• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Thơ Lạnh Trong Tù

Thơ Lạnh Trong Tù” là tên Việt tôi dịch từ “Lao Trung Lãnh Vận,” tập thơ gồm những bài Thơ làm trong Lao Tù của Thi sĩ Trần Văn Hương. Quí vị đã biết nhiều về ông Đô Trưởng Sài Gòn – Thủ Tướng – Phó Tổng Thống và Tổng Thống Trần Văn Hương, bài Viết ở Rừng Phong hôm nay trình bày với quí vị một số bài Thơ làm trong Tù của Thi sĩ Trần Văn Hương. Những bài Thơ Tù tôi mới đây mới biết và tôi nghĩ có rất ít người Việt biết.

Tran Van HuongKhoảng năm 1965 tôi được biết bài Thơ Tù của Thi sĩ Trần Văn Hương — bài Thơ có câu tả cảnh người tù trong tù “Ngồi rù gãi háng”. Những năm ấy tôi chưa sống qua nửa ngày tù đày, tôi thấy lời Thơ “Ngồi rù gãi háng..” hay hay, tức cười, nhưng chỉ thế thôi, lời Thơ không làm tôi xúc động, tôi cũng không thấy tôi cần tìm xem Thi sĩ Ngồi Rù ngoài bài Thơ đó ra có làm bài Thơ Tù nào khác không. Như nhiều người cùng thời, tôi chỉ biết có một bài Thơ đó của Trần Thi sĩ. Biết hai ba câu, biết không trọn bài. Tôi biết ông có một tập Thơ Tù và ông đã xuất bản tập Thơ này nhưng trước năm 1975 tôi không tìm đọc Thơ Tù của ông, viết đúng hơn là trước 1975 tôi không có duyên, không có cơ hội được đọc thi phẩm “Lao Trung Lãnh Vận” của ông, dù tôi biết cuộc đời có tập Thơ Tù ấy.

Tháng Tám 2009, liêu lạc ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, không có việc gì làm hay hơn, thích thú hơn, tôi sáng chiều ngồi trước máy computer, tôi mò mẫm trong những Trang Web, Net xem quí vị ký giả, văn nhân viết những gì, viết về những đề tài gì. Không định tìm, vậy mà tình cờ tôi tìm thấy trên Web tập Thơ “Lao Trung Lãnh Vận” của Thi sĩ Trần Văn Hương. Đây là lần thứ nhất tôi đọc trọn vẹn tập Thơ Tù này.

Đêm tha hương, nằm đọc Thơ Tù của một ông người Việt Quốc Gia Tù Xưa, cảm khái cách gì. Nghĩ rằng nhiều người Việt chưa được đọc và muốn được đọc những bài Thơ Tù ấy của một người Việt Nam nổi tiếng, tôi trích những bài làm tôi cảm khái trong tác phẩm “Thơ Lạnh Trong Tù” của Thi sĩ Trần Văn Hương, mời quí vị thưởng thức:

TRẦN VĂN HƯƠNG. LAO TRUNG LÃNH VẬN

Thơ Trần Văn Hương. In lần thứ ba năm 1974.

4 câu Thơ ở Trang 1:

Mấy vần thơ lạnh ở trong lao
Khéo, vụng dầu ai hiểu thế nào;
Thương, cũng cám ơn, cười cũng chịu
Hỏi người thông cảm độ chừng bao.

Thi phẩm “Lao Trung Lãnh Vận” của Thi sĩ Trần Văn Hương, 200 trang, 50 bài thơ, cho biết ông bị bắt giam ở Tổng Nha Công An – Cảnh Sát Quốc Gia VNCH ngày 12-11-1960, vì tội “liên can trong cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960”. Cùng bị bắt với ông TV Hương có nhiều nhà chính trị khác. Các ông bị giam được ưu đãi, nằm riêng xà-lim, được nói chuyện với những ông tù ở những xà-lim bên cạnh, được qua lại thăm hỏi nhau. Cùng dẫy xà-lim của ông TV Hương có xà-lim giam ông Phan Bá Cầm, người là Tổng Trưởng Bộ Canh Nông của chính phủ đảo chánh, có ông Triết, Đô Trưởng Sài Gòn, ông Trần Văn Tuyên, ông Tạ Chương Phùng, ông Nguyễn Trung Hậu. Không thấy có các ông Phan Khắc Sửu, Trần Văn Ân, Phan Quang Đán. Nhóm ông PK Sửu, PQ Đán bị giam ở nơi khác.

Vừa vào tù hôm trước, hôm sau Thi sĩ Trần Văn Hương đã có Thơ ngay. Đây là bài Thơ thứ nhất trong Lao Tù của Nhà Thơ:

Ai bảo trong lao khổ?
Trong lao sướng thấy mồ.
Bên này thì cụ Tổng,
Phía nớ lại quan Đô.
Đòi vợ, ngầy: ông Cử,
Làm thơ, giễu, bác Đồ.
Mấy anh còn ở ngoải,
Đợi quái gì không vô?

Nhiều người Việt biết bài Thơ “Ngồi rù gãi háng..” của Thi sĩ Trần Văn Hương nhưng không biết nguyên nhân làm Trần Thi sĩ sáng tác bài Thơ Tù đặc sắc ấy. Trong “Lao Trung Lãnh Vận”, tác giả cho ta biết ông Tạ Chương Phùng, người bị bắt cùng ngày, cùng tội, xà-lim ở cùng dẫy với tác giả và được ông gọi là ông Cử, nói:

Trong lao không có gì quá kham khổ, chịu được. Chỉ có thiếu ma femme là moa buồn. Tứ khoái mà thiếu một, chỉ có ba, moa khó chịu.”

Nên ông TV Hương làm bài Thơ Tù Ngồi Rù độc đáo:

Suốt ngày ăn ngủ, ngủ rồi ăn.
Chẳng thấy chuyện gì chuyện khó khăn.
Nằm khểnh sờ môi, râu tủa tuả,
Ngồi rù gãi háng, dái lăn tăn.
Làm sang phe phẩy tay còn quạt,
Đi tắm trần truồng mổng thiếu chăn.
Ăn, ngủ, ỉa xong đầy đủ cả.
Muốn chi chi nữa, biết mần răng.

Đây là lời kể của Thi sĩ Trần Văn Hương, trích trong Lao Trung Lãnh Vận:

TV Hương: Ăn uống đầy đủ, ngủ ghế bố nhà binh, mùng mền mới tinh. Nhưng nằm cả ngày, đêm không ngủ được, trỗi dậy ngồi làm thơ, không bút giấy, phải đọc nhẩm nhiều lần cho thật nhớ:

Thao thức canh khuya trỗi dậy ngồi.
Chuyện đời chẳng lẽ thế này thôi.
Tầm chưa hết kiếp, tơ vương nữa,
Thơ mới thành câu, ruột đứt rồi.
Hồn mộng dẫu qua từng cửa sắt,
Nỗi lòng khôn gửi bức tường vôi.
Nghiêng mình xuống ghế toan yên gíấc,
Văng vẳng đền xa kiểng đổ hồi.

Anh Trần Văn Tuyên nghe tôi đọc bài thơ này, nói người đời đọc thơ có thể cho là tôi hèn yếu, vào tù buồn sợ, nhưng tôi đứt ruột vì nước nhà gặp hiểm nguy, không phải vì tôi bị tù.

Hoạ bài thơ “Ngồi trăng” của Học Lạc: trú, lũ, tụ, phủ, vụ:

Nầy anh, nầy cụ, nầy là chú,
Lóc cóc vào đây ngồi một lũ.
Những tưởng buồn như chó mất nhà,
Nào ngờ vui quá bài xơm tụ.
Thân này dẫu vuớng chốn lao lung,
Nỗi ấy vẫn ghi trong phế phủ.
Xuống chó, lên voi lắm chuyện đời,
Xưa nay diễn biến bao nhiêu vụ.

Nỗi: đúng ra là Oán, tôi sợ không dám viết “Oán.”

Chó mất nhà: Tử Cống lạc đoàn, đi tìm Khổng Tử, hỏi người đi đường có thấy Khổng Tử ở đâu không? Người đi đường hỏi lại:

“Ông muốn hỏi cái nhà ông hơ hơ hải hải như chó mất nhà, phải không?” “Ly nhiên nhi táng gia chi cẩu.”

Vịnh cảnh người tù ra chụp hình làm hồ sơ:

Nghe lịnh đòi ra chịu chụp hình.
Đua nhau sắm sửa để làm xinh.
Anh xoa mái tóc cho ra dáng.
Cụ vuốt chòm râu để gợi tình.
Sờ trán, chùi da, da mốc thếch,
Đưa tay giũ áo, áo hôi rình.
Ví dầu ảnh ấy ngày sau thấy,
Chúng bảo nhau rằng: “Cái lũ ranh.”

Thơ Tù làm ngày 1-12-1960

Cũng dự phong lưu lúc ở ngoài,
Vào đây, nhìn mãi chẳng ra ai.
Mặt mày ú rũ, râu dòm miệng,
Đầu cổ chơm bơm, tóc liếm tai.
Răng cỏ vắng chùi hôi chủm chủm,
Áo quần không giặt ngửi khai khai.
Chưả bao lâu đã thay hình dạng,
Dị tuớng, than ôi lại bất tài.

                            ***

Mỹ vị, cao lương xá kể gì.
Vào đây ngon dở chỉ tùy nghi.
Giải buồn ta gặm vè cơm cháy,
Đỡ dạ người nhai khúc bánh mì.
Tươi cá, trắng cơm no cũng đủ,
Cao mâm, đầy cỗ sướng mà chi.
Cái may phải biết tìm trong rủi,
Thuật ấy sau này nhớ chép ghi.

Thơ làm ngày 6-2-1960

Trăng mới vừa đầy, trăng lại vơi.
Tính gần cuối tháng, Tết gần nơi.
Trót nằm nhà ngục, đành yên phận.
Được tiễn ông Công, hẳn sướng đời.
Kẻ chực ngày về, trông mỏi mắt,
Người lo chuyện tới, tức trào hơi.
Tội chi tiếc rẻ cho thêm mệt.
Canh bạc chưa tan, chửa lỗ lời.

Thơ làm ngày 6-2-1960: 44 ngày tù.

Ngày dài lần tính bốn mươi tư.
Chả lẽ nằm đây mãi thế ư?
Tình thật mới phân điều phải trái,
Lòng thành hẳn nghĩ chuyện riêng tư.
Thân mình giam hãm buồn sanh chán,
Vận nước truân chuyên khó dám từ.
Định mạng bắt sao, vui chịu vậy,
Tuổi gần sáu chục, sống đà dư.

Thơ làm khi sống trong tù 90 ngày:

Thầm tính ngày qua đã chín mươi!
Nỗi riêng còn biết khóc hay cười.
Sống còn vận nước, nhìn trơ mắt,
Hèn đớn thân mình, nghĩ hổ người.
Nợ trả ba trăng chưa dứt vốn,
Tuổi kề sáu chục chửa ra người.
Nắng già để tội thân vàng uá,
Gặp trận mưa rào hẳn trở tươi.

Những ngày cuối năm, gần Tết, trong tù ông Tù Nguyễn Trung Hậu bị lạnh, co ro, tôi (Trần Văn Hương) tặng ông Tù Nguyễn Trung Hậu hai câu:

Con Tạo khuấy chơi người tuổi tác,
Chữ Danh làm thiệt cái hình hài.

Ông Tù Nguyễn Trung Hậu làm bài Thơ:

Lều tranh nương náu sống qua ngày,
Căn nghiệp còn vương chút nạn tai.
Con Tạo khuấy chơi người tuổi tác,
Chữ Danh làm thiệt cái hình hài.
Từng qua nửa kiếp mùi chay lạt,
Chi lạ đôi tuần vị đắng cay.
Mù mịt biết đâu là hoạ phước?
Bẩy mươi chưa dám gọi rằng may.

Năm 1960, Ông Tù NT Hậu 69 tuổi, ông Tù TV Hương 60 tuổi.

Ngày 26-12-1960, tôi (TV Hương) bị một lính canh nhà ngục quát: “Thằng già đi đâu..?” Ngẫu hứng làm bài thơ:

Nhắn nhủ ai luồn gió bẻ măng.
Chuyển vần sự thế biết hay chăng?
Cớ sao quên chuyện dâu thành bể?
Mà vội khinh ta cụ hóa thằng.
Ưỡn ngực, khòm lưng, phường lớn tớn.
Lên voi, xuống chó, cảnh lăng nhăng.
Mái nhà thấp, trót chui vào đó,
Cúi cái đầu cao, vậy mới rằng.

TẾT, ngày 15-2-1960

Uả! Hôm nay đã Tết rồi sao?
Rối trí quên xuân đến lúc nào.
Không pháo, không nêu mừng trước ngõ,
Chẳng mai, chẳng cúc đón bên rào.
Ái ưu đương dở, công thì mọn.
Danh nghĩa chưa tròn tuổi lại cao.
Xuân sẽ cùng ta về mấy lượt?
Đôi ba phen nữa có là bao.

*****

Ông Tù TV Hương kể chuyện đêm ngủ trong tù ông chiêm bao thấy bà thân mẫu của ông. Trích Lao Trung Lãnh Vận:

Một đêm trong tù, trong giấc ngủ, tôi chiêm bao thấy bà thân mẫu của tôi. Bà kêu mắng tôi một trận nên thân. Mà thật ngộ, trong chiêm bao bà mẹ tôi mắng tôi lời lẽ y hệt những năm tôi 11, 12 tuổi. Bà mắng tôi:

“Chuyện ai mặc ai, can chi đến mày? Sao mày hay gánh vác chuyện thiên hạ làm vậy?” Trong bài thơ sau đây tôi chỉ sắp xếp lại thành câu văn những lời thân mẫu tôi nói với tôi trong chiêm bao;

Vì chưng bẻm mép mới vào đây.
Câm họng đâu ra đến nỗi này.
Dân chúng sướng, đồ : dân chúng khổ!
Nước nhà yên, bảo: nước nhà nguy.
Dở hay mặc kệ thằng cha nó,
Còn mất can chi lão nội mầy!
Nếm thử mùi tù cho đáng kiếp,
Từ rày chừa bỏ tật thày lay.

Ông Tù TV Hương kể chuyện về người Tù Hà Minh Trí, người dùng súng ám sát hụt Tổng Thống Ngô Đình Diệm ở Hội Chợ Ban Mê Thuột năm 1957.

Lao Trung Lãnh Vận. Thi sĩ Trần Văn Hương viết:

Bị giam vào lao ít lâu, thường đêm lối 9, 10 giờ, nghe có tiếng người ca hát văng vẳng từ xa đưa đến, giọng vô cùng buồn thảm, như hờn, như oán, như khóc, như than. Ai nghe cũng đau lòng, đứt ruột. Ban đầu ngỡ đó là tiếng hát của mấy ông lính canh, sau nghe kỹ lại thì đó là tiếng ca hát từ một xà-lim cuối dẫy mà người ca hát là một cậu tù trẻ, lối hai mươi tuổi. Sau ngày biến cố 1-11-1963 mới biết cậu tù tên là Hà Minh Trí, người toan ám sát Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm ngày 22-2-1957 trong dịp khai mạc Hội Chợ Ban Mê Thuột. Sau khi bị giam ở vài chỗ, Hà Minh Trí được đưa về giam ở Trại B, xà-lim số 19, Nhà Giam của Tổng Nha Giám Đốc Công An-Cảnh Sát. Trách nào khi có đồ gia đình gửi vào tiếp tế, tôi mang đến biếu cậu Trí vài món, mấy ông gác nhà lao bảo tôi “ không nên, có chuyện lôi thôi.”

Một đêm nghe Hà Minh Trí ca hát, tôi xúc động làm bài Thơ:

Từng chập luồn sang, giọng thiết tha.
Đưa niềm u uất khách phòng xa.
Nỉ non tim nghẹn lời yêu nước,
Tê tái sầu vuơng hận mất nhà.
Oán dậy ào ào: cây núi đổ,
Máu tuôn cuồn cuộn suối ngàn xa.
Lặng nghe não nuột người thông cảm,
Đồng bệnh cùng thương, lựa trẻ già.

Người Tù Nguyễn Trung Hậu làm bài Thơ về người Tù Hà Minh Trí:

Phòng giam trăn trở lụn canh gà,
Bên cạnh người đâu cất tiếng ca.
Hơi oán thêm bào gan ruột khách,
Giọng than như khóc nước non nhà.
Mờ mờ sương lạnh sao khuya rụng,
Cuồn cuộn mây sầu gió thảm qua.
Đêm vắng khiến ai đồng cảnh ngộ,
Động niềm tâm sự khó phôi pha.

CTHĐ: Không phải đến tháng 11 năm 1960 khi vào tù ông Trần Văn Hương mới bắt đầu làm Thơ, ông làm Thơ từ những năm 1920 khi ông là học trò trung học, ông làm Thơ những năm ông là sinh viên học Trường Cao Đẳng Sư Phạm ở Hà Nội. Ông làm toàn Thơ Luật Đường. Qua Thơ ông và những bài viết của ông, ta thấy ông thông hiểu chữ Hán.

Lao Trung Lãnh Vận. Thi sĩ TV Hương kể:

Năm 1920, trong giờ dậy của cụ Nguyễn Khắc Huề, cụ giảng lịch sử, nói đến Bà Trưng Trắc, bà Trưng Nhị. Tôi cảm xúc làm bài thơ:

Phấn son mà có chí tang bồng,
Đem sức liễu bồ gánh núi sông.
Phất ngọn nghĩa kỳ đền nợ nước,
Dẫn đoàn mãnh tướng trả thù chồng.
Tiết trung mình giữ cho đành dạ,
Đắc thất trời xui cũng mặc lòng.
Tuy chắc, cột đồng nay đã ngã,
Mà hai hình đá vững như đồng.

Năm 1925 tôi học trường Cao Đẳng Sư Phạm ở Hà Nội. Ngoài giờ học, anh em sinh viên hay ra khu sau trường, lén mua quà của những người bán ngoài hàng rào nhà trường. Một hôm, tôi ăn phở, ngon quá, hứng chí ngâm hai câu:

Buổi sớm cà-phê, trưa phở tái,
Ban chiều tào-xá, tối chè sen.

Mấy ông bạn nghe, đòi tôi làm trọn bài thơ. Tôi vừa ăn phở vưà làm thơ. Ăn xong tô phở, tôi làm được bài thơ với chủ đề “Ăn và Chơi”:

Cần chi hi thanh với hi hiền,
Ngày tháng ăn chơi, thế cũng tiên.
Buổi sớm cà-phê, trưa phở tài,
Ban chiều tào-xá, tối chè sen.
Soi gương kim cổ, ba con sách,
Kết bạn cô đơn, một bóng đèn.
Lần lữa cho qua rồi một kiếp.
Trối thây miệng thế tiếng chê khen.

Ngưng trích Lao Trung Lãnh Vận.

Tào-xá: Lục tào — xá”, chè đậu xanh người Tầu ở Bắc Kỳ nấu, gánh đi bán rong. “Ly nhiên nhi táng gia chi cẩu.”: Hơ hải như chó mất nhà, sang tiếng Việt, thành “Lêu bêu như chó mất chủ.” “Bài xơm tụ, bài xôm tụ” thành ngữ miền Nam.

Bài thơ “Ngồi trăng” với những vần “trú, lũ, tụ, phủ, cụ” của ông Nguyễn Văn Lạc — Học Lạc:

Hoá An-nam, lứ, khách trú,
Trăng trói lăng nhăng chung một lũ.
Ngoài mặt ngỡ ngàng lạ Bắc Nam,
Trong tay cắc cớ xui đoàn tụ.
Bợm làng chẳng vị sĩ năm kinh,
Ông Bổn không thương người bẩy phủ.
Phạt vạ xong rồi trở ra về,
Hóa thì hốc thuốc, lứ bông vụ.

Nhắc lại; Thi sĩ Trần Văn Hương làm toàn Thơ Đường luật. Không biết ngoài đời ra sao, qua tập Lao Trung Lãnh Vận, ta thấy vào lao tù ông làm nhiều thơ, ông làm thơ dễ dàng, có hồn, có xúc cảm, có sự truyền cảm. Lại không biết từ sau Ngày 30 Tháng Tư 1975 đến ngày ông lìa đời, Trần Thi sĩ có làm bài thơ nào không? Tôi chắc là có.

Ông Trần Văn Hương bị bắt vào lao ngày 12 Tháng 11, 1960, ông ra khỏi lao ngày 22 Tháng 2, 1961. Ông ở tù chỉ có 4 tháng. Trong 4 tháng tù ông làm khoảng 50 bài thơ. Không có lý người có tâm hồn Thơ như ông trong những năm toàn quốc đen tối, toàn dân sầu khổ sau năm 1975 lại không làm bài thơ nào.

Lao Trung Lãnh Vận cho tôi nhớ lại chuyện năm 1957, Tổng Thống Ngô Đình Diệm bay lên Ban Mê Thuột khánh thành Hội Chợ tại đây. Chuyện xẩy ra đã 50 năm xưa, đây là vụ ám sát chính trị thứ nhất của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, một người dùng súng tiểu liên bắn Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong Hội Chợ. Súng chỉ nổ được mấy viên đạn là bị kẹt đạn. TT. Ngô Đình Diệm không hề hấn gì, một ông Bộ Trưởng đứng bên TT. trúng đạn, bị thương. Người bắn súng bị bắt sống tại chỗ. Thời gian qua..

50 năm sau ngày xẩy ra vụ ám sát hụt ấy, ở xứ người, qua Lao Trung Lãnh Vận của Thi sĩ Trần Văn Hương, tôi được biết người dùng súng bắn TT Ngô Đình Diệm tên là Hà Minh Trí. Không bị đưa ra toà xử nhưng bị giam kín mãi, sau ngày TT Ngô Đình Diệm bị bắn chết, tất nhiên Hà Minh Trí được ra tù, chỉ không biết đương sự lưu lạc về đâu trong cuộc biển dâu!

Tôi sẽ kính đưa quí vị trở lại Thơ Lạnh Trong Tù.

Advertisements

19 Responses

  1. Lịch sử thường tái diễn!!

    Nhà Ngô mất ngôi vì độc tài, độc đảng (Cần Lao Nhân Vị) và gia đình trị – nhà hồ độc tài, độc đảng và côn đồ trị đang đi vào vết xe đổ này.

    Nhà Ngô đàn áp Phật giáo – nhà hồ đàn áp Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Muslim giáo và đủ thứ giáo.

    Nhà Ngô kéo dài được 9 năm và chấm dứt với cuộc đảo chính của quân đội – nhà hồ 34 năm (quá lâu … nhưng chắc không lâu lắm đâu!!) và chấm dứt với …

    Các bác giúp tìm thêm những điểm tương đồng giữa hai nhà và điền vào chỗ trống nhanh lên vì ngày tàn của nhà hồ đã gần kề!!

  2. Tôi khoái TT Trần Văn Hương nhất khi ông hứa sẽ chiến đấu bên cạnh quân dân VN trong những ngày tàn của cuộc chiến. Ai còn nhớ lời khẳng khái của ông là “xin nguyện được chôn nắm xương tàn này bên cạnh các anh em chiến sĩ!” trong buổi lễ bàn giao chức vụ TT cho Dương văn Minh (ngày 28/04/1975)?
    Ông nói thế và đã làm đúng y như thế!
    Và phần lớn quan quân tướng lãnh VNCH đã làm y như ông! Tiếc là chỉ vì một vài nhân vật “tầm cỡ” của chế độ VNCH, kể cả TT Nguyễn Văn Thiệu, đã bỏ chạy nên VC có cớ bôi bác quân lực VNCH của miền Nam.
    Tuy nhiên, khi chứng kiến tận mắt những đòn thù nhục nhã mà bọn VC đã dành cho hơn một triệu quân, công, cán, chính VNCH, tôi vẫn nghĩ họ có chạy lấy mạng trước bọn thổ phỉ VC thì chũng đừng nên trách họ làm gì!
    Ngược lại, khi chế độ CS sụp đổ trên toàn cõi Đông Âu và nước Nga, có ai phải chạy lấy mạng không nhỉ? Và có ai lập nên những hội đoàn, đảng phái đòi khôi phục lại cái chế độ ngu xuẩn ấy? Tôi có dịp hỏi chuyện những người bạn gốc Nga, đã sinh ra và lớn lên trong môi trường xã hội XHCN, xem họ nghĩ gì và có hãnh diện không về cái chế độ ấy. Họ chỉ nhún vai mắc cỡ, chua chát! Hỏi tới nữa, họ chỉ biết nói xuôi xị: “Lênin mà có sống lại cũng phải đem hắn ra xử bắn thoi!”
    Chúng ta đã làm đúng khi xác định lập trường chống cộng của mình vay, cac bac!

  3. Bác Hòang Hải Thủy ơi, Hà Minh Trí đó là VC nằm vùng, sau 75 ra công khai là cán bộ . Xin coi website :
    http://hatoc.org/read.php?entryid=11&page=1&part=1


    ……Đưá bé lưu lạc
    …..Đó là một ngôi nhà nhỏ nhưng được xây kiên cố theo lối kiến trúc bán hiện đại – kiểu nhà ở thông dụng của nông dân miền Nam . Mặt tiền ngôi nhà có bậc tam cấp dẫn lên khoảng hiên nhỏ; mái lợp ngói; phía sau, bên hông có một gian hậu song song với gian chính hướng cửa ra trước. Bên trong gian chính, bốn cánh cửa phòng ngủ nằm song song nhau, cùng thông ra gian phòng khách. Gian hậu được xem như là “hội trường”, vừa làm nơi gặp gỡ của các thành viên trong gia đình, vừa là nhà bếp, vừa là nhà ăn. Với kiểu bố trí hình dạng kiến trúc như thế, chủ nhân ngôi nhà có thể tận dụng triệt để từng diện tích nhỏ.
    Ngôi nhà nhỏ lọt thỏm trong một vườn cây, hoa lá, kiểng cổ xum xuê đủ chủng loại: Mai vàng, các loại xương rồng, mai chiếu thuỷ, gừa, ổ rồng… Loại nào cũng có giá trị hạng trung đối với dân chơi kiểng. Và toàn bộ khuôn viên ngôi nhà lại lọt thỏm trong một xóm dân cư bình dân, thâm trầm giữa um tùm cây trái của ấp Thái Ninh, phường II, thị xã Tây Ninh. Cách đó không xa, con rạch Vàm Cỏ – Nơi tiếp nối thượng nguồn từ biên giới Campuchia ở hướng tây xuyên những cánh đồng lúa, vườn tược tươi tốt hoà vào một dòng chảy khác rồi tách ra để thành hai dòng sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây chảy thẳng ra biển đông mênh mông. Con sông xanh biếc trong veo quanh năm ấy đã hoá thành thơ ca, đã đi vào lịch sử kháng chiến vệ quốc vĩ đại của con người Việt Nam . Dòng chảy của nó đến đâu thì nơi đó có những con người dũng cảm tạo nên hàng vạn kỳ tích chiến đấu.
    Chỉ cần ngôi nhà được cơi nới thêm một tầng thì chắc chắc nó sẽ được đưa lên hàng “biệt thự”. Tuy nhiên, cái dáng vẻ nhỏ thó, cũ mèm, khiêm tốn, khiến nó chỉ đáng là một ngôi – nha ø- có – vườn – hoa – kiểng. Trông cái hình dáng của nó, người ta cảm nhận rất rõ một chân dung rắn rỏi, cương nghị, không phô trương nhưng sắc xảo, nhỏ thó nhưng chắc chắn, lãng mạn nhưng nghiêm khắc. Nhìn ngôi nhà, không ai có thể nghĩ rằng đó là nơi trú ngụ của một cặp vợ chồng già là cán bộ công an hưu trí. Và có lẽ cũng ít ai ngờ rằng, có một dạo, chủ nhân ngôi nhà ấy đã được đăng ảnh trên trang nhất các báo trong nước, ngoài nước cách nay ngót nghét nửa thế kỷ kèm theo hàng tin làm chấn động dư luận: Kẻ ám sát tổng thống Ngô Đình Diệm.
    Thuở ấy, dư luận báo chí trong nước lẫn ngoài nước đều cho rằng nhân vật ám sát tổng thống họ Ngô là người của Cao Đài Liên Minh. Họ cho rằng phát súng ám sát ấy chỉ là một tiếng động khởi phát từ sự bức xúc của tôn giáo, bùng phát từ nỗi hận thù tín ngưỡng của Cao Đài giáo trả đũa lại những hành động đàn áp của tổng thống họ Ngô. Dư luận lúc ấy đã tiếc nuối cho rằng, phát súng ấy đã không thành công, không giết chết được vị tổng thống có nhiều nợ máu với dân tộc Việt và phát súng ấy đã không hoàn thành được vai trò của sứ mạng lịch sử. Phát súng ấy chỉ là một tiếng động nhỏ nhoi lẽ loi trong vô vàn tiếng súng hướng về phía chính quyền Ngô Đình Diệm.
    Nhưng nhận định ấy chỉ là dư luận nhất thời chứ không là lịch sử.
    Gần 20 năm sau, khi Ngô Đình Diệm và chế độ Nguỵ của ông ta đã “xanh mồ” ,ø nguôi ngoai trong ký ức dư luận, khi chiến thắng mùa xuân 1975 đã đưa dân tộc Việt Nam thống nhất một cõi, đất nước Việt Nam hoàn toàn sạch bóng ngoại xâm, lịch sử đã chứng minh và đính chính lại những gì chưa đúng với sự thật, chưa đúng với diễn biến thực tế. Lịch sử đã nhìn nhận khách quan và chứng minh vai trò xuất sắc của phát súng ám sát họ Ngô năm nào. Mới đây, ban nghiên cứu lịch sử ngành công an Việt Nam đã đánh giá rằng: Phát súng ấy không giết chết họ Ngô ngay thời điểm ấy nhưng âm vang của của phát súng đã tạo nên những loạt súng căm thù khác hướng về phía tổng thống họ Ngô. Phát súng ấy đã tạo nên lòng nghi kỵ của họ Ngô và các tướng lĩnh của ông ta; đã tạo nên lòng hận thù trong lòng địch. Từ đó, phát súng đã tạo nên những cuộc đảo chính do thuộc hạ của Diệm dành cho Diệm. Và cuộc đảo chính năm 1963 đã thật sự đưa họ Ngô và chính quyền của ông ta xuống tử huyệt, đồng thời tạo nên sự xáo trộn triền miên trong hàng ngũ những kẻ kế thừa ông ta đi theo con đường ngược lòng dân, góp phần làm suy yếu địch dẫn đến chiến thắng mùa xuân 1975.
    Sau vài lần hẹn trước, tôi gặp được ông. Đó là một người đàn ông tầm thước, dáng đi hơi khập khiểng nhưng nhanh nhẹn-cái nhanh nhẹn của con nhà võ.
    Chủ nhân ngôi nhà là một người đàn ông độ tuổi “cổ lai hy”, tầm thước, giản dị, không cao to như chúng tôi từng nghĩ và chẳng có chút dáng dấp của một sát thủ. Gương mặt đôn hậu của ông trông giống một kỹ sư nông nghiệp hơn một kẻ đã từng gây chấn động một góc trời chính trị thế giới ở thập niên 60.
    Ông đón tôi vào nhà bằng câu xác định: “Đúng. Tôi là Mười Thương, Triệu Thiên Thương; Mười Trí, Hà Minh Trí; Đinh Dũng; Phan Văn Điền”.
    Trong khi chờ đợi ông pha ấm trà, tôi lơ đễnh nhìn ra khoảng vườn rậm rạp, nơi đó, một người phụ nữ luống tuổi, tóc cắt gọn, vận chiếc quần đùi kiểu cầu thủ đá banh đang tất tật với nồi cám heo. Không ngẫng lên, ông thủ thỉ:
    -Bả đang chăm sóc mấy con heo kiếm thêm chút đỉnh tiền chợ. Mấy đứa nhỏ lớn hết rồi. Đứa đi làm việc, đứa đi học ở thành phố. Giờ chỉ còn “hai đứa già” ở nhà.
    Cái giọng nói rặt Nam bộ của ông khiến tôi hơi ngạc nhiên:
    -Hình như quê của chú ở phía Bắc?
    -Ừ, thì quê tôi ở Cửa Lò, Nghệ An. Tôi sinh năm 1935 ở Nghi Thiết, Nghi Lộc, Nghệ An. – Ông bắt đầu nhập chuyện một cách mạch lạc – Cha tôi chết trong cuộc khởi nghĩa Đô Lương khi tôi còn quá nhỏ, chưa biết gì. Mẹ tôi lấy chồng khác, bỏ tôi sống với bà nội già. Năm 1945, tôi mới 10 tuổi, nạn đói hoành hành khắp nơi. Một hôm, bác trai tôi đón 2 bà cháu lên cầu Bùn để chạy trốn nạn đói. Bác trai tôi làm công nhân nhà máy điện Vinh, còn bác gái làm công nhân nhà máy diêm Vinh. Lúc đó, hai ông bà đang tham gia cách mạng. Cầu Bùn là cây cầu nối vùng Nghi Lộc, Vĩnh Châu, Nghệ An với vùng Viễn Châu, thành phố Vinh. Chiếc cầu Bùn bắt qua con sông chảy ra Cửa Lò. Chỗ cầu Bùn có một cái nhà bè chở gỗ. Cái nhà bè đó là cơ sở cách mạng. Ông bác gởi 2 bà cháu tôi ở đó rồi đi …”.
    Ông kể câu chuyện về cuộc đời mình một cách tự nhiên, không khiên cưỡng như thể ông kể cho chính tâm hồn mình nghe. Thỉnh thoảng, trong câu chuyện, ông xen vào những nhận xét về biến cố lịch sử một cách chuẩn xác.

    Ngày 19/5/1940, thủ đô Paris của nước Pháp – thủ phủ của những kẻ đang thống trị lãnh thổ Đông Dương theo chế độ thực dân – chứng kiến điện Elysees bị quân đội Đức Quốc Xã khống chế. Quyền lực của chính phủ Pháp rơi vào tay quân đội Hitle. Điều này khiến cho chính quyền và quân đội Pháp ở các nước thuộc địa trong đó có Việt Nam trở nên suy yếu.
    Trong khi đó, Phát xít Nhật đánh dạt quân đội Tưởng Giới Thạch, tràn vào hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc để khởi sự nấc thang quân sự toàn chiếm Đông Dương trong cái gọi là kế hoạch “Đại Đông Á” của Nhật Hoàng.
    Ngày 22/9/1940, quân Nhật xua lực lượng lục quân trang bị hoả lực mạnh bắt đầu tiến chiếm Đông Dương qua ngõ Trung Hoa-Việt Nam bằng từng đoàn công voa hùng hậu. Trước thế mạnh của quân Nhật , bộ chỉ huy Pháp trú đóng tại Lạng Sơn đang suy nhược tinh thần đã nhanh chóng thúc thủ. Quân đội Nhật tiến sâu vào nội địa Việt Nam . Toàn quyền Pháp tại Đông Dương tên là Decoux hoàn toàn bất lực trước biến cố này. Với thái độ kẻ cả chiến thắng, Nhật “xoa đầu” Pháp bằng cách đồng ý cho Pháp vẫn tồn tại chính quyền bảo hộ tại Đông Dương với điều kiện Pháp phải cống nộp lương thực cho Nhật. Để có đủ lượng lương thực cống nộp, Pháp đã vơ vét, tận thu tài nguyên trên đất nước ta khiến bùng phát nạn đói kinh hoàng nhất thế kỷ. Một phần mười dân số Việt Nam đã chết vì nạn đói tàn khốc đó.
    Song song với chiến lược mượn tay Pháp tận thu lương thực, Nhật sử dụng nhiều chiến lược chính trị như chấp nhận chính quyền bảo hộ Pháp tại Đông Dương, chấp nhận sự tại vị của vua Bảo Đại tại miền Trung, đồng thời đề cao chủ nghiã “Đông Á của người Á Đông”, “Việt Nam độc lập trong khối thịnh vượng Đại Đông Á” và nuôi dưỡng một con cờ chính trị đang sống lưu vong trên đất Nhật là Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Tất cả nhưng mưu lược đó, đều được cơ quan tình báo Kempeitai của phát xít Nhật điều phối.
    Thực dân Pháp tuy bị bị suy yếu nhưng không muốn buông miếng mồi ngon thuộc địa Đông Dương nên ra sức nuôi dưỡng chế độ Bảo Đại và đám quan lại xôi thịt bù nhìn. Chúng đã thẳng tay vơ vét của cải, tài nguyên của Việt Nam để bù vào phí tổn quân sự và cống nộp cho Nhật.
    Những biến cố đó đã tạo ra cho nạn đói xuất hiện suốt gần 10 năm và hoành hành khắp đất nước Việt Nam . Chịu ảnh hưởng nặng nhất là các tỉnh phía Bắc.
    Trốn nạn đói Aát Dậu, một ngày giữa năm 1945, tôi lúc ấy, chỉ là một chú bé con 10 tuổi bám tay bà nội mù loà và ông bác ruột rời quê Cửa Lò (Nghệ An) xuôi về Viễn Châu (Vinh) để tìm cái ăn. Đó là chuyến lưu lạc đầu đời của tôi. Trong trí óc non nớt của tôi, những gã tây đen, tây trắng nhởn nhơ khắp nơi là thủ phạm chính của nỗi cơ cực, đói khổ của mọi người. Với tôi, những gã người cao lớn ấy là bọn quỷ mắt xanh bước ra từ những câu chuyện cổ tích bà hay kể ru ngủ những đêm trằn trọc vì đói.
    Về đến chân cầu Bùn, ông bác đưa 2 bà cháu vào một cái nhà bè lênh đênh trên thượng lưu sống cùng một số công nhân nằm rồi đi biệt tăm.
    Nhà bè chỉ là nơi tá túc tạm của 2 bà cháu. Ban ngày, tôi dắt bà đi dọc theo đường sắt tàu hoả nhặt những hòn than vụn rơi vãi ra từ những chuyến hàng vội vã, mệt nhọc vụt qua. Những hòn than vụn ấy được đổi thành từng chén cơm độn khoai hàng ngày của hai bà cháu khốn khổ, bơ vơ.
    Bám trên nhà bè khoảng 2 tuần lễ thì tôi được chứng kiến một sự kiện. Đó là đêm 9/3/1945, đang nằm nép mình vào lòng người bà mù lòa thì tôi nghe hàng loạt tiếng súng vẳng ra từ phía Vinh. Sáng ra, hàng trăm lính Tây trắng lẫn Tây đen bị những toán lính Nhật bắt trói dắt đi thành từng hàng dọc theo đường sắt tàu hoả. Người lớn nói với nhau là Nhật đã chính thức hất chân Tây ra khỏi lãnh thổ Việt Nam . Mấy ngày sau đó, quân lính Nhật có mặt khắp nơi. Máy bay quân Đồng minh Anh- Mỹ quần thảo liên tục trên bầu trời thả từng loạt bom xuống tất cả những nơi quân Nhật có mặt. Cái nhà bè lẫn chiếc cầu Bùn bị bom dội tan hoang. May là hôm ấy hai bà cháu đang trú mình trong một lò vôi bỏ hoang cách chân cầu Bùn khoảng 50 mét.
    Mấy ngày sau, tiếng súng lắng dịu. Những tháng ngày tạm yên tiếng súng này, cuộc sống của hai bà cháu trở nên chật vật. Lúc trước, khi thiếu hụt miếng ăn, hai bà cháu còn được những người công nhân trên bè gỗ mỗi người góp cho chút đỉnh miếng rau, củ khoai. Nay, nhà bè không còn, mỗi người tan tác một nơi. Hai bà cháu đành bám lấy cái lò vôi bỏ hoang làm nơi trú ẩn. Mỗi sáng sớm, chú bé Điền lê la dọc theo tuyến đường sắt tìm viêc làm.
    Hồi đó, ở vùng này, người ta trồng bông vải rất nhiều. Cứ vào mỗi vụ thu hoạch bông, chủ ruộng thuê mướn rất nhiều nhân công gồm cả người lớn lẫn trẻ con làm công việc cán bông lấy sợi để bán cho các thương lái phương xa đến thu mua. Nhờ lanh lợi, tôi tìm được một chân cán bông vải. Đó là một công việc không nặng nhọc lắm với người lớn nhưng với đứa bé con 10 tuổi là một cực hình. Cực nhưng được chủ cho ăn cơm độn là hạnh phúc lắm. Thuở đó, nhiều người đói vì thất nghiệp. Họ sẵn sàng làm bất cứ việc gì miễn có cái ăn bỏ vào mồn là được. Sau một ngày vật lộn vã người với chiếc máy cán bông, tôi được chủ trả công bằng một ô khoai lang và làn cơm trộn đem về cho bà.
    Một hôm, sau một ngày làm việc, tôi trở về “nhà” với ô khoai và làn cơm trên tay. Về đến cầu Bùn, tôi bắt gặp một toán lính Nhật đang xúm xít dựng lại chiếc cầu đã bị máy bay Đồng minh phá huỷ. Trong đầu óc non nớt của tôi, những người lính Nhật này là “người tốt” đang bắc cầu cho người Việt sử dụng. tội đứng ngắm họ làm việc. Đối với tôi, những người lính Nhật đeo gươm vẫn có vẻ gần gũi hơn bọn lính Tây. Dù sao, những người lính Nhật tuy có ngôn ngữ khác lạ nhưng màu da và dáng vóc vẫn giống người Việt Nam hơn bọn lính Tây to con, mắt trũng.

    Bọn Nhật xa quê hương, xa gia đình lâu ngày trông thấy một chú bé con Việt Nam đã khoái chí ngoắc lại cho kẹo để được nựng nịu. Chú bé con nghèo khó nhưng dạn dĩ trở thành người bạn nhỏ của những con người từ đến đất nước Phù Tang.

    Cho đến tận bây giờ, ký ức về những ngươiø bạn Nhật vẫn đẹp trong lòng người sỹ quan công an nhân dân Phan Văn Điền. Tình cảm đó xuất phát từ tình người thuần khiết. Ông nhận định: “Chủ nghĩa Phát Xít đã đẩy những con người Phù Tang đi vung kiếm nơi xứ người. Những người lính ấy vẫn là những con người biết yêu thương, nhân ái. Họ cũng chỉ là nạn nhân của chủ nghĩa phát xit thôi”.

    Những ngày ấy, tôi là khách thường xuyên của doanh trại lính Nhật . Tôi trở thành niềm vui nho nhỏ của những người lính Nhật xa vợ con. Đổi lại niềm vui ấy, tôi được những làn cơm trắng tinh, thơm tho mang về cho người bà mù loà. Suốt mấy tháng lân la với lính Nhật, tôi bắt đầu học ngôn ngữ Phù Tang.
    Một hôm, những người lính ấy hỏi tôi:
    -Đi chơi không?
    Đối với một đứa trẻ nghèo khổ, “đi chơi” là cả một thế giới kỳ lạ. Tôi chạy ào về lò vôi xin phép bà cho đi chơi. Bà hỏi:
    -Khi nào cháu về?
    Tôi trả lời đại:
    -Cháu chỉ đi chơi đến chiều thôi bà ạ.
    Đó là lời nói cuối cùng của tôi với người bà khắc khổ mù loà của mình, bởi chuyến “đi chơi” ấy đã đưa cuộc đời của tôi lưu lạc hàng ngàn cây số, vào tận vùng đất miền đông Nam bộ.
    (* Chý ý: Sách đang phát hành. Tác giả giữ bản quyền. Không được sao chép, in ấn, sử dụng dưới mọi hình thức nếu chưa được sự đồng ý của tác giả)
    MƯỜI BỐN

    PHẠM NHÂN ĐẶC BIỆT Ở TỔNG NHA CẢNH SÁT

    Sau khi kết thúc phần thẩm vấn tra cung, tôi tiếp tục bị giam giữ tại sở thú một năm rưỡi. Thời gian này, bọn chúng không hề điếm xỉa đến tôi nữa. Tuy nhàn nhã với 2 bữa cơm lưng lửng dạ dày hàng ngày nhưng buồn nẫu ruột vì không được ai trò chuyện. Tôi giải khuây bằng cách hát. Tôi hát say sưa những ca khúc kháng chiến. Hát chán chê, tôi tập yoga.
    Một hôm, người tù ở phòng cạnh nhà vệ sinh lén đưa cho tôi một cái quần đùi may bằng chỉ tay, kèm theo lời thì thào:
    -Chúc đồng chí khoẻ. Đồng chí hát hay lắm.
    Nhìn cái quần, tôi biết đồng chí ấy đã bỏ rất nhiều công sức nhưng tôi vẫn thắc mắc đồng chí ấy lấy vải ở đâu ra để may. Sau mấy ngày nhìn qua khe cửa, tôi hiểu ra vấn đề. Thì ra, nhân dịp được bọn cai ngục cho ra ngoài làm cọt vê lau chùi nền nhà, đồng chíù ấy lén giấu bớt những mảnh vãi làm nùi dẽ còn mới, chắp nối từng mảnh nhỏ với nhau cho đến khi đủ may một cái quần cho tôi. Nhận được cái quần ấy, tôi nghe lòng mình ấm áp lạ lùng. Tôi cảm thấy hết đơn độc. Xung quanh tôi, cạnh tôi vẫn có đồng đội, đồng chí.
    Một buổi sáng tháng 8/1958 chúng bịt kín mắt tôi rồi đưa ra xe chở đi. Qua những mẫu đối thoại vụn vặt của bọn áp giải, tôi biết chúng đưa tôi về trại giam tổng Nha Cảnh Sát Đô Thành và người áp giải tôi là đích thân Nguyễn Văn Là – Giám đốc tổng nha.
    Chúng đưa tôi vào một phòng giam. Sau này khi được mở khăn bịt mắt tôi mới biết đó là một căn nhà dài được chia làm 2 dãy phòng đối xứng nhau gồm 10 phòng bằng bê tông kiên cố.
    Tôi được “cấp” căn phòng đầu tiên mang số 1. Phòng giam tôi có vẻ như mới được xây sửa lại khác biệt so với những phòng giam khác. Nó có thêm một hàng song sắt còn mới nước sơn bao bọc bên trong ba bức tường bê tông kiên cố. Phía ngoài là cánh cửa bằng song sắt chắc chắn. Bên ngoài cánh cửa song sắt là một tấm màn ri đô. Có lẽ bọn chúng mới xây phòng giam đặc biệt này dành cho cá nhân tôi.
    Chúng đẩy tôi vào phòng giam rồi kéo tấm ri đô lại kín mít.
    Tôi nghe giọng Nguyễn Văn Là ong óng:
    -Hỏi ảnh coi, lên đây ở có sướng hơn ở sở thú không?
    Tên cảnh sát gác trả lời:
    -Thưa thiếu tướng. Thuộc cấp chưa mở băng bịt mắt cho ảnh ạ.
    -Mở khăn cho ảnh rồi tụi bây canh gác cho cẩn thận nhé. Aûnh là “khách” số một của tụi bây đó. Aûnh mà “thăng” thì từ tao cho đến tụi bây đi “vùng năm” cả nút đó. Đã thuộc “10 điều tiêu lệnh canh giữ phạm nhân đặc biệt Hà Minh Trí” chưa?
    Tên lính canh dập gót giày rồi ê a đọc:
    -Thưa thiếu tướng, … Điều một, canh gác nghiêm ngăït phạm nhân số 1; không để phạm nhân tự tử, vuợt ngục… Điều hai, ghi sổ cụ thể giờ giấc những người đưa cơm, dẫn phạm nhân đi vệ sinh…. Điều ba, không trò chuyện với phạm nhân số một và không để phạm nhân số một liên lạc trò chuyện với bất cứ ai…. Điều bốn, cấm không ai được tự ý gởi quà, thức ăn cho phạm nhân số một…Điều năm…
    Nguyễn Văn Là hạ giọng nói thêm:
    -Aûnh mà bị đầu độc bằng thức ăn là tiêu đời tụi bây đó. Cẩn thận tuyệt đối. Nghe chưa? Chú ý những tay cảnh sát là đệ tử của tướng Xuân (tức Nguyễn Hữu Xuân). Thằng nào vô đây lộn xộn, tụi bây cứ “phơ” cho nó một băng.
    Chúng bố trí 3 tên gác riêng cho tôi trong một ca trực. Chìa khoá phòng giam thì do chính tên trưởng trại giữ. Đã vậy, chúng còn khoá cửa ngoài nhốt luôn 3 tên lính canh . Xem như 3 tên lính gác cùng bị giam chung với tôi. Mỗi lần tôi muốn đi vệ sinh thì một tên lính gác ấn nút chuông điện gắn trên cửa ngoài. Nghe tiếng chuông, đích thân tên giám đốc trại giam xuống mở cửa. Đến giờ cơm cũng vậy, đích thân tên giám đốc trại mang cơm xuống trước khi phần cơm đó được kiểm tra cẩn thận.
    Không bị hỏi cung, tra tấn nhưng không có ai trò chuyện khiến tôi rất khó chịu. Để giải quyết sự khó chịu đó tôi lại hát. Vừa hát, tôi vừa xem “ti vi”. “Ti vi” là một cái lỗ nhỏ xíu do tôi tạo ra trên góc tấm ri đô che chắn bên ngoài của song sắt. Trong thời gian ở sở thú tôi có dấu một góc lưỡi lam do đồng chí cọt vê lén đưa. Bây giờ, góc lưỡi lam ấy trở thành tài sãn duy nhất và quí giá nhất của tôi. Góc lưỡi lam ấy trở thành một vật có hàng ngàn công dụng, công năng. Hàng tháng, chúng cho người cắt tóc, cạo râu cho tôi nhưng tôi vẫn thích tự “cạo râu” bằng cách trở cạnh không bén của lưỡi lam kẹp sợi râu giật mạnh. Góc lưỡi lam ấy còn là “lịch” ngày của tôi. Mỗi ngày, tôi khắc lên góc tường một dấu. Tóm lại, từ góc lưỡi lam ấy, tôi tự nghĩ ra nhiều trò tiêu khiển.
    Tôi dùng góc lưỡi lam khoét một lổ nhỏ trên tấm ri đô để làm “ti vi”. Qua chiếc “ti vi” ấy, tôi quan sát những diễn biến bên ngoài. Cũng từ chiếc “ti vi” ấy, tôi nhìn được gương mặt thân yêu của hai đồng chí đã hy sinh anh dũng trong trại. Đó là đồng chí Nguyễn Hữu Lớn và đồng chí Nguyễn Tô.
    Tôi không nhớ chính xác thời gian nhưng lúc đó là mùa hanh khô. Cái nóng bên ngoài lùa xộc vào tận góc kín của phòng giam khiến mồ hôi chảy ròng ròng đến tưởng chừng khô cạn nước trong người. Tôi đang nằm áp sát người xuống nền xi măng để tận hưởng hơi mát chợt nghe có tiếng cửa sắt bên ngoài mở ken két, rầm rầm. Tôi ghé mắt nhìn qua “ti vi” thì thấy bọn chúng lôi xệch hai người thanh niên ném vào một phóng giam. Thân thể, gương mặt của hai người đầy máu và biến dạng.
    Khoảng 6 giờ chiều, tôi nghe tiếng một tên gác gọi: “Nguyễn Hữu Lớn, chuẩn bị đi”. 7 giờ tối chúng lôi xệch đồng chí có tên gọi là Lớn ném phịch vào phòng giam. Lát sau, tôi nghe đồng chí Lớn rên ngắt quãng: “Cha ơi!… Mẹ ơi! …Con ơi!… Em ơi!…”, rồi im lặng. Nửa giờ sau tôi nghe một tên gác nói với đồng bọn:
    -Nó ngủm rồi. Mấy tay hỏi cung đánh ác nghiệt quá. Mấy chả lấy bao bố phủ lên ngươi rồi lấy chày vồ bửa thì làm sao sống nổi.
    Tiếng tên khác:
    -Thiếu tướng nghe mày bình luận thì đời mày tiêu đó. Không muốn chết thì nó phải khai. Ai biểu nó cứng đầu. Đi vô trỏng vác xác thằng Việt Cộng đem ra cầu Bình Lợi cho nó “mò tôm” mau đi cha nội.
    Tôi thấy chúng lấy bao ni lon bọc xác đồng chí Lớn , dùng dây chì kẽm bó lại rồi đưa đi. Hai ngày sau, đồng chí Nguyễn Tô cũng lâm vào cảnh tương tự.

    Đến năm 1960, trại giam tổng nha xây thêm một trại B gồm 10 phòng. Tôi và một phạm chính trị “cứng đầu” được sang “nhà mới”. Tôi được “cấp” phòng giam số 10. Phòng này là phòng duy nhất có toa lét riêng. Từ đó có thêm số 10 kèm theo tên của tôi: Mười Trí hoặc Mười Thương.
    Cũng cần nói thêm rằng, trong trại giam của tổng nha cảnh sát, ngoài tù chính trị cộng sản còn có tù chính trị thuộc các phe đối lập khác của chính quyền Ngô đình Diệm.
    Một ngày nọ, tôi thấy bọn cảnh sát ở tổng nha chạy rần rật một cách khác thường. Mấy ngày sau, qua một “bản tin mật” của các đồng chí trong tù, tôi được biết, ngày 26/4/1960 một nhóm gồm 18 nhân vật có vai vế trong chinh quyền Diệm họp mật tại caravell để đề ra một bản tuyên ngôn phản đối chế độ độc tài của Diệm. 18 nhân vật ấy gồm: Lê Ngọc Chấn, Trần Văn Dân, Trần Văn Đỗ, Trần Văn Tuyên, Trần Văn Lý, Trần Văn Hương, Nguyễn Lưu Viên, Huỳnh Kim Hữu, Phan Huy Quát, Nguyễn Tăng Nguyên, Nguyễn Tiến Hỷ, Lê Quang Luật, Phạm Hữu Chương, Tạ Chương Phùng, Trần Lê Chất, Lương Trọng Tường và Linh mục Hồ Văn Vui.. Trong đó có 10 nhân vật đã từng kề vai sát cánh với Diệm khi Diệm chưa có quyền hành trong tay. Sau đó cả nhóm này lần lượt bị bắt, một số được đưa vào nhốt tại tổng nha. Nhu đã mỉa mai gọi nhóm này là “các nhà chính trị gia sa lon” .
    Trong số “chính trị gia sa lon” ấy, tôi nhận ra 2 cái tên. Đó là Trần Văn Lý và linh mục Hồ Văn Vui. Đó là bậc ân nhân thật sự của Diệm trong thời gian y còn là một kẻ thất cơ lỡ vận. Lúc mới được tổ chức giao nhiệm vụ nghiên cứu về Diệm để chuẩn bị kế hoạch ám sát y, tôi đã có dịp nghiên cứu về hai nhân vật này. Hai nhân vật này đã quay lưng với Diệm, có nghĩa là Diệm đã gần “tới số” .
    Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương và một số “chinh trị gia sa lon” khác cùng được vào tá túc chung…mái nhà với tôi. Lúc này, bọn cai ngục đã “nới tay” với tôi. Chúng đã cho tôi được ra ngoài tắm nắng.

    Ngày 11/11/1960, tôi lại nghe tin đại tá Nguyễn Chánh Thi – chỉ huy trưởng lực lượng lính nhảy dù và trung tá Vương Văn Đông , hai sỹ quan “ruột” của quân đội đã thực hiện cuộc đảo chánh Diệm. Trong số những quân nhân đảo chánh có Nguyễn Triệu Hồng, Phan Trọng Chinh, Phạm Văn Liễu, Nguyễn Huy Lợi,…Ngoài ra còn có các tổ chức chính trị dân sự làm “mồi” hậu thuẫn như Liên Minh Dân Chủ, Mặt Trận Quốc Gia Đoàn Kết, Lực lượng nghiệp đoàn (của ông Bùi Lượng), Lê Vinh (nhóm Duy Tân), Phan Bá Cầm, Nguyễn Bảo Toàn (nhóm Hoà Hảo), Vũ Hồng Khanh, Xuân Tùng (nhóm Việt Quốc)… “Mặt trận quốc dân đoàn kết” do Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và Phan Khắc Sửu (Cao Đài), Nguyễn Thành Vinh, Trương Bảo Sơn (nhóm Việt Quốc), bác sỹ Phan Quang Đán lãnh tụ nhóm Tự Do dân chủ. Cuộc đảo chánh thất bại thảm hại. Cả đám con rối chính trị, một số chạy ra nước ngoài tháo thân, một số bị gom vào nhà tù, một số bị cách chức đuổi về quê.
    Nghe tin này, tôi cảm thấy vui sướng khó tả. Vậy là những lới khai của tôi có kết quả. Nội bộ của Diệm đã có biểu hiện lục đục, kình chống nhau rỏ ràng.
    MƯỜI TÁM

    SÀI GÒN SOÁN NGÔI ĐỔI CHỦ

    Sau cuộc trả thù đẫm máu tổng thống của mình, bọn đảo chánh bắt đầu tranh nhau địa vị, chức tước, quyền hành. Bọn chúng đang lo củng cố ngôi vịû và sàng lọc nội bộ, lừa miếng nhau nên chưa có thời gian kiểm tra tù chinh trị. Nhờ vậy, nhiều đồng chí của ta được tổ chức đưa ra khỏi tù bằng cách đưa tiền hối lộ cho những tên trong hội đồng xét duyệt phóng thích tù chínmh trị. Khi này, Nguyễn Chữ vẫn còn ở Côn Đảo. 4 ngôi sao cộng sản trong nhà tù Côn Sơn và các đồng chí Nguyễn Đức Thuận, Trần Quốc Hương… ra khỏi tù trong dịp này. Nhiều cán bộ của ta bị giam ở tổng nha cảnh sát cũng được gia đình (do Trung Ương tổ chức) nhanh tay lo tiền đưa ra ngoài hết. Kim Hưng cũng thoát ra trong dịp này. Khi Nguyễn Chữ được bọn phản chủ lôi từ trong tù ra và giao việc đã vội vàng xuống các trại kiểm tra “mấy ông cộng sản” thì mọi việc đã xong.
    Giữa lúc Sài Gòn sôi động chính trị, bọn chúng đưa tôi về đất liền, giam tại tổng Nha Cảnh Sát. Tôi vẫn phải “ở tù” mặc dù báo chi lúc bấy giờ đã loan tin tôi được thả.
    Một hôm, Nguyễn Chữ – Lúc này đã được phóng thích và được bọn đảo chánh trao cho chức vụ Uỷ Viên An Ninh Kiêm Chủ Tịch hoÄi đồng cứu xét phóng thích chính trị phạm gọi tôi lên văn phòng. Với vẻ mặt tự đắc của một con cáo vừa thoát bẫy, Chữ bắt tay tôi:
    -Ô! Khoẻ không đồng chí cộng sản núp bóng Cao Đài?
    Tôi nghiêm nghị nhìn thẳng vào mắt hắn:
    -Vẫn khoẻ, thưa ngài “tù Côn Đảo”.
    Hắn dấu tức giận dưới nụ cười bí hiểm, mời tôi điếu thuốc:
    -Nếu tôi thả anh ra, anh sẽ làm gì?
    Tôi biết Chữ đang dùng nghiệp vụ để thăm dò thái độ chính trị của tôi. Tôi cười, hỏi lại:
    -Không lẽ tôi làm chủ tịch hội đồng phóng thích phạm nhân như anh? Tôi đâu có lèo lái chính trị giỏi như anh?
    Chữ xám mặt chỉ một tích tắc rồi tươi nét mặt lại đúng kiểu cách một tên “sớm đầu tối đánh”:
    -Hừm! Anh mà ra khỏi tù, chắc anh theo cô Kim Hưng?
    Hắn biết tôi và Kim Hưng có tình cảm với nhau và hắn cũng biết Kim Hưng là cộng sản. Hắn mượn câu nói đó để khẳnh định tôi là cộng sản chứ không phải Cao Đài.
    Tôi trả lời:
    -Mấy anh trả tự do cho tôi thì tôi cám ơn. Còn không được thả thì tôi xem như chế độ Ngô Đình Diệm còn nguyên.
    Nghe tôi nói xong, Chữ đanh mặt lại:
    -Thôi, anh về trại giam. Tôi sẽ nghiên cứu giúp anh tự do.
    Thế là tôi tiếp tục ngồi tù.
    Một ngày nọ, bọn chúng đưa một người tù được chuyển từ trại giam Mang Cá vào. Đó là đồng chí Mười Hương. Nhân lúc không ai để ý, tôi tiếp xúc với Mười Hương. Tôi tranh thủ báo cáo những diễn biến chính trị mà tôi nắm được cho đồng chi Mười Hương. Đồng chí Mười Hương đưa cho tôi một chiếc đồng hồ rồi hướng dẫn tôi:
    -Khi ra tù, chú mày đem chiếc đồng hồ này đến địa chỉ X. ở Thị Nghè gặp anh Y, sẽ được bố trí công tác.
    Đồng chí Mười Hương là đầu mối chỉ huy một mạng lưới tình báo của ta ở Sài Gòn.
    Sau khi Diệm, Nhu bị thanh toán, một thời gian sau, Mỹ mới giật mình nhận ra trong đám tướng lãnh đảo chánh 1963 toàn là phe thân Pháp. Bọn chúng đã nhận ra bọn thân Pháp đã xài tiền Mỹ thực hiện cuộc đảo chánh cho Pháp. Thế là Mỹ lại xúi Nguyễn Khánh tổ chức một cuộc đảo chánh để sàng lọc nội bộ hòng gỡ lại “tiền”.
    Nguyễn Khánh đã lọc những tay thân Pháp ra khỏi bộ máy tay sai của Mỹ tại miền Nam qua cuộc đảo chánh ngày 31/1/1964. Kim, Xuân, Đôn, Đính (những con cờ của Pháp) bị bắt giam.
    Ngày 7/2 /1964, Dương Văn Minh được quan thầy Mỹ chọn làm quốc trưởng, Khánh làm thủ tướng. Thời gian này, sinh viên học sinh xuống đường biểu tình rần rộ.
    Những ngày ở đây, tôi được chứng kiến nhiều em sinh viên bị chúng bắt về do biểu tình chống đối rất đông. Không đủ chỗâ giam giữ nên chúng bắt các em ngồi ngoài sân để phân loại bằng “phích”. Phích là thẻ tù dùng để phân loại em nào đi Phú Lợi, em nào đi nhà tù khác. Do làm phích không xuể, chúng bắt tôi lên làm phụ .
    Những ngày lamø phích tôi mới biết mình có phích đi an trí xét lại 2 năm. An trí tức là vào trại cải huấn để điều tra thêm. An trí cũng có nghĩa là đi ăn đòn để tuyên thệ ly khai cộng sản. Có lẽ đây là ý đồ của Nguyễn Chữ. Nguyễn Chữ đã nghi ngờ tôi là cộng sãn chính hiệu.Về nguyên tắc của bọn chúng thì thời gian an trí chỉ có 2 năm chứ không hơn, nhưng sau 2 năm, chúng lại xét tiếp 2 năm nữa. Đối với tù chính trị “cứng đầu”, chúng cứ xét mãi miết hết 2 năm này lại đến 2 năm khác.
    Cũng trong thời gian này, bà luật sư Ngô Bá Thành và nhà Báo Nguyễn Lâm bị bắt trong phong trào trí thức biểu tình đòi quyền tự quyết đuổi Pháp Mỹ ra khỏi đất nước Việt Nam. Vừa gặp tôi, bà Thành lẫn Nguyễn Lâm đều ngạc nhiên cho biết:
    -Uûa? Báo chí đăng tin Hà Minh Trí đã được thả rồi mà? Sao còn bị giam ở đây?
    Những người này hướng dẫn tôi viết một lá thư gởi cho chính quyền nguỵ kể rỏ: Tôi là người chống Diệm, nay Diệm không còn, tại sao không thả tôi?
    Sau khi được thả, luật sư Nguyễn bá Thành và Nguyễn Lâm đã viết nhiều bài báo về chuyện tôi vẫn còn bị cầm tù để làm áp lực với chính quyền mới của Nguỵ.
    Tôi còn viết một là thư gởi cho anh Phạm Ngọc Chẩn cầu cứu.
    Đúng lúc đó lại xãy ra một cuộc đảo chánh và Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng.
    Ngày 27/8/1964, một vở kịch “Tam đầu chế” do Mỹ soạn thảo gồm Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh lãnh đạo hội đồng quốc gia. Ngày 8/9/1964 một thượng hội đồng quốc gia được thành lập gồm 16 người. Trong đó có Phan Khắc Sửu. Ngày 27/9/1964, Phan Khắc Sửu được làm chủ tịch thượng hội đống quốc gia.
    Ngày 24/10/64, Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng. Liên tục trong 2 năm, nhân dân miền nam chóng mặt với những vở kịch chính tri của chính quyền nguỵ tại Sài Gòn. Bọn chúng nháo nhào lộn xộn, đảo chánh lật đổ nhau liên tục
    Khi Sửu làm quốc trưởng, Hiểu được làm tổng giám đốc Nha cảnh sát . Lúc này những người Cao Đài có dịp được nâng đỡ.
    Giám đôc trung tâm thẩm vấn ( gọi là chủ sự) là Phan Trung Chánh thay tên Cung (cũ). Sau 1 tuần lễ nhậm chức chủ sự Phan Trung Chánh mời tôi lên văn phòng.
    Chánh bảo tôi:
    -Bây giờ cụ Sửu đã làm quốc trưởng rồi. Phe Cao Đài tụi mình được dịp ngon lành. Tôi nghe nói, anh cũng là Cao Đài đã từng “ngồi đảo” chung với cụ Sửu. Bởi vậy tổng giám đốc nha cảnh sát đã ra khẩu lệnh cho tôi thả anh.
    Dứt lời, Chánh gọi một nhân viên tên Hiệp:
    -Này, toa làm hồ sơ thả anh Hà Minh Trí ra mau. Anh Trí là người của cụ Sửu đó. Liệu mà đối xử tử tế nghe.
    Nghe Chánh nói, lòng tôi rất mừng. Cánh chim tự do sắp được tung bay. 8 năm tù ngục sắp lùi về phía sau cuộc đời. Tuy vậy, tôi vẫn đề phòng, hỏi thăm dò Chánh:
    -Cụ Sửu là một chính khách lớn, làm sao có thời gian quan tâm đến tôi?
    Chánh tròn mắt:
    -Trời! Báo chí đăng bài kêu gọi thả anh ra mỗi ngày. Có báo còn “khều” cụ Sửu: Khi nào thả nhân vật Cao Đài ám sát tổng Ngô?
    Chánh tỏ ra xun xoe với tôi:
    -Thế nào anh cũng được cụ Sửu trọng dụng. Dù gì thì anh cũng là đồng chí của cụ trên Côn Sơn. Hầy! Nếu có “vị trí” nhớ đến tôi nghen. Tôi là người thả anh mờ.
    Chánh lu loa kể:
    -Anh biết vì sao năm 1963, Diệm đã bị giết mà anh còn bị giam hoài không? Vì cái đám Cần Lao Nhân Vị của Ngô Đình Nhu còn núp trong bộ máy cảnh sát đã ém hồ sơ anh lại. Chúng không lén lút thủ tiêu anh là may lắm rồi. Bọn này vẫn còn nuôi mộng tái lập lại chế độ họ Ngô.
    Chánh cho biết thêm, sau đảo chánh 1963, Mai Hữu Xuân đã ra lệnh đưa tôi về đất liền cho hắn gặp. May cho tôi, sau đó, Mai Hữu Xuân bị đồng bọn tẩy chay, nếu không, hắn sẽ gặp tôi để “đòi món nợ lời khai năm 1957”. Chánh làm sao hiểu được Xuân muốn gặp tôi để làm gì.
    Chánh là một tên có học vị nhưng thiếu người đỡ đầu. Thuở ly loạn nhiều tên đi làm việc nhưng không có chính kiến rỏ ràng, gió bề nào che bề ấy. Bọn này luôn mong có một chỗ dựa. Chánh cũng thuộc loại người này.
    Tên thư ký hoàn tất thủ tục. Tôi bước ra cổng nhà tù, Chánh còn nói với theo: “Nhớ tôi nghen!”. Lúc ấy, nắng đã nghiêng về chiều. Tôi đứng thẳng người hít một hơi thật đầy phổi cái không khí tự do. Tôi tự nhủ: “Tổ quốc ơi! Đảng ơi! Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ và đang sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới”.
    Đó là ngày 10/03/1965.

  4. Tôi rất không đồng ý với ông Nam Phục về chuyện ” Nhà Ngô mất ngôi vì độc tài , độc đảng, gia đình trị… nhà Ngô đàn áp Phật giáo… v..v… ! ”

    Nhà Ngô, đúng ra là nền Đệ Nhất Cộng Hoà của chúng ta, đã bị Hoa Kỳ bức tử qua tay một bọn ” khố xanh, khố đỏ mặc áo tướng ” nhận tiền thuê của Mỹ, qua tay trùm CIA Lucien Conein. Bọn phản phúc hèn mạt này, sau bị chính tổng thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson kêu là ” A goddamn bunch of thugs ” ( Một lũ ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa ) Bọn này gồm các tên Minh hàng tướng, Khiêm, Đôn, Xuân,Kim , Đính, Xuân Chiểu, Trần văn Minh và các anh Tá như Nguyễn Văn Quan, Nguyễn Văn Thiệu v.v.. Câu chuyên về việc xóa sổ Đệ nhật Cộng Hoà tuy quá phức tạp, dài dòng, đầy bi thương cho dân tộc, nhưng nay đã được bạch hoá, và hầu như ai cũng biết Hoa Kỳ đã đạo diễn, thuê mướn và yểm trợ ” the goddam bunch of thugs ” như thế nào. Tôi không hiểu tại sao vẫn còn người nói rằng nhà Ngô mất ngôi vì đôc tài gia đình trị !. Nhà Ngô đôc tài có bằng cộng sản độc tài không ? nhà Ngô độc đảng có như cộng sản độc đảng chăng ? Thế mà cộng sản trơ trơ, trụ vững từ 1954 đến nay là vì quan thầy của chúng nó là Nga Tàu hết lòng yểm trợ. Trong khi đó thì Hoa Kỳ thay đổi chính sách. Ôi ! câu chuyện dài dòng, dễ gì nói hết trong mấy câu. Còn nói nhà Ngô ” đàn áp Phật giáo ” (!) nên mất ngôi, thì tại sao sau nhà Ngô, ông Thiệu, ông Kỳ mạnh tay với Phật giáo còn hơn cụ Diệm biết bao nhiêu lần, mà có sao đâu ? Phật giáo lúc đó lộng hành, nhưng đã chịu xẹp ve dưới họng súng của các tướng được Mỹ yểm trợ. Sư hổ mang sách động Trí Quang bị quân đội bắt giam, các anh tướng tá theo Trí Quang, quậy nát miền Trung bị cho về vườn, cũng có sao đâu ? Để khỏi có sự nghi ngờ tôi theo đạo gì đó, nên không ưa mấy ông sư thân cộng, tôi xin nói rõ : Từ cha ông tôi cho tới con cháu tôi đều là phật tử. Tôi thấy nhiều ông sư, trong thời nhiễu nhương của đệ nhất và đệ nhị cộng hoà , dều lộng hành quá đáng , và khốn kiếp thay, đi theo Việt cộng. Những ai đã từng theo lính đi dẹp các bàn thờ Phật bày ra khắp nẻo đường, mới thấy các sư không còn kể gì tới quyền lợi, an sinh của đất nước, mà chỉ biết sử dụng mọi phương tiện bất chính để làm hại đất nước và tiếp tay cho giặc ! Nêu ông Nam phục có chút thời giờ , xin ông đọc cuốn sách ” Biến Động Miền Trung ” của ông Thiếu Tá Liên Thành, Cảnh sát trưởng Huế – Thừa Thiên, thì mới biết có nhiều sư đã hoạt động mãnh mẽ cho cộng sản ra sao. Nhưng cần chi phải ông Liên Thành đưa ra chứng cớ rành rành, chúng ta ai lại chảng rõ tên các sư ông, sư bà như Trí Quang, Huỳnh Liên… đã theo lệnh cộng sản, quậy phá đất nươc như thế nào. Ngày nay, cộng sản có coi các ông sư, bà ni này ra cái thá gì.! Việt Nam quốc tự nay đã biến thành nhà hàng; lầu chuông nham nhở điêu tàn. Các sư đã làm gì được nó ? Trái hẳn với thái độ ăn hiếp, quậy phá, vu oan giá hoạ các ông các bà sư hô hoán thời trước thời trước. Một cách công bằng, chúng ta phải nhìn nhận, dưới thời đệ nhất cộng hòa, Phật giáo it được đặc quyền đặc lợi như công giáo; nhưng nói là ” bị đàn áp ” thì quá đáng. Chắc thế nào cũng có người đưa ra vụ ” xe tăng cán người Phật Giáo tại đài phát thanh Huế năm 1963 ” để chứng minh sự đàn áp Phật Giáo dã man. Đây lại cũng là một câu chuyện dài dòng, tôi xin chào thua, không thể nói thêm gì ờ nơi đây. Tôi chỉ xin hỏi qúy vị đang có ý nêu lên vấn dề đó một câu : Quý vị có tin rằng tổng thống Ngô Đình Diệm, cố vấn Ngô đình Nhu hay ai đó trong họ Ngô đã ban ra cái lệnh tàn sát ( nếu có tàn sát ) trong đài phát thanh Huế không ? Tôi tin là không ?

    Khi nói ” họ Ngô mất ngôi “, dường như ta thấy chuyện đó xa vời, và dường như không liên quan gì đến chúng ta; cũng như khi ta nghe nhà Trần, nhà Lý mất ngôi ! Than ôi ! đâu có như thế. Tổng Thông Ngô Đình Diệm và toàn dân ta cùng xây đắp nên Đệ Nhất Công Hoà. Nền cộng hoà non trẻ của chúng ta bi thù trong giặc ngoài và đồng minh thân cận ra tay bóp chết. Nền Cộng hoà non trẻ của chúng ta tuy còn nhiều khuyết điểm, nhưng cho đến nay, đã có chế độ nào ở Việt nam đem lại tự do, no ấm hơn nó đã cho chúng ta ? Còn nói về nhà Ngô, sao chúng ta nỡ miệt thị, thóa mạ một gia đình đã hy sinh bao nhiêu con yêu cho đất nước : hết bị cộng sản tàn sát dã man, lại đến người cùng chiến tuyến đâm chém băm bằm cả ba anh em trong môt vụ đâm thuê , chém mướn được mệnh danh ” cách mạng “.!

    Chắc có người đang thắc mắc: ” Tên Giang Anh này chắc hẳn được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi của nhà Ngô ban cho, nên nay nó luyến tiếc ! ” Vâng, tôi có được đặc quyền theo một triệu đồng bào Bắc Kỳ di cư, và được đệ nhất cộng hoà cho đi Ba Bèo định cư. Và khi Tổng thống Diệm bị phản thần sát hại, tôi đang làm tới chức…sinh viên ! Gần đây, đọc được một tài liệu cho biết một sự thật, nó tiết lộ tư cách đê tiện của hàng tướng Minh cồ. ” lãnh tụ ” của ” cách mạng “. Khi hai cái xác đẫm máu của cụ Diệm và ông Nhu được xe thiết giáp chở vê bộ Tổng Tham Mưu, Minh cồ vốn khao khát tìm hiểu về thân thể vị nguyên thủ quốc gia, đã đích thân chui vô xe để kiểm tra ” chim ” của cụ Diệm !. Minh cồ, chắc đã nghi ngờ cụ không có ” chim ” ! Than ôi ! nhận tiền thuê làm lãnh tụ, giết người xong việc, không biết mần chi, chỉ nghĩ đền kiểm tra…chim ! Nghe nói sau khi kiểm tra chim xong, Minh cồ khoan khoái xoa tay, nói với mấy tên tướng bộ hạ hay hạ bộ rằng : ” Thôi xong việc rồi nhé ! Các toa làm gì thì làm ! Moa đi đánh ten nit đây ! ”

    Tôi nghĩ chúng ta, lớp người lưu vong nay đã già, chuyện đời đã từng trải, đau thương đã nếm đủ. Chúng ta nên dùng cái óc riêng của mình, tìm hiểu, phê phán và nhận định một cách vô tư sáng suốt; không nên để cho các loại loa tuyên truyền rẻ tiền uốn nắn dòng suy nghĩ của chúng ta.

    Nay kính.

  5. Cam on ban Giang Anh ve nhung tinh cam nhan hau doi voi nen De Nhat Cong Hoa va gia dinh Tong Thong Diem. Toi cung la mot thang backy di cu, gia dinh chung toi khong bao gio quen su don tiep, nhung doi dai day tinh nguoi cua chinh the Cong Hoa trong nhung ngay dau noi mien dat moi.Cho den nay,tuoi doi sap buoc sang That thap co lai hy, toi van thay thoi gian song duoi chinh the De Nhat Cong Hoa cua TT Diem la thoi gian dep nhat cua doi toi, va toi biet on che do va TTDiem. Rat buon khi thay co it nguoi dung chu Ho Ngo hay Nha Ngo de noi den thoi De Nhat Cong Hoa, khong biet la cac vi ay vo tinh hay khong hieu khi noi nhu the la co y miet thi trong do ?? Nguoi gia thuong khong song bang hien tai, ma song bang qua khu, nhat la nhung gi tot dep trong qua khu thi nguoi ta lai khong the nao quen. Toi uoc ao du chi mot ngay, duoc la anh thanh nien muoi tam ,doi muoi,mong uoc trong tay,duoc song lai duoi chinh the cong hoa ma toi yeu men, nhung lam sao ma tim lai duoc. Tuoi gia va hoai niem la 2 dieu khong the roi nhau. Mot lan nua cam o ban Giang Anh da giup toi tro ve nhung hoai niem dep nhat cua doi toi. Kinh chao ban.

  6. Gia toi co mot thac mac nho xin duoc phep noi cung ban Hoang Truong v/v ban noi cho CTHD biet ten Ha Minh Tri la VC nam vung va ban gioi thieu 1 web de ai muon tim hieu them ve ten nay thivao xem. Dieu do cung tot thoi,nhung co dieu khien nguoi doc ngac nhien la ban chiu kho sao y ban chanh ca trang web do noi ve ten Cs nay de lam gi vay,??De quang cao cho ten nay chang? trong khi tim hoai cung chang co 1 y kien gi cua ban ca??? Nhu CTHD co noi :Trang bao con danh cho quangcao, nen toi nghi that la phi pham thoi gian va trang bao de dang nhung viec vo bo, ba vo. Nay kinh.

  7. Hơn 40 năm qua, kể từ ngày Ngô Tổng Thống bị sát hại, tài liệu viết về ông nhiều như lá rừng. Hôm nay tôi dạo chơi trên Net, lượm lặt it hàng trình qúy vị đọc chơi.

    1.- On ne fait pas d’omelette sans casser les oeufs !
    ( Người ta không thể làm món trứng tráng mà không đập vỡ những trái trứng )
    Đấy là lời trùm xịa Lucien Conein khuyến cáo bọn đầu trâu mặt ngựa, đang tay dao, tay búa, quyết giết người cướp của, cướp quyền, nhưng còn đang so đo tính toán. ” Những trái trứng ” đây là anh em cố tổng thống; còn ” món trứng tráng ” dĩ nhiên là những đồng tiền vấy máu và những địa vị phù du mà bọn phản dân , hại nước đang thèm khát .
    Tại sao trùm xịa là Mỹ chính cống, lại dùng tiếng Phú lang sa để khuyến khích chuyện giết người ? Lý do là để cho được…dễ hiểu ! Bọn lâu la đang đi hia , đội mão tướng, làm chuyện côn đồ này,chính là bọn lính Tây hồi trước, quen nghe chủ Tây sai khiến bằng tiếng Pháp !

    2.-Khi hay tin Ngô Tổng thống và ông Ngô Đình Nhu bị giết hại, ông Kennedy xúc động ra mặt; mặt ông tái xanh. Tôi ( Mac Namara ) chưa bao giờ thấy ông xúc động nhưu thế. Ông đã thốt lên : ” Tại sao họ làm như vậy !? Bất kể như thế nào, ông Diệm cũng đã dành phần lớn cuộc đời để tranh đấu cho đất nước ông .”
    Đối với những lời tố cáo ông Diệm và ông Nhu là người độc tài, ông Kennedy không ngần ngại đáp: ” Không ! Họ ở trong tình cảnh ngặt nghèo. Họ đã làm mọi điều có thể cho đất nước họ . ” ( Trích : Một cái chết trong tháng 11 – Hammer, Ellen.J. trang 301 )

    3.- Kỳ thị và đàn áp Phật giáo
    Một lần vào năm 1962, sau cuộc bầu cử tổng thống lần thứ hai,, tổng thống thức dậy lúc 5 giờ sáng, gọi tùy viên là trúng úy Lê Châu Lộc ( sau này là Thương Nghị Sĩ trong đệ nhị cộng hòa), tỏ ý muốn đi thăm chùa Ấn Quang, để cảm ơn các sư trụ trì đã tham gia cuộc bầu cử vừa qua. Tổng thống muốn cuộc viếng thăm ” tự nhiên, đơn giản và thân mật “. Khi tới chùa, Hoà thượng Quảng Liên đến chào và cảm ơn tổng thống đã gửi thượng tọa đi du học ngành tiến sĩ giáo dục tại Michigan State University. Một Thượng tọa khác nói với tổng thống: ” Chúng tôi buồn Tổng thống ! ” Ông liền quay lại hỏi: ” Chuyện chi mà buồn ? ” Vị Thượng toạ nói : ” Tổng thống có tin vui mà không chia sẻ cho mọi người. Tổng thống được gỉai thưởng Massayssay mười ngàn đô la năm 1959, và đã tặng số tiền này cho đức Đạt Lai Lạt Ma mà không cho ai biết ! ” Tổng thống chậm rãi nói: ” Phải, tôi đâu có dùng tiền, nên tôi biếu đức Lạt Ma để ngài xử dụng vào việc cần .”

    Khi phái đoàn điều tra của Liên Hiệp Quốc về vụ Phật giáo còn đang làm việc , thì cuộc đảo chánh sảy ra. Bản Phúc trình được phổ biến tại diễn đàn LHQ ngày 9 -12-1963. Ngày 20-12-1963, đại sứ Fernando Valio Jimenez của Costa Rica tuyên bố: ” Cảm tưởng của riêng tôi là không có chính sách kỳ thị, áp bức hay khủng bố đối với Phật Giáo. Những khai báo về phương diện này, thường là nghe nói, được trình bày một cách mơ hồ và tổng quát ! ”
    Thượng Nghị Sĩ Thomas Dodd, chủ tịch tiểu ban tư pháp thượng viện Hoa kỳ, trong một văn thư gửi cho thương viện ngày 17-2-1974, có đoạn viết :
    ” …những báo cáo [ chính quyền ] khủng bó Phật giáo môt cách quy mô, quá lắm chỉ là sự thổi phồng quá mức, tuyên truyền bẩn thỉu và gian lận ”

    4.-Tổng Thống Diệm kỳ thị địa phuơng, tôn giáo trong việc xử dụng nhân tài.
    Bác Sĩ Nguyễn Tuấn Anh, y sĩ của lữ đoàn liên binh phòng vệ phủ Tổng thống viết::
    ” Cái lưỡi không xương vốn diệu ảo ! Những sĩ quan trong có nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho tổng thống như trung tá Nguyễn Hữu Duệ, trung tá Lê Ngọc Triển, trung tá Hoàng Lạc… đều là người Bắc và theo đạo Phật. . Trung tá Cao Văn Viên đứng đầu Tham Mưu biệt bộ phủ tổng thống, Đại tá Nguyễn Xuan Vinh, đại tá Huỳnh Hữu Hiền, là các tư lệnh Không quân đều là phật tử, tuy người ở Bắc, người ở Nam. Những cộng sự viên thân cận của tổng thống như phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, người Nam, phật tử,; ngoại trưởng Vũ văn Mẫu, miền Bắc , phật tử; Các ông Võ Văn Hải, chánh văn phòng, ông Đoàn Thêm, ông Quách Tòng Đức đều không phải con chiên của Chúa, là người Bắc. Xem vậy, quả là điều oan khi cho tổng thống là người phân biệt điạ phương hay tôn giáo.

    5.- Tú Gàn Lữ Giang viết:
    ” Sau khi thi hành xong lệnh của chủ và lãnh tiền công 3 triệu, ” bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa ” cấu xé nhau về chức quyền và tiền bạc, đưa tới mất chủ quyền quốc gia , rồi mất nước. Bây giờ, nơi các tầng “Nacara”, Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim,Đỗ Mậu, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Văn Nhung đang cùng với hai ” ông thầy ” Henry Cabot Lodge, Lucien Emile Conein nghiền ngẫm lời nguyền rủa của tổng thống Johnson. Nghe nói, trong những năm cuối đời, Mai Hữu Xuân, sống trong một nhà già ở Virginia, đã phát điên. Thỉnh thoảng y quỳ xuống, quay mặt vô tường, chắp tay van lạy : ” Xin cụ tha cho con ! ”
    Nơi chốn luân hồi, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang không dám bước ra nhìn ánh sáng. Tôn Thất Đính thất thểu như bóng ma !

    6.- Cộng sản reo hò mừng rỡ.
    Nghe tin Ngô Tổng thống bị hạ sát, chính trị bộ công sản ở Bắc gồm các tên Hồ, Duẩn, Đồng, Trinh, Giáp… đều reo lên mừng rỡ: ” Ngày cách mạng thắng lợi đã tới rồi !” Đang họp tại Pháp, Chủ Tịch Mặt Trận Giải Phóng của cộng sản cũng reo lên : ” Đây là món quà Trời cho chúng tôi ! ”

    7.- Một bài thơ Tiếc thương Ngô Tổng Thống của bà Ngô Minh Hằng:
    ” Một ánh sao băng tắt giữa trời !
    Giang sơn từ đấy tối thui thôi.
    Thương người nghĩa khí tàn cơn mộng,
    Tiệc bậc tài hoa úa mảnh đời.
    Khing bọn túi cơm phường rắn rết,
    Giận phường giá áo lũ đười ươi.
    Nếu không phản phúc không tham vọng,
    Đất nước giờ đây hẳn kịp người !.

    Lượm lặt sơ sơ thế mà cũng mỏi tay ! Những dòng chữ trên mới chỉ là vài đốm lửa rất mờ nhạt của một đám cháy ngút trời đang bùng lên thiêu rụi những dối trá bẩn thiủ, tàn úa như lòai cỏ dại.
    ” Chân Lý đang tiến bước; không có gì có thể làm cho nó ngưng lại được. “

  8. Tôi đồng ý với bác namphuc về nhận xét độc tài của nhà Ngô. Trong tinh thần tương kính các ý kiến dị biệt, tôi cũng thấy các ý kiến phản biện của độc giả Giang Anh cũng có phần nào giá trị. Tuy nhiên chúng ta không thể phủ nhận một sự thật hiển nhiên rằng nhà Ngô là một thể chế độc tài gia đình trị. Các nhân vật chính trị đối lập bị thủ tiêu như Nguyễn bảo Toàn hoặc bị dồn vào chỗ phải tự sát như nhà văn Nhất Linh là những ví dụ. Dù rằng nhà Ngô không cấm đạo Phật công khai gay gắt, nhưng phải thừa nhận rằng họ không công bằng khi đối xử với Phật giáo, nhất là qua vụ treo cờ. Trước đó ít ngày thì công giáo treo cờ chẳng sao, tới khi Phật giáo treo cờ thì lại cấm, lấy lý do này nọ.
    Nói chung về nhân vật Ngô đình Diệm, lời khen tiếng chê tranh cãi nhau đến tận thế cũng chẳng ai chịu ai. Nhưng tôi chịu những lời lẽ vừa phải tương kính nhau không vu khống nhau là VC khi tranh luận về quan điểm chính trị.

  9. Bác backy54 nói gọi nhà Ngô là có hàm ý miệt thị là không đúng. Chẳng lẽ chúng ta gọi nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê là có ý miệt thị vua Lý, vua Trần, vua Lê sao?
    Về nhà Ngô, cảm ơn bạn Giang Anh lượm lặt các ý kiến trên. Tôi đồng ý 2 tay rằng nhà Ngô bị người Mỹ loại bỏ, tôi đồng ý các sư sãi chỉ có tham vọng chính trị và thiếu tư cách, điển hình là Thích Trí Quang và một số các sư sãi khác. Tuy nhiên, bấy nhiêu đó chẳng đủ để ca ngợi Ngô đình Diệm như một lãnh tụ vĩ đại, chẳng thể biến một thể chế độc tài thành một thể chế dân chủ đươc vì một lý do đơn giản: đó là 2 chuyện khác nhau.
    Tôi đọc rất nhiều tài liệu viết về nhà Ngô, tôi thấy những người ủng hộ nhà Ngô thường đem việc Mỹ sử dụng “bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” để lật đổ ông Diệm và tham vọng của các sư sãi nhằm biện hộ cho Ngô đình Diệm, xem ông ta như thánh sống. Sao họ không thấy rằng sự tàn ác của người Mỹ, tham vọng chính trị của tăng lữ Phật giáo đâu có nghĩa là sự độc tài (và luôn tàn ác) của nhà Ngô là không có?

  10. @ Ngan Vo:

    1. Chữ “nhà” là một prefix mà ngôn ngữ nước ta hay dùng cho những triều đại phong kiến. Thời TT Ngô Đình Diệm, nước ta tuy đang ở trong giai đoạn phôi thai của chế độ dân chủ cộng hòa nhưng nhất định không phải là phong kiến. Nghĩa là gười dân có quyền tự do dân chủ thật sự, chứ không phải kiểu “dân chủ cộng hòa” dởm của họ hồ ngoài bắc ! Chữ “nhà Ngô” là một cụm từ lấy râu ông này cặm cằm bà nọ. Thoạt đầu, cụm từ này do những nhân vật hoặc tổ chức thù địch với TT NĐD đã dùng để gọi ông. Xin nói rõ: “thù địch” khác với “đối lập”. Những nhân vật hoặc tổ chức đối lập chính trị theo đúng nghĩa của nó, đã không bao giờ dùng chữ “Nhà Ngô” với TT NĐD. Họ có thể tố cáo chế độ của TT NĐD là “gia đình trị” sau khi có những bằng chứng chắc chắn, nhưng họ vẫn gọi cho đúng danh xưng để tỏ lòng kính trọng một người có tâm huyết với quốc gia và dân tộc.

    Tuy nhiên, những nhà “bình loạn” chính trị, tức là những người viết không chuyên, đã dùng chữ “nhà Ngô” vì thói dùng chữ cẩu thả. Họ “không chuyên” nên ta có thể tha thứ được. Còn những tài liệu đứng đắn, do những khuynh hướng đối lập đúng đắn, đều không dùng chữ này.

    2. Nếu muốn thảo luận trong tinh thần học tập nghiêm túc, xin đồng chí nêu rõ : sách báo nào, do ai viết đã đề đến “bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” để lật đổ ông Diệm ? Tôi cũng đọc những tài liệu viết về “nhà Ngô”, chắc không “nhiều” như đồng chí, nhưng không thấy những tài liệu đứng đắn nào đã gọi các tướng lãnh lật đổ TT Diệm là bọn “ác ôn, côn đồ” như đồng chí đã gọi. Xin đồng chí nêu rõ hơn nữa : ai đã tôn TT NĐD lên làm “thánh sống” ? Những người kính trọng TT NĐD quả thật có tôn sùng cách quá đáng, nhưng không coi ông ta như “thánh”. Bằng chứng là ngay từ hồi đó đã có những nhân vật chê bai TT một cách công khai mà vẫn không bị ai sách nhiễu. Họ hồ và đồng bọn mới chính là những tên tội đồ đã bắt ép người dân miền bắc tôn thờ hắn như vị thánh sống. Bằng chứng đìển hình là hễ ai nói phạm đến y là bị đồng bọn y trù dập suốt đời (như trường hợp thi sĩ Nguyễn chí Thiện hồi đó, hoặc những người đấu tranh cho dân chủ VN hiện nay).

    TT Ngô Đình Diệm không phải là “thánh” theo nghĩa bình thường, nhưng nếu nhìn hồ chó mao và những thủ đoạn ác ôn cuả y đối với chính đồng baò mình, TT Ngô Đình Diệm quả là một vị thánh sống. Ai đó có tôn ông làm “thánh” vì lẽ này thì tôi đồng ý cả hai tay.

    3. Chỉ vì tâm trạng hận thù với chế độ VNCH, đồng chí đã vội chê bai chế độ của TT NĐD là “độc tài”. Chỉ có VC mới không thấy những quyền tự do thật rộng rãi của người dân dưới chế độ VNCH. Ai cũng có quyền tự do phát biểu dù là phát biểu chống chế độ đi nửa, tự do đi lại, tự do buôn bán, tự do hành đạo nghĩa là nhà nước không được quyền thò tay vào nội bộ các tôn giáo (bọn VC nằm vùng đã mạo làm sư sãi và lợi dụng quyền này để đánh phá chế độ VNCH), tự do sáng tác báo chí, âm nhạc v v…, do vậy, ai cũng thấy là bọn trịnh công sơn, hùynh tấn mẫm, ngô công đức … đã khơi khơi “sáng tác” mà không ai làm gì được chúng.

    Ngược lại, những người dân miền bắc sống cùng thời với Đệ Nhất Cộng Hoà không có đến một phần ngàn những quyền tự do này, sao đồng chí không nhắc đến ?

    Anh kieuphong à, anh kết án, chụp mũ chế độ VNCH và những nhân vật liên hệ một cách hồ đồ, nhưng chúng tôi không chấp vì anh không sanh ra và ở miền Nam thời đó. Lại nghe bọn ăn cướp dạy dỗ tuyên truyền láo khoét từ bé. Cho nên anh có cái nhìn sai lạc về chế độ VNCH cũng là chuyện đương nhiên. Vì lẽ ấy nên chúng tôi phải chịu mất thì giờ giải thích cho anh hiểu. Biết là như nước đổ lá môn, nhưng vì anh không có những phát biểu vô văn hóa nên chúng tôi cảm thấy vui lòng làm chuyện này, thế thôi.

  11. Cảm ơn bác PhuongLe.

    • Xin mạn phép bàn thêm với ông (cô) Phương Lê :

      – Tuy tôi không biết những ai đã suy tôn Tổng Thống Ngô Đình Diệm làm “thánh” như Ngan Vo đã nói, nhưng tôi cũng chưa bao giờ đọc bất kỳ tài liệu nào cho biết ý kiến của TT Diệm về chuyện này. Nghĩa là TT Diệm tuy có biết những hình thức ca tụng ấy, nhưng chưa chắc ông đã hoàn toàn tán thành những việc này.

      — Trong khi ông Diệm không dám nói về mình thì, già hồ đã tự ca tụng, tự thần thánh hoá mình ồn ào hơn ai hết. Hắn lấy tên là Trần Dân Tiên để viết cuốn “Đời hoạt động của Hồ chủ tịch” , trơ trẽn tự ca ngợi mình. Sự bỉ ổi của hắn chưa phải đến đây là hết. Với cái tên Trần dân tiên, hắn còn viện lý do “hồ chủ tịch do lòng khiêm tốn nên không thể nói nhiều về mình”. Đó môt sự thật mà toàn dân VN trong nước ( có lẽ ngay cả ở hải ngoại) ai cũng đều biết.

      – Đã tự tâng bốc mình, già hồ lại tự khen mình là khiêm tốn ! Gian manh, xảo trá trên đời này chỉ có một ! Đã thúi hơn cứt đem phơi nắng, đàn em hắn còn bắt toàn dân VN ngửi từ mấy chục năm nay, ai chê thúi là bị chúng dập ngay !

  12. VC thì muôn đời cũng vẫn là…VC! Luôn đi theo lề phải mà bác và đảng(cướp) đã dẫn đường. Họ đã bị bịt mắt, nhồi sọ từ lúc còn trong bụng mẹ. Ra đời tất cả bọn họ đều là một đàn két học nói tiếng người, một lũ rô bô làm theo lịnh chủ để sống còn. Do vậy họ không thể nào hiểu được “độc lập-tự do- hạnh phúc” là cái quái gì đâu. VNCH lẽ ra phải giải phóng miền bắc mới phải.

  13. Muốn biết Ngô đình Diệm có được xem như thánh sống không, xin xem quyển “Những ngày cuối cùng của tổng thống Ngô đình Diệm” của 2 tác giả Hoàng ngọc Thành và Thân Thị Nhân đức (tôi không nhớ chính xác tựa cuốn sách, nhưng đại khái là như thế). 2 tác giả này đòi xây tượng đài cho Diệm và tâng bốc họ Ngô hết lời. Xin thưa với bạn Vô tư rằng họ Ngô rất khoái nịnh hót, trong phủ tổng thống, nhiều người gọi họ Ngô là “cụ” xưng “con” ngọt xớt, dù tuổi họ Ngô chưa tới mức gọi là “cụ”. Nhiều công sở (không phải tất cả), sau buổi chào cờ buổi sáng là tới màn “suy tôn Ngô tổng thống” vô cùng lố bịch.

    Tôi nghĩ CTHD là người đã từng chịu uất ức trong 20 năm trời vì không được nói cái gì mình muốn nói, không được viết cái gì mình muốn viết. Tôi nghĩ CTHD sẽ không đồng ý xóa tiếng nói của tôi. Nếu thấy mục ý kiến này cãi cọ nhiều quá mất hay và muốn dẹp, thì phải áp dụng đồng đều cho mọi người. Chính tôi cũng không thích cãi cọ nên không trả lời các ý kiến công kích, cực chẳng đã bây giờ mới phải nói.

    Nhiều người công kích VC là không cho ai nói ý kiến khác biệt, nhưng họ hành xử giống hệt VC. Cái xấu xa nhất của người Việt là khi có ý kiến khác biệt thì gọi người đó là VC. Nếu công kích Diệm là VC thì có rất nhiều VC: chủ tịch dân xã đảng Nguyễn bảo Toàn, nhà văn Nhất Linh, thiếu tướng Ba Cụt, và luôn cả … Nguyễn văn Thiệu (vì Thiệu là một trong những lực lượng chính lật đổ Diệm)

    Còn chuyện tôi có bị bịt mắt, nhồi sọ không, chính tôi biết rõ chuyện đó hơn bất cứ ai trên cái cõi đời này.

    • Trich : …”sau buổi chào cờ buổi sáng là tới màn “suy tôn Ngô tổng thống” vô cùng lố bịch” …(ngung trich).

      Sau khi các sử gia cận đại đã lật tẩy họ hồ cho thế giới thấy bộ mặt xảo trá thì đàn em y vẫn tôn thờ y và bắt toàn dân VN làm theo. Ông Ngan Vo gọi hành động này là gì nhỉ? Tôi gọi chúng là trơ trẽn và côn đồ !

    • Ai “đòi xây tượng đài và tâng bốc họ Ngô hết lời” thì đó là quyền của họ, chả có gì là xấu xa, vi pham luật hoặc đụng chạm gì đến ông cả. Ông không thích thì đừng ủng hộ họ, thế thôi.

      Ông cứ đánh lờ điểm chính mà tôi muốn nói là TT Ngô Đình Diệm không hề tự viết lách suy tôn mình. TT Ngô Đình Diệm càng không bao giờ tự xưng là “bác”hay “cụ” với ai cả. Ông Diệm có “khoái” vì được gọi bằng “cụ” hay không thì không ai biết, nhưng mọi người đều biết TT Diệm không hề viết sách nói về mình hoặc tự suy tôn mình. Trong khi ấy thì già hồ viết sách tự khen mình, tự xưng là “bác” trong sách hắn viết và đàn em hắn thì một mực sủa hùa theo. Ai chê bai họ hồ là bị đàn em hắn dập ngay như tôi đã nói ! So ra thì nhân cách họ hồ không đáng để xách dép cho TT Diệm! Ông là ai, theo bên nào mà không đá động gì đến họ hồ lại đi mạt sát TT Diệm? Hay chỉ vì Đệ Nhất Cộng Hòa của TT Diệm chống cộng hữu hiệu hơn ai hết?

      Ông lý luận lăng nhăng, tránh né trả lời những ý chính rồi tự tuyên bố rằng ông không muốn cãi cọ và đề nghị CTHD dẹp đăng ý kiến của mọi người. Láu cá theo kiểu VC, tưởng không ai biết đấy hẳn?

      Nghe nói ông từng đi tù cải tạo làm tôi mũi lòng lắm. Xin cho biết ông đã làm gì cho chế độ VNCH? Đã đi tù ở những đâu?

  14. — Trích : “…2 tác giả này đòi xây tượng đài cho Diệm và tâng bốc họ Ngô hết lời..” (ngưng trích).

    Xin hỏi : hai tác giả này ” tâng bốc” TT Ngô Đình Diệm là do ai ép buộc họ hay do lòng thành của họ mà ra ? Tôi đọc toàn quyển, không thấy một chỗ nào hai tác giả này coi nhẹ những thành tích của TT NĐD trong công cuộc xây dựng nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Những khó khăn khôn lường cũng như những thành tích của TT NĐD và những nỗ lực phá hoại của Pháp và VC thời đó đều là những chuyện có thật. Đích thân hai tác giả đã chứng kiến nên ngưỡng mộ những thành quả của TT NĐD là chuyện đương nhiên. Xin hỏi ông, luật pháp nào cấm họ làm chuyện ấy ?

    Quá thù hận với nền Đệ Nhất Cộng Hòa, những lời khen TT NĐD đối với ông vì thế đã trở thành những lời tâng bốc. Đó cũng là chuyện dễ hiểu thôi, “khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo” mà lị !

    Về việc họ “đòi xây tượng đài cho Diệm” chỉ mới là “đòi”, chuyện này chưa hề xảy ra nên ông lấy lý do gì mà chê trách họ. Còn già hồ, tôi thấy dân VN, ngoại trừ bọn đảng viên đảng cs và bọn cơ hội a-dua, chả có ai “đòi” xây tượng đài hoặc treo tượng ảnh của y hồi nào, nhưng đàn em hắn cứ tự động làm chuyện ấy và bắt ép mọi người phải tôn thờ theo, ông nghĩ sao ?

    — Trích : …” họ Ngô rất khoái nịnh hót, trong phủ tổng thống, nhiều người gọi họ Ngô là “cụ” xưng “con” ngọt xớt, dù tuổi họ Ngô chưa tới mức gọi là “cụ”. Nhiều công sở (không phải tất cả), sau buổi chào cờ buổi sáng là tới màn “suy tôn Ngô tổng thống” vô cùng lố bịch”… (ngưng trích).

    Ông lập lờ đang nói đến cuốn ” Những ngày cuối cùng của TT NĐD” bỗng bắt qua mệnh đề nói trên, làm người đọc cứ tưởng hai tác giả cuốn này là người đã phát biểu mệnh đề ấy ! Chắc ông hiểu: viết lách như thế, nhẹ thì gọi là cẩu thả, nặng hơn thì gọi là lưu manh nghề nghiệp !

    Nhưng tôi cũng đáp lại cho ông đỡ ấm ức.

    Về chữ “cụ” đã làm ông chán ghét, cũng lại vì thành kiến thù hận nền Đệ Nhất Công Hoà của ông cho nên ông đâm ra mù quáng chăng. Chữ “cụ” chỉ là một lối xưng hô để tỏ lòng kính trọng, chứ không hẳn vì tò lòng tôn kính bậc niên lão. Bằng chứng điển hình là tôi thấy các con chiên đạo Công Giáo vẫn gọi các linh mục là “cha’ rồi xưng con, hoặc các phật tử gọi những Đại đức, Thượng tọa của họ bằng thầy, rồi cũng xưng “con”. Mà các linh mục, đại đức và thưọng tọa ấy có già lão gì cho cam ? Có khi tuổi còn nhỏ hơn con cái họ nữa !

    Được tôn là “cụ”, ông Diệm có “khoái ra mặt” là chuyện tôi chỉ đọc thấy qua những sách báo và những nhân vật thù địch với TT NĐD, trong đó có ông, tuyệt nhiên không thấy một tài liệu lịch sử đứng đắn nào nói về chuyện này !

    Sau khi lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa, các công dân miền Nam đã được thông tin đầy đủ những mặt trái của quá khứ nhờ quyền tự do ngôn luận và báo chí đã được tôn trọng triệt để. Hiện tượng tôn thờ cá nhân và tôn thờ lãnh tụ không còn xuất hiện nữa trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa dưới bất ky hình thức nào.

    Còn tên lưu manh họ hồ ? Càng ngày càng có hiều chứng liệu đáng tin cậy đã vạch mặt con người gian trá, đẻu cáng, bản chất bán nước hại dân của y đã bị phanh phui qua những truy tầm từ kho sử liệu của nước Nga (thuộc Liên Xô cũ).

    Thế nhưng, bọn lâu la y vẫn nhất quyết tôn thờ y và bắt mọi người phải làm theo chúng. Bản chất chế độ của bọn ăn cướp này có đáng để so sánh với nền Đệ Nhị Cộng Hoà hay không, thưa ông… kieuphong ?

  15. Mời các bác thưởng thức vài câu thơ Nhái mới nhảy ra ,các bác chụp hộ ,cảm ơn.

    Ngán Vợ hay là Vợ Ngán đây?
    Đúng nòi chồn cộng lũi vô đây.
    Những tưởng rung cây lòe nhát khỉ !
    Ai dè cành rụng rớt vào mom(mõm)
    Thế nên tức cảnh mần thơ Nhái
    Thơ rằng :
    Trong hang(‘), NGAN mới chùi ra
    Liếm môi vài cái , VO ta chùi vào.
    Chùi vào trong hang(‘) mần chi?
    Hóa trang “mặt mốc” hoặc “ba dấu hòi”(???)
    Quyết tâm NGAN VO quyết tâm
    Học (mưu) chị Định giải phòng miền Nam
    Chuyến này NGAN VO dùng (mưu)
    Lấy (mưu) che mặt thằng nào biết ta
    Ai dè(mưu) chị Định ta
    Lâu ngày trong hang(‘) hóa ra thúi rùm
    NGAN VO hít phải hơi này
    Rùng mình một cái hiện nguyên hình Chồn
    Kẻ hèo người gậy phang ra
    Đánh cho Chồn phải trở về hang(‘) sâu !

    Các bác vì Nhái này là Nhái Nam Kỳ ,các bác phải đọc chử trong dấu ngoặc đơn bằng giọng Nam mới phê. Bk54.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: