trở Về đúng hơn là Trở Về Dĩ Vãng. 50 năm qua tôi nhớ tên phim tiếng Pháp là Le Retour du Passé — phim nói tiếng Nhật, phụ đề chữ Pháp — phim đen trắng, kỹ thuật, diễn xuất tiến bộ ngang với những phim Pháp cùng thời, cốt truyện hấp dẫn người Á Đông. Với những bộ phim Nhật như phim này, lần thứ nhất người Á Đông được xem những phim do người da vàng làm, trong đó toàn là người da vàng, cảnh sống của dân da vàng và những phong cảnh Á Đông quen thuộc.

Chuyện phim xẩy ra trong thời hiện đại có xen những cảnh chuyện ngày xưa khi Dĩ Vãng trở về. Trong môt trường Đại Học. chàng là một sinh viên Nhật hiền lành, mang kiến trắng, không có gì nổi trội, nàng đẹp, con nhà giàu và sang. Đám nữ sinh bạn nàng, và đám nam sinh bạn chàng, biết chàng yêu nàng, yêu thầm thôi nhưng họ biết nên họ tìm cách trêu chàng. Một hôm họ nói với chàng là nàng hẹn gặp chàng ở vườn hoa trong trường.

Tưởng thật, đúng giờ hẹn, chàng ra ngồi ở ghế đá chờ nàng, với quyển sách học. Lúc ấy trời mưa tuyết, chàng cứ ngồi đấy. Đám nữ sinh đưa nàng tới cho nàng nhìn thấy cảnh anh ngốc ngồi chờ nàng, họ nói cho nàng biết họ đánh lừa chàng, họ bảo chàng là nàng hẹn chàng đến.

Nàng nhìn chàng ngồi đó đợi nàng dưới mưa tuyết. Và nàng xúc động, nàng cự mấy cô bạn:

– Các chị làm vậy là không nên. Ai lại đánh lừa người ta như thế? Từ nay, các chị không được đem tôi ra trêu chọc người ta.

Nàng đi đến gặp chàng. Họ ngồi bên nhau trên ghế đá hoa viên trao đổi với nhau vài chuyện vẩn vương. Cuối tuần ấy chàng về nhà thăm bà mẹ. Ông thân chàng là sĩ quan đã tử trận, bà mẹ chàng ở goá nuôi con. Ngồi bên mẹ trên hiên nhà, nghe tiếng phi cơ bay ngang trời, chàng nhớ lại một chiều năm xưa chàng mười, mười một tuổi, chàng nằm trên hiên nhà này bên bà mẹ, chiều ấy bà đang may áo.. ..

Trong phim xi-nê những đoạn trở về dĩ vãng như vậy gọi là flashback. Chiều xưa ấy chú nhỏ nghe tiếng máy bay, chú nhìn lên trời, thấy chiếc phi cơ bay ngang, chú nói với bà mẹ:

– Mẹ ơi.. Mai sau con lớn, con sẽ lái phi cơ.

Rồi chàng nhớ lại những chuyện bà mẹ chàng ngày chàng còn nhỏ kể cho chàng nghe về ông Nội — hay ông Ngoại của chàng. Đây là một chuyện bà mẹ chàng kể lại: Ông chàng là một kiếm sĩ nổi danh trong triều đình ngày xưa. Trong một ngày hội, đảng gian bắt cóc Công Chuá, đưa lên xe ngựa, phóng đi. Được tin Công chuá bị bắt, chàng kiếm sĩ trên lưng ngựa đuổi theo cứu nàng. Cuộc chạy và đuổi diễn ra trên con đường sườn núi, ven biển. Con ngựa chàng cưỡi bị vấp, gục xuống. Chàng bỏ ngựa, chạy tắt qua suờn núi, ra đường chặn xe của đảng gian, tay cầm kiếm, quát :

– Không được xâm phạm Công Chúa của ta!

Đấy là cảnh chàng sinh viên nhớ lại. Thế rồi, vào một ngày nghỉ, sinh viên trong trường tổ chức cuộc đi chơi ven biển. Đám sinh viên tinh nghịch làm cuộc bắt cóc rởm để trêu chàng. Họ cho người báo cho chàng biết nàng, người chàng yêu, bị bắt cóc. Họ cố ý để cho chàng thấy cảnh họ kéo nàng lên xe ô tô. Nàng chống cự và vì nàng chống cự chàng lại càng tin nàng bị bắt cóc thật. Nhớ lại chuyện ông Nội, hay ông Ngoại của chàng ngày xưa cứu Công Chúa bị bắt cóc, chàng trên xe đạp đuổi theo xe ô tô để cứu nàng sinh viên. Cuộc đuổi bắt cũng diễn ra trên con đường ven biển. Xe đạp nổ lốp, chàng quăng xe chạy bộ đuổi theo xe ô tô.

Chàng kiếm sĩ và chàng sinh viên do một nam diễn viên đóng, Vai Công chuá và người nữ sinh viên do một nữ diễn viên đảm nhiệm. Cặp đôi này năm ấy là hai ngôi sao điện ảnh sáng giá nhất của Xi-nê Nhật. Phim “Khúc Nhạc Đồng Quê” cũng do hai diễn viên này đóng. Tên tiếng Pháp của phim là La Symphonie Pastorale. Chuyện mốt số sinh viên tốt nghiệp đại học về những làng quê sống với nhân dân. Họ giúp dân quê cày cấy với những kỹ thuật canh tác mới, giúp dân sống vệ sinh ơn. Có những sinh viên bỏ cuộc trở về thành phố sống với những tiện nghi, có những sinh viên ở lại với dân quê. Trong số những người ở lại với dân quê đó có chàng và nàng.

Năm mươi năm, tôi vẫn nhớ ba cảnh của phim “Dĩ Vãng Trở Về” — cảnh chàng sinh viên ngồi đợi người yêu đến trong vườn hoa dưới những bông hoa tuyết trắng bay lả tả, cảnh chàng kiếm sĩ trên ngựa đuổi theo xe song mã cứu Công chúa trên con đường viền núi, ven biển, cảnh cũng trên con đường ven biển ấy chàng sinh viên kính trắng trên xe đạp đuổi theo xe ô tô – năm xưa chuyện phim hào hùng, lãng mạn làm tôi xúc động, nay nhớ lại, cảm giác xúc động vẫn còn man mác trong tôi. Tôi kể lại để thưa với quí vị là bài viết của ông Trần Vũ về những chàng Samourai Nhật trong Thế Chiến Thứ Hai làm cho tôi nhớ những chuyện xưa và tôi cảm xúc như thế.

Nay mời quí vị đọc:

Tháng Tư của Saburo Sakai.” Trần Vũ. Nguời Việt Boston:

Năm 73, khi đọc Samourai, tôi không chú ý lắm đến lời mào đầu, ba mươi năm sau khi đọc lại Samourai tôi cảm thấy số phận của những người lính Nhật với những người lính Nam-Việt tương đồng kỳ lạ. Vào đầu tập hồi ký, trong lá thư thay lời tựa, Sakai viết:

“Hải quân Hoàng gia Nhật dạy cho tôi một nghề nghiệp duy nhất: Phi công khu trục. Hủy diệt những kẻ thù của tổ quốc, bay và bắn. Tôi đã sống như vậy suốt 5 năm, trên những vùng trời Trung Hoa và Thái Bình Dương. Tôi không biết đến đời sống nào khác ngoài đời sống của người lính.

“Cuộc đầu hàng thảm khốc ném tôi ra khỏi Hải quân. Mang đầy thương tích của những năm chiến tranh nhưng tôi không thể xin bất kỳ một trợ cấp nào. Chúng tôi đã bại trận. Tôi hiểu ra, tiền cấp dưỡng tàn phế dành cho những thương phế binh, cho dù thâm niên quân ngũ, chỉ được trả cho binh sĩ của đạo quân chiến thắng.

“Chính sách chiếm đóng ngăn cấm tôi làm hoa tiêu, bất kỳ loại phi cơ nào. Trong suốt 7 năm dài, từ 1945 đến 1952, lý lịch phi công khiến tôi bị loại trừ ra khỏi những công việc thuộc phạm vi công chức.

“Đối với tôi, hoà bình đồng nghĩa là sự khởi đầu một cuộc chiến mới, dài hơn và tàn bạo hơn. Tôi phải chiến đấu với những kẻ thù mới, tàn khốc bội phần, sự nghèo túng, đói kém, cùng vô số mất mát. Thường xuyên, chính quyền chiếm đóng dựng lên trước mặt tôi, một rào cản ngăn cấm tất cả. Lối thoát duy nhất còn lại là lao động tay chân và sống trong ổ chuột.

“Cú đấm chót tôi phải chịu là cái chết của Hatsuyo. Vợ tôi đã sống sót dưới những trận mưa bom và sống sót qua tất cả những hiểm nguy của chiến tranh nhưng cô không thể kháng cự kẻ thù mới, thứ bệnh trầm trọng của đốn mạt và suy dinh dưỡng.

“Sau cùng, sau những năm bị tước đoạt,bị mất hết, tôi cũng làm những việc bằng tay chân và dành dụm đủ tiền để mở một xưởng in nhỏ. Làm việc từ sáng đến khuya, tôi kiếm được tiền đủ trang trải phí tổn, rồi có thêm chút đỉnh để mở mang cơ sở. Không bao lâu sau, tôi tìm ra Bà Quả phụ Đô đốc Takijiro Onishi. Phó Đô đốc Onishi đã mổ bụng tự sát ngay trong ngày Nhật đầu hàng, ông đã chọn cái chết thay vì chịu sống; trong chiến tranh nhiều phi công thuộc cấp của ông nhận từ ông “Tử Lệnh Một Đi Không Trở Lại”. Chính Đô đốc đã xây dựng các Phi đoàn Thần Phong Quyết Tử lừng danh thế giới.

“Trong nhiều năm, Bà Quả phụ Onishi sống khổ cực lây lất, bà phải kiếm ăn bằng cách bán hàng rong trên phố. Trông thấy bà xanh sao, quần áo cũ rách, kéo lê quang thúng trên phố làm dậy lên trong lòng tôi một cơn giận dữ, nhưng lúc đó tôi không có một phương tiện nào để giúp đỡ bà.

“Bây giờ, làm chủ một nhà in khiêm tốn, tôi mời bà đến lo việc văn phòng. Không lâu, xưởng in phát triển, tôi lại tìm và thâu nhận thêm nhiều bà goá và thân thuộc của những người bạn đồng đội của tôi đã hy sinh. May mắn, thời thế thay đổi. 10 năm đã trôi qua từ khi chấm dứt chiến tranh. Xưởng in có việc làm giúp cho chúng tôi có được một đời sống tương đối đầy đủ.

“Riêng với cá nhân tôi, những năm gần đây có một thay đổi kỳ lạ. Tôi trở thành khách mời danh dự của nhiều Hàng không Mẫu hạm của Hải quân Hoa Kỳ và nhiều chiến hạm các nước khác. Tôi rất kinh ngạc và thán phục trước tiến bộ kỹ thuật của những phi cơ chiến đấu phản lực Mỹ. Tôi được mời gặp những phi công Đồng Minh Anh Mỹ. Ngồi với họ, tôi trao đổi tự do ý kiến và kết bạn với họ. Chính đây mới thật sự là điều đáng kể: Cũng chính những phi công Hoa Kỳ này mà tôi đã nhắm bắn, cách đây 10 năm, nay dành cho tôi tình bạn tự nhiên của họ.

“Nhiều lần, Tân Không lực Hoàng gia Nhật Bản đề nghị tôi tái ngũ với cấp bậc sĩ quan tại chức. Tôi đều từ chối. Tôi không muốn quay trở lại quân ngũ với quá nhiều quá khứ.

“Nhưng lái máy bay cũng giống bơi lội: người ta không thể quên dễ dàng. Tôi đã không rời mặt đất từ 10 năm nay, nhưng chỉ cần tôi nhắm mắt, cần lái của chiến đấu cơ lại nằm trong lòng bàn tay phải, cần ga trong tay trái, và bàn đạp lại đặt dưới chân tôi. Tôi thấy lại tức khắc cảm giác của sự tự do thuần khiết, và hấp lực mời gọi của vũ trụ đầy mây mà tất cả phi công đều biết.

“Không, tôi không bao giờ quên những động tác phi hành. Nếu nước Nhật cần đến tôi, nếu một ngày nào đó Tổ Quốc tôi bị cộng sản đe dọa, tôi sẽ đáp lại lời động viên. Nhưng với tất cả thành tâm, tôi cầu khẩn Trời cho phép tôi được cất cánh bay vì một lý do nào khác.”

*****

Những dòng chữ của Sakai giống những dòng chữ bi phẫn đầy cay đắng của các sĩ quan miền Nam sau 1975. Giống nhau đến đập vào mắt. Vì cùng một kết cục bi thảm, tuy ngày 15 tháng 8-1945 của Nhật Bản có mức độ tuyệt vọng, bi thảm nặng hơn ngày 30 tháng 4 của miền Nam. Vì Nhật Bản chưa bao giờ bại trận, vì Nhật Bản vừa hứng chịu tai họa bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki. Vì dân Nhật chờ đợi sự chiếm đóngmà họ cho là sẽ tàn khốc của Hoa Kỳ, một chiếm đóng của ngoại bang.

Ngược lại, miền Nam Việt Nam không thật sự tuyệt vọng vì người miền Nam còn muốn tin: một nửa dân tộc không thể hà khắc với một nửa dân tộc. Có thể chính sách cai quản sẽ có nhiều cứng rắn nhưng vẫn là anh em một nhà. Hy vọng này, đã hiện diện ở phút giây đầu hàng. Trong bao nhiêu năm, dân chúng đã trông đợi, khát khao, rồi mừng tủi vì chiến tranh đã thực sự chấm dứt. Nỗi mừng vui trông chờ đằng đẵng một nền hòa bình như sẽ không bao giờ đến vụt thành hiện thực. Nước mắt lăn dài vì từ đây chồng, cha, anh, em và các con họ sẽ không bị chết trận. Hòa bình lấn át nỗi sợ bị trả thù mà trong sâu kín tất cả mọi người miền Nam cùng ý thức rất rõ: vị trí thua thiệt phải trả giá vì thất trận.

Tất cả những gì xảy đến sau đó, trong những ngày sau, sẽ khá giống với những gì xảy đến cho gia đình Thiếu úy Saburo Sakai, cùng một chính sách lý lịch, cùng một cách phân biệt đối xử, cùng những lầm than nghiệt ngã.

Nhưng sau mốc 7 năm 1945-1952 mà Sakai kể lại, Nhật và Việt không còn gì chung để so sánh. Các phi công Nhật, không phải đi tù cải tạo, được tự do làm ăn, sinh sống, họ trở thành khách mời danh dự của những Hàng không Mẫu hạm Hoa Kỳ, hồi ký của họ được xuất bản công khai, được quay thành phim như trường hợp cuốn Samourai. Các cựu sĩ quan Nhật lại có vị trí trong xã hội và khá đông được mời tham gia Tân Quân đội Nhật Bản. Trường hợp binh sĩ miền Nam Việt Nam khác hẳn: Phía bại trận bị xóa tên, bị tù đày, bị sỉ nhục, họ không có lối thoát nào khác ngoài việc bị bắt buộc phải lìa bỏ tổ quốc.

Chính sách chiếm đóng của Mỹ ở Nhật không quá khắc nghiệt đối với giai cấp quân phiệt Nhật. Chính sách của Đồng Minh đối với các sĩ quan Đức Quốc Xã cũng tương tự: Cựu Thống chế Erich von Manstein trở thành Cố vấn Tối cao của Tân Quân đội Liên bang Tây Đức Bundeswehr. Hans Speidel, Tham mưu trưởng của Guderian rồi Rommel, trở thành Tư lệnh quân Đức trong khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương – NATO. Erich Hartmann chỉ huy phi đoàn phản lực cơ hậu chiến đầu tiên của nước Đức, Gunther Rall trở thành Tổng Tham mưu trưởng Tân Không lực Liên bang Bundesluftwaffe. Vị trí công dân bình đẳng của các cựu quân nhân Đức Quốc Xã nhìn thấy rõ nhất trên báo chí: Vô vàn hồi ký của các binh sĩ, sĩ quan Đức Quốc Xã xuất bản công khai, chính danh, ở Tây Đức. Những Cựu binh của Binh chủng Waffen-SS vẫn được lập hội, được quyền gia nhập đảng Tân Quốc Xã và xuất bản hồi ký. Chỉ cần vào những trang Amazon hay Priceminister là có thể tìm thấy hằng hà sa số các hồi ký của Kurt Meyer, Tư lệnh Sư đoàn 12 SS Hitlerjugend, Tuổi trẻ Adolf Hitler, của Paul Hausser, Tư lệnh Sư đoàn 2 SS Das Reich Đại Đức, hay của Felix Steiner, nguyên Tư lệnh Sư đoàn 5 SS Panzer Wiking.

Thái độ của phía Tây Âu có thể xem là gương mẫu: Thống chế Pháp Alphonse Juin viết lời tựa cho bút ký “Bão Thép” của Ernst Junger. Trung tá Hoa Kỳ Martin Caidin tường thuật cuộc đời Saburo Sakai. Chuẩn tướng Anh Desmond Young viết nguyên một tập sách về sau trở thành best seller ca ngợi công trạng của Thống chế Erwin Rommel và Xa đoàn Châu Phi (bản dịch “Rommel, Con Cáo Già Sa Mạc” của Nhà Xuất Bản Sông Kiên, Sài Gòn trước 1975), Thiếu tá Bỉ Bernard Dupérier và Thiếu tướng Pháp Jacques Andrieux viết lời giới thiệu cho Hồi ký của Tư lệnh Khu trục Đức Adolf Galland v.v..

Gần 35 năm sau khi kết thúc nội chiến Nam-Bắc Việt Nam, đã có cuốn hồi ký nào của binh sĩ miền Nam được chính thức xuất bản và giới thiệu trang trọng trên đất nước Việt Nam mà không bị biên tập cắt xén hay vận dụng cho mục đích tuyên truyền như cuốn Hồi ký “Tướng Lưu Vong” của Đỗ Mậu? Nhìn trên quầy sách, chỉ thấy những cuốn sách kiểu “Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu” của Trần Trọng Trung, Hội Nhà Văn.

Những người miền Bắc chiến thắng không có nhu cầu tìm hiểu tâm tình của người miền Nam, thân phận của người Nam không hiện diện trong tác phẩm của Hội Nhà Văn. Đây cũng là một trong những lý do vì sao độc giả miền Nam tẩy chay Văn học Thống nhất trong suốt một thời kỳ dài sau 30 Tháng 4-1975.

(.. .. .. )

Đã 35 năm sau chiến tranh người lính miền Nam vẫn chưa tìm lại được phẩm giá cùng vị trí của họ trong lòng xã hội.

Điều mà Hội Nhà văn Chiến thắng không muốn nhắc đến là: khối lượng máu đã đổ ra trong 20 năm đều là máu của người Việt. Điều mà Ủy ban Quân quản không lường trước là Đại thắng Mùa Xuân nay đang trở thành Đại thắng của Trung Quốc. Với bối cảnh Tây Nguyên hiện nay, kỷ niệm làm gì nữa cuộc “Giải phóng” Ban Mê Thuột?

Ngưng trích bài Trần Vũ.

Tôi — CTHĐ — không thể coi cuộc đầu hàng của những sĩ quan Quân Đội Nuớc Tôi, Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, “giống như” cuộc đầu hàng Quân Đồng Minh của những sĩ quan Nhật.

Kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu. Càng kể càng đau. Xin hẹn sẽ viết về những đau lòng này trong một bài khác.

*****

Viết xong bài, đọc lại, bỗng nhớ ra chuyện muốn có Lời Ca bài Không Quân Việt Nam của Văn Cao sao không tìm trong những Net, Web Việt Nam?

Bây giờ những Trang Web chữ Việt trên computer nhiều như lá trong rừng, như sao trên trời, gần như chuyện gì cũng có. Bèn tìm và bèn tìm thấy bài Không Quân Việt Nam trong “dactrung.com”:

KHÔNG QUÂN VIỆT NAM
Văn Cao (1945)

Giờ đoàn người từng vượt qua biên giới quyết chiến đấu
Đã chiếm chiến công ngang trời
Giờ đoàn người còn vượt qua biên giới quyết chiến đấu
Đi không lo gì xác rơi

Lúc đất nước muốn bao người con thân yêu ra đi
Hối tiếc tấm thân làm chi
Giờ thề một lòng vượt trên lưng gió quyết chiến thắng
Nhớ lấy phút giây từ ly

Ta là đàn chim bay trên cao xanh
Khi nhìn qua khói những kinh thành xa
Đôi cánh tung hoành vượt trên mây xanh
Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng

Đây đó hồn nước ơi !
Không quân Việt Nam vút trên ngàn mây gió
U .. u u u u ú
Ôi phi công danh tiếng muôn đời
Nhìn xa phi trường Việt Nam
Không quân ra đi cánh bay rợp trời
U ..u u u u u …
Xa giang sơn ngắm nhìn về khắp nơi

Bầy chim dù bay ngàn phương cũng về
Để rồi ngày ngày sống hòa nhịp đời
Cùng ngàn kiếp chim
Bầy ta càng đi càng xa
Quyết khi về đem lại đây chiến công
Dù thân mồ quên lấp chìm

*****

Bèn tự cười mình làm long trọng vấn đề: kêu gọi các vị Khưá Lão ở tám phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca vị nào còn nhớ lời ca làm ơn đóng góp. Trong khi Bài Ca nằm đó tự bao giờ. Nhiều người biết, chỉ có mình ngớ ngẩn không biết.

Bèn đọc lại Lời Ca và ngạc nhiên thấy mình vẫn nhớ nằm lòng những lời này, tại sao mình kêu mình quên? Chỉ có điều Lời Ca 60 Năm Xưa tôi nhớ là:

Ta là đàn chim bay trên cao xanh
Khi nhìn trong khói những kinh thành tan

Lời ca trong bài đăng trên “dactrung.com”:

Ta là đàn chim bay trên cao xanh
Khi nhìn trong khói những kinh thành xa

Bèn đăng bài ca ở đây để gửi đến những vị 70 năm xưa — năm 1945 — từng say sưa hát:

Ta là đàn chim bay trên cao xanh
Khi nhìn qua khói những kinh thành tan
Đôi cánh tung hoành vượt trên mây xanh
Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng

Và để tưởng nhớ anh linh những chàng trai anh tuấn đã chết vì Đất Nước, vì Dân Tộc ở Quê Hương.

Advertisements

One Response

  1. Bac Than delete dum cai post o tren. Cam on. Bu lai moi CTHD nghe bai hat KQVN:

    http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=XaX2FxozFB

    http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=8yAieqt2wY

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: