• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Trăm Nghìn Gửi Lậy …

Trăm nghìn gửi lậy Tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi…!

Bốn mươi chín năm xưa ở Sài Gòn, năm 1960, tôi có một người vừa là bạn vừa là đàn anh, anh X. Anh hơn tôi mười tuổi, luật sư, từng du học ở Pháp. Làm đại diện một công ty thương mãi Pháp anh sống nhàn hạ, phong lưu, ung dung; rất hào hoa, phong nhã, anh không vợ, không con. Anh chưa một lần có vợ. Tôi mê anh vì phong thái công tử trí thức văn minh thành thị thứ thiệt của anh. Nhờ anh tôi học, tôi biết được nhiều chuyện. Anh không sáng tác, tức anh không viết truyện, không làm thơ, nhưng anh biết nhiều về văn chương và những lý luận văn nghệ. Chẳng hạn như lời anh nói với tôi về kỹ thuật viết truyện: “La comparaison donne la clarté: Việc so sánh đem đến sự trong sáng,” tức việc so sánh cái này với cái kia làm cho sự việc rõ ràng hơn, cho người hiểu việc xẩy ra trong truyện rõ hơn, dễ hơn. Một câu khác anh nói tôi nhớ mãi:

L’imitation est la forme la plus haute de la réussiste..”:

– Toa viết phóng sự có người đọc, có tên bắt chước viết như toa, cũng phóng sự tiểu thuyết đấu hót, toa phải kiêu hãnh vì toa được bắt chước, sao toa lại khó chịu?

Đây là câu thứ hai anh nói tôi nhớ mãi:

– Tây nó có câu đại khái: Viết báo, anh phải viết làm sao để người đọc một là họ hoan hô anh, họ công kênh anh, hai là họ vác gậy đến họ đánh anh. Anh viết mà chẳng ai đọc, có đọc người ta cũng chẳng thấy có gì lạ, vô thưởng vô phạt, sìu sìu ển ển. Chán chết. Đấy là viết báo, về văn thì muốn nổi trội anh phải viết cái gì khác người, anh phải có văn phong riêng. Vưà đọc bài anh viết người ta biết ngay đây là văn của anh. Thiếu gì người viết cả đời, viết thật nhiều mà vẫn không nổi lên được, vẫn vô danh, vẫn không được ai coi là văn sĩ!

Tôi vẫn lấy làm lạ về chuyện người hào hoa như anh mà đời sống không có đàn bà. Đúng ra anh cũng có đàn bà đi lại nhưng dường như anh không yêu thương ai, không tha thiết với ai. Đời anh đã có một mối tình, anh đã có người yêu, người đàn bà ấy là một người đàn bà đẹp nổi tiếng trong giới thanh lịch Sài Gòn; tôi biết nàng, nhưng tôi chỉ được biết nàng thôi, tôi không được quen nàng, tôi được gặp nàng những chiều thứ bẩy, những sáng chủ nhật nắng vàng ở đường Lê Lợi, đường Tự Do, được ngồi xa bàn nàng ngồi nhưng cùng trong nhà La Pagode những chiều Tự Do xanh mưa những hàng me lướt thướt, hay Ngân Đình Tửu Gia những đêm Sài Gòn trăng sáng; nàng là đàn chị của tôi, tôi thấy nàng thật đẹp. Anh X và nàng yêu nhau nhưng họ không có duyên vợ chồng với nhau. Nàng có chồng, một ông làm lớn trong chính phủ. Tôi có hỏi anh X về cuộc tình của anh với nàng, anh chỉ cười buồn mà không nói.

Lui tới nhà anh cả năm tôi mới có dịp ghé vào phòng ngủ của anh. Bên giường anh có tấm hình Nàng — đến đây tôi phải viết hoa chữ Nàng — Nàng bận áo cưới đầm trắng, khăn voan trắng trên đầu. Hình Nàng có hàng chữ viết:

Trăm nghìn gửi lậy Tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi..!

Dưới lời thơ là ngày tháng và chữ ký. Không cần hỏi, tôi biết đó là chữ Nàng viết, là chữ ký của Nàng.

Năm ấy tôi còn trẻ quá, tôi mới có ba mươi tuổi, tôi đang ở trong thời đỉnh cao phong độ nhất của đời tôi..

Mùa xuân xưa ấy tôi còn trẻ
Chưa biết đau thương, biết nợ nần.
Đời chỉ có hoa và mật ngọt
Da thịt thơm mùi phấn ái ân…

Alexander SolzhenitsynNăm ấy tôi chưa biết khóc, tôi chưa đau thương, tôi chưa một lần vỡ tim, chưa một lần đứt ruột, Thơ Kiều chưa làm tôi xúc động bao nhiêu. Vậy mà đọc lời Nàng Lẩy Kiều trong bức ảnh Nàng ngày cưới, ngày Nàng lên xe bông, gửi cho người nàng yêu, tôi ngơ ngẩn cả người. Mèn ơi..! Lẩy Kiều đến như dzậy là tuyệt vời, là siêu lẩy. Phải là người đàn bà đa tình lắm lắm, người đọc Kiều kỹ lắm, người Thơ Kiều thấm vào gan ruột, ngấm vào phèo phổi, hoà vào máu lệ mới có thể Lẩy Kiều tài tình như thế. Thế rồi hơn hai mươi mùa sầu riêng nở hoa đi qua cuộc đời, đêm đen, đêm khuya, nằm phơi rốn trên nền xi-măng Nhà Tù Lớn Chí Hoà, đến những đêm tù đầy này tôi mới thấm Thơ Kiều, nhớ tấm ảnh Cô Dâu của Nàng và lời Nàng Lẩy Kiều, tôi nghĩ đến việc làm thơ Vịnh Kiều và ở đấy, tức ở trong Nhà Tù Chí Hoà, đêm khuya, khi lá mùng dăng lên cho tôicó cái cảm giác tôi nằm một mình, cách biệt mọi người, tôi mần những bài thơ Tại Ngục Vịnh Kiều.

Tôi hỏi anh X về chuyện tôi nghe nói ngày Nàng đi Paris, chàng đưa tiễn Nàng ở phi trường Tân Sơn Nhất. Trước khi lên Air France, Nàng vào toilette, khi trở ra Nàng đưa cho chàng gói giấy:

– Kỷ vật của em. Em đi rồi anh hãy mở.

Cánh chim sắt đưa Nàng bay lên trời xanh. Chàng mở gói. Trong đó là cái slip của Nàng, cái slip Nàng mặc, Nàng vừa tuột ra trong toilette.

Rồi những mùa sầu riêng, mùa xoài, mùa măng cụt, muà cóc lại theo nhau qua… Đi tù như mọi người, như mọi công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà bại trận, mất nước, tôi trở về mái nhà xưa và vòng tay gầy của người vợ hiền trong năm 1980, anh X không còn ở Sài Gòn. Tôi gặp lại một người bạn tôi, Toà C. — chánh án, chúng tôi gọi tắt anh là Tòa C. — Toà C. tù khổ sai từ miền Bắc trở về Sài Gòn năm 1981. Một tối trời mưa ngồi uống rượu đế rẻ tiền quán mái hiên ở vỉa hè Trương Minh Giảng, nhân kể chuyện tù đầy sống chết, chuyện anh em trong tù, C. nói:

– Cậu còn nhớ cái truyện cậu viết về cái slip đưa cho nhau ở Tân Sơn Nhất không? Chắc cái chuyện ấy có thật chứ không phải chuyện bịa đâu. Tôi chung phòng, chung đội với thằng T. Nó bị đau, phù người, tưởng chết. Tôi đến trạm xá thăm nó, nó nói C. ơi, tao chết, nó bảo tôi về lục giỏ của nó, lấy cái gói vải xanh mang đến cho nó. Trên đường đi tôi tò mò mở cái gói ra xem, trong đó là cái slip của vợ nó.

Đấy là chuyện “Giữ si-líp lại để dành hơi..” của những anh con Hồng, cháu Lạc te tua năm 1977, 1978, những anh công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà bại trận bị bọn Bắc Việt Cộng nó cho đi tù mút muà Lệ Thủy. Nhân vật T. cũng là thẩm phán. Rồi những mùa lá rụng lại theo nhau qua…, Toà C. mất tích trên đường đi vượt biên, tôi nghe nói ông thẩm phán T. không chết trong trại tù cộng sản, ông đi HO sang Hoa Kỳ, ở Mỹ ông bị bà vợ ông cho ông dze. Mấy chục năm rồi, không biết bây giờ ông có còn giữ cái slip cải tạo cộng sản ngày xưa..! Cái slip valisère đàn bà thơm chút hương thừa ông mang theo ông trên đường khổ nạn, ông muốn nó và thân xác ông cùng xuống đáy mồ đen tối! Cũng không biết bà vợ ông có biết hay không biết khi bị đi cải tạo ông chồng bà mang theo cái slip của bà, khi ông bệnh ông tưởng ông chết ông nhờ ông bạn tù của ông lấy bảo vật ấy đem đến cho ông, lại cũng không biết nếu biết bà vợ ông có cảm động chút nào không!

Nhưng.. tôi xin lỗi. Tất cả những chuyện tôi vừa kể đều là chuyện bịa, đều là chuyện tiểu thuyết. Không có chuyện anh X, không có chuyện Toà C., chuyện cái slip AirFrance Tân Sơn Nhất lại càng không có. Tôi chỉ kể những chuyện bầy đặt đó để viết về Truyện Kiều. Tôi đã viết “Tại Ngục Vịnh Kiều”, Nhà Làng Văn Canada xuất bản, hôm nay tôi viết thêm về một chuyện trong Kiêù mà tôi chưa đề cập đến trong “Tại Ngục Vịnh Kiều”: vấn đề pháp luật trong Truyện Kiều.

Vấn đề pháp luật, pháp lý trong truyện Kim Vân Kiều của ông Tầu Thanh Tâm. Cứ theo những sự kiện được kể trong truyện thì Mã Giám Sinh mua Thúy Kiều về làm thiếp, tức làm vợ bé, việc mua bán ấy có giấy tờ đàng hoàng, Tú Bà không thể bắt Thúy Kiều làm gái chơi một cách khơi khơi như truyện kể. Nếu Tú Bà không thể bắt Thúy Kiều làm gái chơi thì toàn bộ truyện Kim Vân Kiều sẽ không xẩy ra. Đây là chuyện được tả trong Đoạn Trường Tân Thanh:

Kim Vân Kiều. Bản dịch của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm. Nha Văn Hoá Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hoá Việt Nam Cộng Hoà xuất bản năm 1971 ở Sàigòn.

Trích:

Mã sinh có vẻ ngần ngại, Chung công hiểu ý, nói:

– Quí khách đừng sợ.Vương ông là người đứng đắn, Chung Sự này có thể đảm bảo chắc chắn. Nếu có xẩy ra chuyện gì, cứ mắng vào mặt lão. Hay là lão xin viết giấy làm bằng?

Mã sinh đáp:

– Vâng, nếu được như vậy tôi xin cân bạc trao ngay.

Chung công viết tờ bảo lãnh như sau:

“Người đứng thay lập tờ văn ước này tên là Chung Sự.

“Nay tôi thấy người hiếu nữ tên gọi Vương Thúy Kiều vì việc cứu cha nên phải bán mình làm thiếp cho ông khách họ Mã, lấy số tiền sính lễ là bốn trăm năm mươi lạng bạc, hẹn sau ba ngày, việc quan kết liễu, sẽ theo Mã khách ra đi không dám sai thù. Vì sợ lòng người bất trắc nên lập văn ước này làm tin.

“Văn ước viết ngày 15 tháng Tư năm Gia Tĩnh thứ 11.

“Người viết giấy: Chung Sự ký tên.

“Người trung gian: Bà mối Hàm ký tên.”

Chung Sự viết xong văn ước, trao cho họ Mã. Mã sinh nhận giấy, coi lại, rồi nói:

– Việc này có ông Chung đảm nhận, tôi xin vâng. Nay xin viết hôn thư, tôi trao bạc.

Ông Chung giục ông già Vương viết. Vương ông khóc nức lên, Vương bà, Thúy Vân, Vương Quan cùng khóc. Thúy Kiều nghẹn ngào nói với Chung công:

– Lão gia ơi.. Lão gia dậy thế chứ đời nào cha lại viết giấy bán con. Việc bán mình tự tôi xướng xuất thì chính tay tôi viết giấy cũng được chứ sao.

Thúy Kiều viết:

“Người lập tờ hôn thú này là con gái, tên Vương Thúy Kiều.

“Vì phụ thân tôi bị kẻ gian vu hãm nên phải giam cầm, lẽ nào không cứu, Nay tôi tình nguyện cậy người làm mối bán mình làm thiếp cho nhà họ Mã, lấy tiền sính lễ bốn trăm năm mươi lạnh bạc. Sau khi nhận đủ số bạc thì tôi thuộc về nhà họ Mã, hoặc để ở lại, hay phải đi theo, tùy ý họ Mã định đoạt. Vì sợ sau này không có bằng cớ nên lập tờ hôn thú này chấp chiểu.

“Gia Tĩnh năm thứ 11 tháng 4 ngày 15.

“Người lập hôn thư: con gái là Vương Thgúy Kiều, người đứng trung gian là Chung Sự, người mối: Họ Hàm, cha là Vương Tử Trinh, mẹ là họ Hà, em là Vương Quan cùng ký tên.”

Ngưng trích.

Năm Gia Tĩnh thứ 11, triều Minh, Nước Ba Tầu, mãi dâm được coi là một nghề hợp pháp, những nhà mãi dâm, như nhà Tú Bà, được hành nghề công khai, nhưng phải xin phép hành nghề, phải được phép hành nghề, phải có cái gọi là môn bài, phải đóng thuế, phải kê khai danh tínhh những cô gái trong nhà, phải hành nghề theo luật, phải chịu sự kiểm xoát của nhà đương cục. Nói thời quân chủ không có pháp luật, dân nghèo, dân đen không được pháp luật bảo vệ như bọn cộng sản vẫn nói là nói nhảm, thời quân chủ xã hội có pháp luật và trọng pháp luật, dân đen được pháp luật bảo vệ hơn thời bọn cộng sản cầm quyền rất nhiều. Như ta thấy Mã Giám sinh mua Thúy Kiều về làm thiếp, tức vợ bé, Mã Giám sinh không mua Thúy Kiều về làm gái mãi dâm. Cũng là bán mình nhưng bán mình để làm vợ bé và bán mình để làm đĩ khác nhau xa. Trong tờ hôn thư Thúy Kiều viết rõ: “…bán mình làm thiếp cho nhà họ Mã, lấy tiền sính lễ bốn trăm năm mươi lạng bạc….. Sợ sau này không có bằng cớ nên lập tờ hôn thú này..”

Tờ bảo lãnh của viên Lại già họ Chung viết:

“…. người hiếu nữ tên gọi Vương Thúy Kiều, vì việc cứu cha nên phải bán mình làm thiếp cho khách họ Mã, lấy số tiền sính lễ…”

Thường thì bọn chủ nhà mãi dâm ở kinh đô về các tỉnh lẻ, các vùng quê mua những em có thể làm gái chơi đem về kinh đô hành nghề, trong tiểu thuyết Kim Vân Kiều chuyện ấy được làm ngược lại: Mã Giám sinh về kinh đô Bắc Kinh mua Thúy Kiều đem về Lâm Tri tỉnh lẻ. Nhưng Tú Bà phải khai trình với ty sở phụ trách những nhà mãi dâm ở Lâm Tri về em gái chơi mới đến nhà là Vương Thúy Kiều, khi khai Mụ phải trình giấy mua người về làm điếm. Mụ bắt buộc phải làm những việc đó, Mụ không thể cho Mã Giám sinh lừa gạt Thúy Kiều bằng cách nói mua nàng về làm vợ bé để rồi bắt nàng làm đĩ, dù người con gái bán mình có ngu si, pháp luật cũng không để cho bọn mua cô lừa gạt cô, đánh cô, bắt cô phải làm điếm. Vương Thúy Kiều thông minh, biết chữ, nàng có tờ hôn thư ghi rõ nàng bán mình làm thiếp, Tú Bà không cách nào bắt nàng phải làm điếm. Tại sao nàng lại chịu ép một bề? Không có lý!

Khi đưa Thúy Kiều ra khỏi nhà Tú Bà, truyện kể Thúc Kỳ Tâm nhờ Vệ Hoa Dương, một tay giang hồ anh chị, bảo vệ chàng chống lại Mụ Tú nếu Mụ gây sự cướp lại Thúy Kiều hay đi thưa chàng quyến rũ gái nhà Mụ trốn đi. Đây là lời Vệ Hoa Dương đem pháp luật ra luận:

– Tên Mã Bất Tiến đi mua con gái nhà lương thiện về bắt làm việc đê hèn là phạm luật “mãi lương vi tiện”, Mụ Tú phạm vào luật “hãm liệt vi xướng”. Nếu Mụ biết điều ta sẽ tha thứ, bằng không ta sẽ tố cáo, Mụ sẽ lãnh cả hai tội. Tùy Mụ chọn.

Hãm liệt vi xướng” là tội ép buộc con gái nhà tử tế làm ca nhi. Như vậy là thời Gia Tĩnh triều Minh có Luật Mãi Dâm đàng hoàng, không phải Luật suông, Luật chung chung mà là Luật Mãi Dâm đi vào chi tiết. Sau đó khi gặp Tú Bà, Vệ Hoa Dương nói đến chuyện “..Thúy Kiều nộp đơn xin phép hoàn lương..” Nếu Thúy Kiều phải “nộp đơn xin phép thôi làm gái điếm, trở về đời sống lương thiện” thì tất nhiên nàng có tên trong Sổ Gái Mãi Dâm của tỉnh Lâm Tri, nàng từng được chủ nhà mãi dâm ghi tên tuổi, khai lý lịch và xin phép cho nàng hành nghề mãi dâm, nàng có giấy phép hành nghề gái mãi dâm do Ty Xã Hội Lâm Tri cấp; nếu nàng có tên trong sổ, nàng có giấy phép, tất Mụ Tú phải khai trình lý lịch cuả nàng với nhà chức trách khi nàng mới đến Lâm Tri, nếu có khai báo Mụ bị bắt buộc phải đưa ra tờ giấy bán mình làm thiếp của Thúy Kiều. Dù Mụ có gian dối làm giấy giả, Thúy Kiều cũng không ngu gì mà chịu để cho Mụ dùng roi da đánh thê thảm và bắt làm gái điếm.

Mã Giám sinh thề, Sở Khanh thề, Tú Bà thề.. Thúy Kiều đã nghe ba người thề không lừa gạt nàng, nàng đã thấy cả ba người ấy lừa nàng, vậy mà khi nàng gặp Bạc Hạnh, truyện kể:

Thúy Kiều nói với Giác Duyên:

– .. Chỉ e người ấy gian hoạt, chẳng phải người trung hậu, lợi dụng em làm món hàng thì em lại mắc vào tay lũ quỉ dạ xoa..

Bạc Bà bèn nói:

– Cháu tôi là người trung hậu. Nếu hồ nghi, tôi bảo nó viết tờ giao ước đưa nàng giữ…

Thúy Kiều nói:

– Việc ấy không cần, miễn là anh ấy đứng trước thiên, địa, quỉ, thần mà thề một câu:“Suốt đời không phụ bạc..” thì tôi bằng lòng theo.

Lưu lạc giang hồ đã bẩy, tám năm, đã bị người thiên hạ lừa đến dở chết, dở sống, mà vẫn đòi đàn ôngï phải thề không lừa mình! Chỉ một câu thề là xong, là nàng yên trí! Không có lý. Người ngớ ngẩn, ngu dại, ù lỳ như thế không thể là người thông minh, người ngu ấy không thể là Vương Thúy Kiều!

Đến chuyện Hoạn Thư cho hai tên Khuyển, Ưng đi bắt cóc Thúy Kiều. Truyện Kim Vân Kiều kể:

..Hai tên Ưng, Khuyển nhà họ Hoạn vốn là dân sống ở trên mặt bể, thấy quyền thế nhà họ Hoạn đang mạnh, nên xin vào làm gia nô.

Hoạn Lại Bộ thấy chúng làm việc lanh lẹ, dũng mãnh hơn người, nên cưới cho mỗi tên một con vợ. Hai tên cảm ơn gia chủ, nguyện dốc lòng báo đáp.

Hôm ấy Hoạn Thư gọi chúng vào nói chuyện đi bắt Thúy Kiều, hai gã nói:

– Được phu nhân sai bảo, việc này không khó khăn gì. Chúng tôi theo đường Thái Thương vượt bể, chưa hết năm ngày đã tới Lâm Tri, chỉ cần tìm chỗ cô ấy ở, bắt đem xuống thuyền trở về, trong vòng nửa tháng chúng tôi có thể nộp cô ta..

Sự kiện ly kỳ nhất, quan trọng nhất trong vụ bắt cóc Thúy Kiều là việc bọn Khuyển, Ưng dùng cái thây ma, tức xác người chết, bỏ ở bên sông giả làm Thúy Kiều: Sẵn thây vô chủ bên sông, đem vào để đó lộn sòng ai hay. Vì tìm thấy xác người chết cháy trong nhà: chạy vào chốn cũ phòng hương, trong tro thấy một đống xương cháy tàn. Ngay tình ai biết mưu gian, hẳn nàng thôi lại còn bàn rằng ai… nên Thúc Kỳ Tâm yên trí Thúy Kiều đã chết, vì tưởng Thúy Kiều đã chết nên Thúc Kỳ Tâm không biết Thúy Kiều bị bắt cóc. Mưu gian ấy thật hay, nhưng ai nghĩ ra cái mưu gian ấy? Mưu gian ấy không phải do Hoạn Thư nghĩ ra, khi sai bọn Ưng, Khuyển đi hành sự Hoạn Thư không nói một câu như:

– Đến nơi, chúng bay tìm sẵn một xác người chết, để khi bắt được nàng, chúng bay đem cái xác ấy bỏ vào nhà rồi hãy đốt nhà.

Ta không thấy Hoạn Thư nói gì đến việc đó, hai tên đầy tớ Ưng, Khuyển không đủ đầu óc để nghĩ ra cái mưu ấy. Cái thây vô chủ không thể có sẵn ở bên sông chờ bọn bắt cóc người dùng đến.

Đấy là những chuyện yếu trong truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm, văn sĩ Tầu. Đây là một chuyện vô lý nữa, không những chỉ vô lý suông, nó là chuyện tối vô lý: Thúy Kiều bị bắt về huyện Vô Tích, phải làm người hầu trong nhà Hoạn Bà, rồi sang làm sến sớm khuya khăn mặt, lược đầu hầu hạ Hoạn Thư. Thời gian ấy dài cả năm trời. Chỉ cần hỏi nhỏ những người chung quanh một câu “Đây là đâu?”, chỉ cần nghe trả lời “Đây là huyện Vô Tích. Đây là nhà họ Hoạn..”, người đần độn nhất thiên hạ cũng biết mình bị vợ lớn của chồng bắt về hành hạ, người thông minh như Thúy Kiều làm sao lại không biết? Thúy Kiều không cách nào có thể không biết nàng bị bắt về nhà họ Hoạn chỉ nửa ngày sau khi bọn bắt cóc đưa nàng về tới nơi. Dù Hoạn Thư có ác ôn côn đồ như bọn Bắc Cộng, biệt giam Kiều, tức giam Kiều trong sà-lim kín mít, chỉ có một tên ngày ngày đưa cơm nước vào sà-lim cho Kiều, tên này không nói với Kiều nửa tiếng, Kiều không được thấy ai ngoài tên đưa cơm đó, Kiều cũng đoán được nàng đang nằm sà-lim trong nhà Hoạn Thư. Nói theo ngôn ngữ Ngục Tù Cộng Sản là nàng “bị biệt giam.” Kể cho em nhỏ lên ba nghe em nó cũng không tin Thúy Kiều hầu hạ Hoạn Thư cả năm mà không biết nàng hầu Hoạn Thư, để đến khi nhìn thấy Thúc Kỳ Tâm ngồi bên Hoạn Thư nàng mới té ngửa. Không có lý!

Truyện Kim Vân Kiều có nhiều chuyện vô lý, chuyện không đúng, chuyện không thể xẩy ra, nhiều người đã bình loạn về truyện Kiều nhưng hình như chưa có ai viết về những chuyện vô lý như những chuyện vừa được kể..

Mời quí vị đọc đoạn truyện này:

KIM VÂN KIỀU. Thanh Tâm. Trích:

Thúy Kiều không còn viện được lẽ gì để thoái thác, nàng lẳng lặng một lúc rồi mới thưa với ông bà Vương:

– Đối với lòng chí thành của chàng Kim, lại có cha mẹ và các em hết sức vun quén, mà con lại cứ nằng nặc chối từ thì chẳng hoá ra con là người kiểu cách lắm sao. Nhưng con xin nói: công việc đuốc hoa con chẳng dám trái lời, việc sửa sang chăn nệm con cũng sẽ làm trọn phận sự.

Đến đây nàng nói với Kim Trọng:

– Duy có việc Vu Sơn mưa chiều, mây sớm thì thiếp là kẻ đã sống một đời lang chạ. Nếu chàng muốn so xuân sắc của bông hải đường để làm hổ nhục cho thiếp thì thiếp quyết không vâng mệnh.

Kim Trọng mừng rỡ:

– Được đuốc hoa xum hiệp, chăn gối cùng chung, tôi mãn nguyện quá rồi, còn dám đòi hỏi gì nữa.

Ông bà Viên Ngoại sai người bầy biện nhang án đưốc hoa, trước án trải tấm đệm mầu hồng. Thúy Vân đỡ Thúy Kiều bước vào đứng bên Kim Trọng. Hai người bái trời, bái đất xong, mọi người phò cô dâu, chú rể vào phòng để hai người uống rượu hợp cẩn.

Chàng Kim dịch cây đèn bạc lại gần để nhìn mặt Thúy Kiều, thấy nàng vẫn còn đôi mắt sao xa lóng lánh, cặp má hồng vẫn đỏ hây hây, chẳng khác hơi sương lồng hoa thược dược, mưa xuân phất phới bông đào. Rồi chàng nhẹ tay nới rộng đai lụa, cởi áo cho Kiều, đỡ nàng vào màn uyên ương, bàn tay chàng sờ mó, mơn trớn đến chỗ tình nồng, dần dần tỏ ý tham hương, tiếc nhụy..

Nhưng có ngờ đâu nàng đối với chàng tình nghĩa dẫu tựa keo sơn nhưng đến chuyện giao hoan thì nàng cự tuyệt..!

Không biết trong nguyên bản truyện Tầu Kim Vân Kiều ông Tầu Thanh Tâm dùng chữ gì, ông Tô Nam Nguyễn Đình Diệm dịch là “tình nồng,” “tới chỗ tình nồng”, ta không được cho biết rõ cái chỗ “tình nồng” ấy là cái chỗ nào của Thúy Kiều, ta đành tưởng tượng vậy. Nam nữ yêu nhau, phải xa nhau mười lăm năm mới gặp lại nhau, làm lễ thành vợ chồng, đưa nhau vào giường…

Động phòng dìu dặt chén mồi,
Bâng khuâng duyên mới, ngậm ngùi tình xưa.
Những từ sen ngó, đào tơ,
Mười lăm năm mới bây giờ là đây!
Tình duyên ấy, hợp tan này,
Bi hoan mấy nỗi, đêm chày trăng cao.
Canh khuya, bức gấm rủ thao,
Dưới đèn tỏ rạng, má đào thêm xuân…
Tình nhân lại gặp tình nhân..
Hoa xưa, ong cũ…

Nàng ba mươi tuổi đang xoan.. Chàng ba mươi hai tuổi chửa toan về già.. Bàn tay chàng đã sờ mó đến cái chỗ “tình nồng” của nàng, vậy mà nàng vẫn có thể “em chã.. em chã.. Buông ra.. Để em tu”, vậy mà chàng có thể chịu để cho nàng “em chã.. em chã..!”, vậy mà chàng và nàng vẫn có thể chỉnh đốn áo xiêm, từ giường ngủ đưa nhau trở ra bàn ngồi uống ruợu, làm thơ, khẩy đờn. Ly kỳ hơn nữa là uống rượu, mần thơ, khẩy đờn, nghe đờn chán rồi chàng và nàng lại đưa nhau vô giuờng, nằm bên nhau chàng ngủ ngon, nàng ngủ êm một giấc đến sáng. Thế rồi nhiều đêm sau chàng và nàng vẫn cứ vào giường nằm bên nhau để…  ngủ!!!

Chuyện vô lý đến đây là.. phi-ní lô đia! Hết nước nói. Đừng nói gì thầy Nhan Hồi một giỏ cơm, một bầu nước, sống trong ngõ hẹp mà vẫn vui, đến ông Khổng Khâu công lực đầy người mà đêm đêm nằm như thế cũng không ngủ nổi!

Kim Trọng-Thúy Kiều vợ chồng chay với nhau, đêm đêm chỉ nằm cạnh nhau để ngủ, đêm đêm nằm chung giuờng mà yên lành ngủ được… Mèn ơi.. Làm gì có chuyện ấy. Đến gỗ đá nằm chung giường thì cũng… phải làm thôi, không làm nhau không được, còn người ta thịt da ai cũng là người! Thánh cũng không chịu được, đừng nói người ta! Chuyện Kim Trọng và Thúy Kiều đêm nào cũng nằm chung giường mà không làm cái chuyện trong Liêu Trai Chí Dị gọi là “giao hoan”, và chuyện Thúy Kiều đòi “đi tu” — theo tôi — là hai việc giả tạo nhất, không có lý nhất trong Truyện Kiều. Trong những đêm nằm buồn ở Lầu Bát Giác Chí Hòa, tôi mần những câu thơ cay cay để vịnh Thúy Kiều đi tu:

Sao em trong ngọc trắng ngà
Dầy dầy em đúc một tòa thiên nhiên
Đào hoa trong bấy nhiêu niên
Mà em ăn nói nghe phiền lắm thay,
Mới ba mươi tuổi trao tay
Tu gì được cái tuổi này mà tu?
Em đòi em khép phòng thu
Đêm thu gió lạnh nó cù… em mở ngay.
Hay gì chuyện đó mà hay
Em tu không khéo có ngày em hoảng chưa.
Tu mà uống rượu đánh cờ
Tu xem hoa nở, tu chờ trăng lên.
Em tu cho phỉ mười nguyền,
Cho tình em đượm cho duyên em nồng.
Tu mà làm lễ tơ hồng
Tu mà hoa chúc, động phòng sánh đôi.
Tu mà dìu dặt chén mồi.
Bâng khuâng kinh cũ, ngậm ngùi kệ xưa.
Em ơi, em tu từ sen ngó đào tơ
Mười lăm năm em tu đã, bi giờ em lại tu!
Ầu.. ơ… ví dầu…
Cá lóc thì nấu canh chua
Em đi ở chùa, ai đẻ con anh?
Em tu em độ chúng sanh
Em ăn thịt mỡ, dưa hành ở đâu?
Em tu mà tóc đầy đầu
Nam mô bồ tát Thị Mầu… em tu!

*****

Năm 1960 xanh xưa ở Sài Gòn xưa xanh..

Năm 2000 liêu lạc xứ người…

Thấm thoắt vậy mà đã bốn mươi mùa lá rụng đi qua cuộc đời.. Dòng thời gian trôi chậm, trôi nhanh, nhìn lại như mới là buổi chiều ngày hôm qua tôi ba mươi tuổi, trinh thì không còn nhưng trắng thì còn sam sám trắng, tôi đứng nhìn tấm ảnh nàng kiều nữ khăn voan trắng cô dâu trên đầu, và hàng chữ Thơ Kiều nàng viết gửi người nàng yêu, nàng xin người nàng yêu tha cho nàng cái tội nàng lên xe bông với người khác;

Trăm nghìn gửi lậy Tình quân.
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi..!

Buổi chiều năm xưa khi đọc hai câu Kiều ấy tôi ngất ngư con tầu đi, tôi nghĩ: “Tuyệt cú mèo! Lẩy Kiều như thế này mới là Lẩy Kiều! Sao lại có người Lẩy Kiều tuyệt vời đến như thế này..” Nhưng năm xưa ấy tôi còn trẻ, tôi còn đòi hỏi nhiều, tôi còn khó tính, tôi nghĩ: Trăm nghìn gửi lậy tình quân là đủ rồi, là được rồi. Cần gì phải Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi! Trăm nghìn gửi lậy tình quân, rồi thôi, hay hơn. Năm nay, tôi đã sống gần hết đời tôi, tôi đã yêu, tôi đã..

Năm nay mái tóc không xanh nữa..
Tôi đã đau thương, đã nợ nần…

..tôi không còn khó tính, tôi không còn đòi hỏi, tôi thấy phải là “Trăm nghìn gửi lậy Tình quân.. Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi..” Đã nói nên nói cho hết ý. Vì chỉ còn nói được lần này thôi. Năm nay tôi vẫn thấy Nàng là Người Đàn Bà Đẹp Đa Tình Lẩy Kiều hay nhất đời tôi — Người Đàn Bà Đẹp Đa Tình Lẩy Kiều viết hoa cả 8 chữ; không cần viết Người Đàn Bà Việt Nam Đẹp Đa Tình, cẩn thận viết thế là thưà vì Người Đàn Bà Việt Nam nào cũng đẹp, cũng đa tình, không đẹp, không đa tình, không phải là đàn bà Việt Nam.

Anh X đã qua đời. Tôi không biết Nàng, Người Đàn Bà Đẹp Đa Tình Lẩy Kiều tuyệt diệu nhất đời tôi, năm nay có còn ở cõi đời này; nếu còn tuổi đời nàng mới có Tám Bó, nếu còn dù nàng Tám Bó nàng vẫn đa tình, vẫn quyến rũ như năm nàng Bó Tám. Nhưng mà.. làm gì có Nàng, chuyện Nàng trước khi lên phi cơ vào toa-lét, khi trở ra đưa kỷ vật cho người yêu, chuyện Nàng Cô Dâu Voan Trắng Lẩy Kiều em lậy anh ngàn lậy em đi lấy chồng, tình duyên của chúng ta có chừng này thôi… là chuyện tôi bịa ra, chuyện tôi bầy đặt. Cõi đời này làm gì có Nàng.

Vì tôi tưởng tượng ra Nàng nên tôi còn sống, Nàng làm sao chết được! Trong tôi Nàng sống mãi trong những buổi sáng chủ nhật nắng vàng rực rỡ trên đường Lê Lợi, môi Nàng hồng, mắt Nàng chan chưá Tình Yêu, những buổi chiều thứ bẩy gió từ sông đến vờn yêu tà áo Nàng trên đường Tự Do, những đêm Nàng và tôi nhìn trăng lung linh mặt nước sông Sài Gòn, xóm Thủ Thiêm bên kia sông mờ trong sương trắng, đôi mắt Nàng hư ảo trong những đêm mưa lạnh Nàng và tôi nghe tiếng mưa rơi trên mái tôn Ngân Đình Tửu Gia, những tiếng chuông nhà thờ chúng tôi nằm bên nhau nghe xa gần trong tiếng thở của nhau trong những sáng Sài Gòn tinh sương…

Dù cho vật đổi, sao dời.. Dù núi Thái Sơn mòn còn như cục sà-bông Camay, dù biển Thái Bình cạn nước người ta có thể đi bộ qua biển từ Việt Nam sang Hoa Kỳ, trong tôi mãi mãi Nàng hai muơi bẩy tuổi, tôi mãi mãi ba mươi.

Advertisements

3 Responses

  1. Bai viet rat hay

  2. Chúa ơi! nếu không phải là Bố già CTHĐ thì không ai viết được như thế! Tôi cam đoan rằng, bất kỳ anh đàn ông nào đi lại cái hành trỉnh một đời lãng mạn của bố già trong bài này, cũng đều thấy ít nhiều con người của chính mình ở trong đó.

    Đọc bài này mới thấy Kiều là nhân vật độc đáo muôn thuở, dù chỉ là một sản phẩm của trí tưởng tượng. Những chi tiết vô lý mà bố già nêu ra quả là vô lý, nhưng hình như nếu chi tiết nào cũng có lý hết thì truyện không còn độc đáo nữa?

    Đọc đến chuyện: “Yêu nhau, cởi slíp í à cho nhau” mà tôi bỗng phát rét… Tôi tưởng chỉ có mình tôi trên cõi đời này là được cái “hạnh phúc” ấy! Có điều, Nàng của tôi có thật, chứ không mờ mờ ảo ảo, lúc thật lúc hư như sương như khói, như Nàng trong bài này của bố già.

  3. Lần đầu tiên đọc bài viết này trong tập truyện “Viết Ở Rừng Phong” hay “Rừng Phong Thu Đã …” gì đó mà CTHĐ xuất bản cách đây vài năm, tôi đã làm một bảng so sánh như sau.

    . NÀNG — SÀI GÒN (Nàng và Saigon viết hoa, hoa cả dấu huyền) dưới chính thể Cộng Hoà miền Nam Việt Nam
    . Anh X, tòa T — Công Tử Hà Đông nhập vai
    . Slip của Nàng — Những kỷ niệm tuyệt vời của CTHĐ về Saigon
    . Luật pháp trong truyện Kiều (1533) — Luật rừng rú của việt cộng (sau 1975)
    . Những điều vô lý trong truyện Kiều — Những việc làm phi nhân, bất nghĩa của bọn bắc cộng
    . Tơ duyên ngắn ngủi — Thời gian 25 năm vàng son (1950 – 1975) CTHĐ sống ở Saigon
    . Những lần Kiều mắc lừa — Những lần CTHĐ bị “tó” (hai lần)
    . Thuý Kiều/Kim Trọng tái hồi “suông” (chay) –CTHĐ/Saigon gặp lại trong hoài niệm, trong những bài viết sau khi Công Tử vù sang Mỹ

    Với cái bảng so sánh tổng quát trong đầu như vậy, đọc lại những lần sau tôi cảm thấy bài viết này hay lên, với nhiều xúc cảm hơn. Giống như Công Tử đã từng so sánh lời thơ trong những bài “Lá Diêu Bông”, “Qua Vườn Ổi” … của thi sĩ Hoàng Cầm với hiện thực dưới thời cộng sản áp đặt quyền hành trên xứ Bắc.

    Còn một điều théc méc, thi sĩ Hoàng Cầm dưới triều đại cáo hồ phải ẩn dụ ẩn diếc qua thi văn cũng là điều dễ hiểu, thông cảm được chứ Công Tử đang đình huỳnh, tự do, thoải mới ở cường quốc văn minh nhất thế giới này thì việc gì phải nhân cách hoá, thiên cách biến trong bài viết của mình nhỉ? Hỏi tức là đã có câu trả lời rồi: đấy là một trong những điểm độc đáo của Công Tử ít thấy ở những văn sĩ khác!!

    Đọc “Trăm Nghìn Gửi Lậy …” hấp dẫn ở chỗ nó kích thích óc tò mò và tưởng tượng của người đọc, phải không quý vị?

    Tôi không biết những sự so sánh của mình khi đọc “Trăm Nghìn Gửi Lậy …” có gần gần giống quý vị hay không, đúng hay gần gần đúng những điều Công Tử muốn gửi gấm đến độc giả qua bài viết này?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: