• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Đọc Cát Bụi Chân Ai của Tô Hoài

Ngừơi viết truyện Tô Hoài nổi lên trên văn đàn Việt Nam khoảng năm 1940 với những truyện ngắn Dế mèn phiêu lưu ký, Quê Người, O Chuột ..vv..; tác phẩm được nhiều người trẻ đọc nhất của Tô Hoài là truyện Dế Mèn Phiêu Lưu Ký. Tôi đọc DMPLK của Tô Hoài năm tôi 10 tuổi, những năm 1941, 1942 của Thế kỷ 20. Như nhiều chú nhi đồng cùng tuổi, ngày xưa ấy tôi rất thích truyện DMPLK. Những ngày như lá, tháng như mây theo nhau qua. Sáu mươi năm sau những buổi chiều xanh muà thu, những buổi chiều xám mùa đông, nằm trên căn gác nhà tôi ở tỉnh lỵ Hà Đông say mê đọc tiểu thuyết, liêu lạc xứ người ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, tập hồi ký Cát Bụi Chân Ai của Tô Hoài lạc đến tay tôi, và sáng hôm nay — một sáng đầu muà thu, lá phong bắt đầu ngả mầu vàng đỏ, tôi ngồi viết về những gì Tô Hoài viết trong Cát Bụi Chân Ai.

To HoaiTô Hoài là đảng viên Đảng Cộng Sản, tuy không là tay sai của Tố Hũu nhưng suốt một đời Tô Hoài trung thành với Tố Hữu. Cũng như tất cả những văn sĩ, thi sĩ thành danh trước 1945 theo Đảng Cộng Sản, Tô Hoài không viết được một tác phẩm nào đáng kể từ sau năm 1945. Tôi viết “không viết được tác phẩm nào đáng kể” vì sau khi trở thành đảng viên Tô Hoài cũng có viết vài truyện nhưng tất cả những truyện này đều không có giá trị gì đáng kể.

Cát Bụi Chân Ai” được Tô Hoài viết năm 1990, bià trước ghi “Nhà Xuất Bản Thanh Niên”, bìa sau ghi giá bán “US$12.00”. Như vậy quyển này được in lại ở Hoa Kỳ nhưng không thấy đề tên nhà xuất bản nào.

Trước hết, tôi điểm qua những đoạn Tô Hoài viết về những văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa: Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Phạm Duy, Doãn Quốc Sĩ, Phan Nhật Nam ..vv..

Đây là đoạn Tô Hoài viết về Vũ Hoàng Chương:

Cát Bụi Chân Ai. Trang 152-153. Trích:

Tôi mới viết truyện ngắn “Ông giăng không biết nói” đăng tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy. Gã yêu em. Em sắp về nhà chồng rồi mà cứ như không. Đêm hội chèo, tay đôi còn đưa nhau ra ngoài đồng, bên cái giếng thơi đầu xóm. Gã gặng hỏi. Nhưng em lắc đầu bảo không, rồi khóc. Mọi khi thì chẳng dám nói. Nhưng hôm ấy thong thả phiên chợ tơ, lại có chèo hát sân đình, gã hơi ngà ngà một chút. Gã sửng cồ lên:

— Ông biết thừa ra rồi. Ông hỏi thử chơi đấy thôi. Ông biết mười hai tháng sau cưới mày. Đồ khốn nạn!

Người con gái vùng chạy. Gã say rượu khát cháy cổ, cúi đầu hớp nước, ngã lộn xuống, chết đuối trong giếng. Thế rồi, ngày 12 tháng sau, ả nọ về nhà chồng. Từ đấy, mỗi lần về xóm nhà mình không bao giờ em dám đi tắt cánh đồng qua lối men bờ giếng. Nào ai biết đâu cái chết éo le thương tâm của người con trai. Nông nỗi đêm ấy chỉ có mỗi một ông giăng chứng kiến. Nhưng ông giăng lại không biết nói.

Trong nhà hát ở Vĩnh Hồ, Vũ Hoàng Chương chắp tay bái tôi:

— Lạy huynh, huynh nhất thiên hạ, huynh đã rõ tâm tình đệ. Ông hỏi thử chơi đấy thôi. Ông biết mười hai tháng sáu thì cưới mày.. Ha ha.., lạy huynh…

Tôi bảo:

— Mắt ông viền vải tây rồi. Câu của tôi là “mười hai tháng sau”, không phải “mười hai tháng sáu”.

Vũ Hoàng Chương cãi:

— Không, “mười hai tháng sáu” mới đúng cái đau của đệ, huynh đã cho đệ nén hương “mười hai tháng sáu”, không, mười hai tháng sáu.. Huynh cứ cho đệ đọc là mười hai tháng sáu…

Làm thế nào cãi, mà cãi làm gì. Chầu hát suông, người ả đào và chú kép xách đàn sang nhà khác đã lâu. Chúng tôi uống bia đen, nghe không biết bao nhiêu lần bài thơ “Riêng tặng Kiều Thu” ấy.

Trăng của nhà ai, trăng một phương!
Nơi đây rượu đắng, mưa đêm trường
Ờ… đêm tháng sáu mười hai nhỉ?
Tố của Hoàng ơi, hỡi nhớ thương!
…..
Tháng sáu mười hai từ đấy nhé
Chung đôi từ đấy nhé, lià đôi
Em xa lạ quá, đâu còn phải
Tố của Hoàng xưa, Tố của tôi!

Men khói hôm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu ghi mười hai
Tình ta, ta tiếc: cuồng, ta khóc!
Tố của Hoàng nay Tố của ai?

Số là năm xưa ấy thi sĩ Vũ Hoàng Chương, người mười mấy năm sau là “thi bá” của Quốc Gia VNCH — chẳng biết có người tình nào tên là Tố đi lấy chồng thật hay không, và cũng chẳng biết năm ấy thi sĩ đã có vợ hay chưa — làm bài thơ tình tự thương khóc vì ông có người tình tên là Tố lên xe bông về nhà chồng Ngày 12 Tháng Sáu. Theo lời kể của Tô Hoài, vớ được truyện ngắn “Ông giăng không biết nói” cuả Tô Hoài, ông nhà thơ cứ nằng nặc cho là câu “mười hai tháng sau” trong truyện là “mười hai tháng sáu”, bất chấp Tô Hoài đã nói với ông rằng hắn viết “mười hai tháng sau”, hắn không viết “mười hai tháng sáu”. Trong mấy dòng này Tô Hoài tả Vũ Hoàng Chương có thái độ rất đàn em với y, VH Chương “chắp tay lậy” y, gọi y là “huynh”, tự xưng là “đệ” ngọt sớt. Trong Hồi ký “Ta đã làm chi đời ta” của Vũ Hoàng Chương, thi bá VNCH viết Tô Hoài là anh chân chỉ hạt bột, một thứ “thầy giáo hồ lơ” không ăn chơi gì cả, hoặc chỉ đi che tàn, tức là theo đàn anh đi hát cô đầu — đi theo, không phải chi đồng nào, không bắt nhân tình, nhân bánh với em cô đầu nào — Tô Hoài nếu có vào bàn đèn thuốc phiện theo đàn anh thì chỉ ngồi chầu rià hóng chuyện, ăn boóng kẹo lạc, kẹo vừng, không dám hút chơi cho biết nửa điếu mà cũng không dám đánh đu với tinh.

Mắt viền vải tây” là mắt toét. Ngày xưa ngôn ngữ Bắc Kỳ có câu để gọi mắt toét là “mắt viền vải tây điều”. Tô Hoài viết thiếu tiếng “điều”. Cứ như trong truyện thì Tô Hoài chế Vũ Hoàng Chương mắt toét, đọc sai chữ. Nhưng VH Chương vẫn giữ phận đàn em, cứ cười hì hì, cứ đệ đệ, huynh huynh loạn cào cào châu chấu. Rất tiếc Thi bá Vũ Hoàng Chương cuả nước tôi đã về ngôi từ lâu, nếu ông còn, tôi sẽ hỏi ông: “Tô Hoài nó viết về ông như thế…, như thế… Có thật không ông?”

Đây là đoạn Tô Hòai viết về nhà văn Doãn Quốc Sỹ của Quốc Gia VNCH.

Cát Bụi Chân Ai. Trg 258-259. Trích:

Doan Quoc SyChúng tôi thường viết bài cho mục phát thanh cuả quân đội nói với thính giả miền Nam. Đọc tài liệu, giấy tờ bắt được ở chiến trường. Trò chuyện với phi công tù binh Mỹ. Có lần, Nguyễn Tuân và tôi vào làng La Cả uống bia ăn thịt chó với đại tá Phạm văn Đính, đại tá Vĩnh Phong- người hoàng tộc, sĩ quan Ngụy đã ra hàng quân giải phóng ở đỉnh cao Cồn Tiên Dốc Miếu. Hai sĩ quan này sơ tán ở một nếp nhà tranh của quân đội ẩn trong lùm cây ổ, cây nhãn giữa làng. Thỉnh thoảng, hai ông kéo nhau ra thị xã Hà Đông sắp hàng mua bia hơi. Có người đến thăm, khói bếp nghi ngút cả ngày.

Tôi cũng thường đọc trên đài một “Thư Hà Nội” gửi nhà văn Quan Sơn ở Sài Gòn. Chẳng mấy ai biết bút hiệu ấy cuả Doãn Quốc Sỹ ngày trước trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Năm. Doãn Quốc Sỹ người Cầu Giấy, gần làng tôi. Chúng tôi quen nhau khi mới cầm bút. Một trong những truyện ngắn đầu tiên của Doãn Quốc Sỹ, “Đôi mắt cuả Hiền”, cô Hiền ấy, con gái đầu lòng bác Tú Mỡ. Bức thư tình đăng báo mà rồi nên nhân duyên, Doãn Quốc Sỹ theo nhà vợ ra vùng tự do ở Bắc Giang ít lâu rồi vào Hà Nội, rồi di cư vào Nam. Báo chí và các nhà xuất bản ở Sàigòn in sáng tác của Doãn Quốc Sỹ, lại biết Sỹ dậy học ở Hà Tiên, được “tu nghiệp” ở Mỹ mấy năm. Chẳng biết cách mạng có nợ tiền, nợ máu gì với cái gia đình công chức còm ở một làng làm nghề dệt nghề giấy ngoại ô này không, tin là không, thế mà sao Doãn Quốc Sỹ viết chửi cộng sản hăng thế. Chắc chẳng khi nào Doãn Quốc Sỹ nghe bài của tôi để biết đến những tiếng nói vùng quê của anh.

Trong “Cát Bụi Chân Ai” nhiều lần Tô Hoài tỏ ra kênh kiệu, hỗn xược, gọi nhiều người là “thằng”. Trong đoạn viết về Doãn Quốc Sỹ trên đây, hắn tỏ ra ngu và đần. Hắn tự nhận “cộng sản” là “cách mạng” và hắn théc méc “không biết cộng sản có nợ máu gì với gia đình Doãn Quốc Sĩ không mà ông nhà văn này “chửi” Cộng hăng đến như thế?” Hắn ngu vì hắn không biết rằng nhiều người Việt Nam chống Cộng, diệt Cộng không phải vì Việt Cộng có nợ máu với cá nhân họ mà là vì bọn cộng sản có nợ máu với nhân dân, vì bọn cộng sản tàn ác với nhân dân, vì bọn cộng sản làm cho nhân dân đau khổ, hắn đần vì hắn không biết những người Việt Nam, như nhà văn Doãn Quốc Sỹ, không “chửi” Cộng, họ tố cáo, lên án những hành động tàn hại nhân dân của bọn Việt Cộng. Nhân dân Việt “chửi” Việt Cộng, những người Việt Nam diệt Cộng, những nhà văn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa không “chửi” Cộng.

Tô Hoài viết về Phạm Duy.

Cát Bụi Chân Ai. Trg 184. Trích:

Phạm Duy và Thái Hằng ở Thanh Hoá ra. Có một hội nghị quốc tế về âm nhạc ở Rumani. Phạm Duy chuẩn bị đi. Tôi không biết hội nghị hoãn hay vì đường xá cách trở, bấy giờ xe lửa Bằng Tường – Nam Ninh chưa có, cuộc đi lại thôi. Vợ chồng Phạm Duy trở về khu Bốn. Chỉ có vậy, không lắm nhiêu khê như Phạm Duy đã viết trong Hồi ký thời cách mạng kháng chiến đâu.

Trong Hồi Ký Cát Bụi Chân Ai 336 trang chữ nhỏ của Tô Hoài, đoạn viết về Phạm Duy chừng 10 dòng. Ta thấy ý của Tô Hoài là Phạm Duy đã vẽ vời nhiều chuyện không có thật trong Hồi Ký của Phạm Duy về những ngày tháng đi kháng chiến của đương sự.

Tô Hoài viết về Đinh Hùng thời kháng chiến.

Cát Bụi Chân Ai. Trg 202. Trích:

Nghe nói Đinh Hùng ở báo Cứu Quốc, tôi tìm đến gặp Đinh Hùng trong một xóm đồng chiêm gần Chuôn Tre lối ra Đồng Quan. Những câu ca dao in báo Cứu Quốc: Ngày nào trở lại cố đô.. Ôi Thăng Long rợp bóng cờ vinh quang.. Đinh Hùng đã làm những ngày ở đấy. Sau Đinh Hùng theo Vũ Hoàng Chương xuống Quỳnh Côi dưới Thái Bình.

Tô Hoài viết về Phan Nhật Nam.

Cát Bụi Chân Ai, Trg 307. Trích:

Tù binh đôi bên được thả ở Lộc Ninh, ở Hà Nội, sân bay Gia Lâm chín giờ sáng còn sương mù. Một chiếc máy bay Mỹ, quân sự hạ cánh cuối đường băng, nhả cái thang dưới bụng. Nhân viên Ủy Ban Quốc Tế xuống trước. Mấy sĩ quan ta và Sài Gòn đi sau. Một người thấp bé, áo quần rằn ri, mũ nồi đỏ, cái cần máy ảnh giơ cao. Phóng viên chiến tranh Phan Nhật Nam, tác giả phóng sự “ Mùa Hè Đỏ Lửa” tôi vừa đọc. Về Sài Gòn, Phan Nhật Nam viết báo kêu Hà Nội rất buồn. Nhưng ăn gà luộc ở khách sạn thì quả là thấy thịt gà ngon đậm như ông Vũ Bằng đã viết trong Miếng Ngon Hà Nội. Anh ta xin phép gói mấy miếng bỏ vào cái áo tám túi. Lại ngao ngán than phiền không thấy văn nhân nghệ sĩ nhà báo được ra sân bay.

Rõ hồ đồ, Nguyễn Tuân và ông đây từ sáng sớm đã đứng uống bia Trúc Bạch trong quầy nhìn ra đám tù binh giặc lái áo xanh lá cơi, cổ đeo tràng hạt gộc tre, sắp hàng chui vào bụng máy bay. Và xem mày ngọ nguậy lên xuống giơ máy ảnh.

Anh cu Tô Hoài chê Phan Nhật Nam “hồ đồ” là chê láo. Anh — Tô Hoài — và anh già hèn Nguyễn Tuân được bọn Việt Cộng cho phép vào sân bay nhưng chỉ được ở trong nhà ăn nhìn ra, hai anh không được phép thò mặt ra khỏi nhà ăn. Hai anh không phải là phóng viên nhà báo, hai anh là hai thằng viết văn hèn mạt, bị rọ mõm, không dám viết một dòng, một chữ về đời sống bất hạnh của đồng bào hai anh, những người Việt miền Bắc đói dài, rách mướp dưới ách đô hộ của bọn cộng sản ác ôn, suốt một đời hai anh không dám viết một dòng về những tội ác của bọn Việt Cộng, hai anh nhắm mắt, bưng tai, bịt mũi, thè lưõi liếm đít bọn Việt Cộng để được chúng ban cho rượu thịt.

Bà Mộng Tuyết Sài Gòn có cái “vinh hạnh được” Tô Hoài hạ bút ban cho 5 câu.

Cát Bụi Chân Ai. Trg 169. Trích:

Khác nào hai câu thơ hoa viết bút lửa trên mặt đôi guốc mộc của Mộng Tuyết gửi biếu bác Nguyễn, tình bạn đẹp và buồn phương trời:

Phồn hoa tỉnh mộng sương pha tóc
Mà cố nhân còn vẹn sắc hương.

Bà Mộng Tuyết này, nghe nói là vợ chui, vợ không hôn thú của ông Đông Hồ. Ông Đông Hồ qua đời, bà Mộng Tuyết nghiễm nhiên làm chủ ngôi biệt thự của ông Đông Hồ ở khu Lăng Cha Cả, Sài Gòn Năm Xưa Đẹp Lắm. Năm 1972 Thi bá Vũ Hoàng Chương được bà Mộng Tuyết ân cần, trang trọng, nồng nàn mời về ngụ trong biệt thự này. Tất nhiên là cư ngụ với tư cách thượng khách, không phải chi tiền mướn nhà, miễn luôn tiền điện nước, được ông bà hạ cố đến ở cho là chủ nhà hân hạnh. Đó là những năm phong lưu nhất cuả ông bà Thi bá. Ngày 30 Tháng Tư đen hơn mõm chó cái đến, Thi bá trở thành tội nhân của bọn cướp nước. Chủ nhà Mộng Tuyết trở mặt, quay mông liền một khi. Bà ta muốn mời bọn Việt Bắc Cộng Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên đến nhà để bà chiêu đãi rượu thịt cầu thân. Bọn ấy sẽ không đến nhà bà nếu có Thi Bá VNCH Vũ Hoàng Chương ở trong nhà. Bà đuổi ông bà Vũ Hoàng Chương đi khỏi nhà bà ngay lập tức. Ông bà Thi bá lếch thếch dắt nhau về sống nhờ nhà bà quả phụ Đinh Hùng bên Khánh Hội. Tình cảnh thật thương tâm. Cũng còn đỡ là ông bá Thi bá VNCH không phải ngủ ở vỉa hè Sài Gòn đêm nào!

Năm 1976, người Sài Gòn — thất nghiệp cả lũ, không biết làm gì — bầy ra cái trò dùng bút điện vẽ hoa, viết chữ lên những đôi guốc mộc để treo chơi, nhiều đôi guốc mộc vẽ hoa loại này được người Sài Gòn gửi cho người thân ở nước ngoài. Mụ Mộng Tuyết đặt làm một đôi guốc loại ấy tặng Nguyễn Tuân với hai câu thơ nhái bén. Thơ bà than nay bà via rồi, và bà bốc thơm Nguyễn Tuân “cố nhân còn vẹn sắc hương..!”

Khỉ lắm. Không ai dùng hai tiếng “sắc hương” để nâng bi thằng đàn ông. Kể ra cũng còn may cho bà trở cờ, bà nâng bi Nguyễn Tuân thơm nhưng nếu Nguyễn Tuân nó cho bà ngửỉ nó một cái, chỉ một cái thôi, chắc bà lăn đùng, ngã ngửa.

Những năm 1955, 1956, bọn Tố Hữu “đánh” nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, Nguyên Hồng được cho làm chủ bút tuần báo Văn. Bọn Tố Hữu dùng tờ Văn để đánh nhóm Nhân Văn nhưng những bài đăng trên tờ Văn yếu quá, bọn Tố Hữu không bằng lòng với việc làm của Nguyên Hồng. Bị phê bình là có cảm tình với nhóm Nhân Văn, Nguyên Hồng minh oan. Trong những cuộc bị tố và minh oan này Nguyên Hồng khóc mếu bệu nhếch thật thảm hại. Chuyện Nguyên Hồng khóc mếu được Tô Hoài viết trong Hồi Ký.

Cát Bụi Chân Ai. Trg 93-94. Trích:

Nguyen HongMỗi đêm dưới Ấp về, bộ dạng Nguyên Hồng cũng chẳng khác gì ban ngày. Trên ghi đông đặt cái cặp đúp chưá đầy bản thảo. Sau yên xe buộc một chồng báo Văn. Mọi khi chỉ kè kè cặp bản thảo, giờ thêm lô báo Văn từ số 1. Nét mặt hăm hở lẫn lộn đăm chiêu, những tờ báo Văn như một lá đơn để trình bày. Nhiều cuộc phê Nguyên Hồng, tôi không thể đếm xiết lần nào cụ thể. Chỉ nhớ báo Văn bị tố tội hữu khuynh, bị lũng đoạn. Ở đâu, họp tổ hay liên tổ, hay lên hội trường, Nguyên Hồng từ từ, cẩn thận, trịnh trọng đặt tập báo trước mặt, nói:

— Tôi làm báo không kể giờ giấc, không quản thức đêm, thức hôm, tôi bỏ hết sáng tác, cố làm cho kịp. Suốt tuần tôi bận bịu về nó hơn con mọn, bỏ ăn bỏ uống vì nó… thế thì làm sao tôi có thể sai… Tôi đấu tranh thực hiện đường lối văn học của đảng… Tôi hết tâm, hết sức vì nó, tôi không thể, tôi không thể…

Như người ốp đồng, không biết đương còn tỉnh hay đã mê, Nguyên Hồng để một tay lên chồng báo, to giọng nói đến bật khóc, vừa mếu máo vừa nói, nước mắt ròng ròng, hai tay mê mẩn xót xa vuốt mép báo. Cái lý lẽ cùng đường và những dòng nước mắt đã khiến những ai đương phê bình anh cũng không biết tiếp tục thế nào nữa..

Bị phê bình không tích cực đả kích nhóm Nhân Văn, Nguyên Hồng khóc, được ăn mấy cái bánh lốc-bểu Nguyên Hồng khóc, đem thịt chó vào tiệm ăn của người ta — chủ tiệm người Tầu kỵ thịt chó, cho là thịt chó sui — bị mời ra khỏi tiệm, Nguyên Hồng khóc. Nhưng tờ Văn vẫn bị bọn Tố Hữu đóng cửa. Nguyên Hồng xin nghỉ hưu, đưa vợ con về sống ở Nhã Nam. Tô Hoài kể chuyện Nguyên Hồng và cái xe đạp Xã Hội Chủ Nghĩa.

Cát Bụi Chân Ai, Trg 133-134. Trích:

Nguyên Hồng về Nhã Nam. Thỉnh thoảng về Hà Nội làm sơ khảo, chung khảo các cuộc thi sáng tác, các giải thưởng văn học và làm chủ tịch Hội Văn Nghệ dưới Hải Phòng.. Được giao việc làm đến nơi đến chốn, nhận tiền công trả đàng hoàng, các thứ văn phòng lĩnh rạch ròi từng cái ngòi bút, một ram giấy. Hội Nhà Văn Đức tặng Hội Nhà Văn Việt Nam 200 cái xe đạp Diamant mới cứng. Nguyên Hồng được điện khẩn mời xuống công tác. Ấy là việc dắt chiếc xe đạp đứng ở vườn hoa Cửa Nam trò chuyện với người qua đường. Vô Tuyến Truyền Hình của Việt và Đức quay giới thiệu nhà văn với tặng phẩm quốc tế. Nguyên Hồng hồi ấy mới để râu, rõ ra phong thái học giả phương Đông. Tuyên truyền thế thôi, cả hội chẳng được sờ vào vành bánh chiếc xe nào. Hai trăm cái xe vào kho bộ Thương Nghiệp. Nguyễn Tuân hỏi mắng Nguyên Hồng: “Đóng trò xong rồi, dắt mẹ nó cái xe đạp ấy đi, đưá nào làm gì được!” Nguyên Hồng cười, vuốt râu, đánh trống lảng: “Tớ lên phim còn nhiều phút hơn cái thằng phiếc-mê vô danh trong Cánh đồng ma đấy.”

Những năm 1976, 1977, nghe những người miền Bắc vào kể chuyện bọn Lê Duẩn thường bầy ra cái trò chọn một, hai nhà dân nào đó cho khách ngoại quốc đến thăm, để khách thấy tận mắt đời sống của nhân dân Việt Nam dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ra sao. Chúng cho đem TiVi, tủ lạnh, bếp điện, máy điện thoại đến bầy ở nhà người dân cho khách thấy; quay phim, tiếp khách xong, chúng cho khiêng tất cả những thứ ấy đi, tôi vẫn nửa tin, nửa ngờ. Đọc chuyện xe đạp Xã Hội Chủ Nghĩa do Tô Hoài kể trong Hồi ký Cát Bụi Chân Ai tôi thấy tởm quá. Tởm vì bọn đảng viên trắng trợn làm cái việc ăn cướp cơm chim, chúng ăn chặn cả mấy cái xe đạp do người Đức bố thí cho bọn gọi là nhà văn Bắc Việt. Tởm vì anh già Nguyên Hồng sẵn sàng đưa râu ra cho chúng dùng trong việc chúng đánh lưà nhân dân Việt, anh làm thế để đuợc chúng phát cho ít tiền thù lao. Chúng đưa cho anh cái xe đạp để anh đứng bên xe ở công viên cho chúng quay phim, chụp ảnh ma sau đó anh cũng không dám đòi chúng phải cho anh cái xe ấy. Anh đã đồng lõa với bọn cộng sản trong việc đánh lừa nhân dân. Bọn phóng viên truyền hình Đức Cộng cũng không ra cái giống gì cả. Bọn này tất phải biết không chiếc xe đạp tặng phẩm nào đến tay người được tặng, nhưng chúng vẫn cứ quay phim, cứ báo tin về nước là tặng phẩm được giao cho đúng người. Bọn gọi là bọn nhà văn Đức Cộng cũng là bọn gà mờ. Không lẽ chúng không theo dõi nội vụ và không biết là không một tên nhà văn Bắc Việt Cộng nào nhận được xe đạp chúng gửi tặng. Tất nhiên bọn Hội Nhà Văn Bắc VC phải gửi thư cám ơn. Nhưng rồi cả 200 cái xe đạp đều bị bọn đảng viên ngang nhiên lấy hết. Bọn đảng viên sẽ được mua những cái xe ấy với giá rẻ rề. Bọn “nhà văn” Bắc VC tất biết chuyện ấy nhưng tất cả đều câm miệng, không thằng nào dám hó hé.

Bị Nguyễn Tuân chửi về chuyện vác mặt đứng ra với cái xe đạp cho bọn đảng lợi dụng, Nguyên Hồng mặt trơ, trán bóng lôi chuyện mấy chục năm xưa Nguyễn Tuân theo đoàn diễn viên Việt Nam — do ông Đàm Quang Thiện cầm đầu, khoảng năm 1940 — sang Hồng Kông đóng phim “ Cánh Đồng Ma” , bộ phim truyện đầu tiên của điện ảnh Việt Nam. Trong phim Cánh Đồng Ma, Nguyễn Tuân đóng vai một y tá, bận áo bờ-lu trắng, khiêng cái băng-ca tải người bệnh. Anh-phiếc-mê — imfirmier: y tá — Nguyễn Tuân chỉ xuất hiện trên phim có hai tích tắc, không rõ mặt, không nói nửa tiếng, vai trò bất cứ ai đóng cũng được, vậy mà nhờ nó Nguyễn Tuân được sang sống ở Hồng Kông hai tháng, khi về viết quyển du ký Một Chuyến Đi kể chuyện Hồng Kông, không kể chuyện đóng phim mà kể nhiều nhất là chuyện hút thuốc phiện.

Trong Cát Bụi Chân Ai về mục nhân vật Quốc Gia VNCH ngoài Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Phạm Duy, Phan Nhật Nam, Mộng Tuyết, Tô Hoài còn viết sơ qua vài người nữa.

Cát Bụi Chân Ai, Trg 168. Trích:

Nguyễn Tuân không chơi như mọi người. Xưa và nay Nguyễn Tuân trang nhã, thân tình với bà luật sư thượng viện Phước Đại, bà Bảy Nam và cô Kim Cương, cả với ca sĩ Hà Thanh, một thời Đài Sài Gòn giọng vàng với Hoàng Oanh mà tôi giới thiệu ông vừa quen Hà Thanh xứ Huế ở khách sạn Côngtinăngtan hôm đoàn Kịch Nói Kim Cương ăn mừng một tuổi, cứ lưu luyến như người cũ gặp lại nhau.

Văn nhân vô hạnh, xướng ca vô loài, nữ lưu nâng bi! Cháy nhà ra mặt chồn. Tôi đã viết khá nhiều về bọn ấy. Bạn cũng đã bị tởm lợm nhiều vì chúng. Chuyện về chúng kể mãi chán thấy mồ. Để tôi viết những chuyện dzui dzui bạn đọc cho dzui nhé? Cát Bụi Chân Ai của Tô Hoài còn vài chuyện nữa.

Đến đây chưa chấm dứt Chương Trình Văn Nghệ Tạp Lục cuả Ban Tùm Lum!

Advertisements

28 Responses

  1. thanh that cam on Bac Hoang da mo mat sang long
    kinh chuc bac truong tho an khang

  2. Bài viết quá hay! Ông Hoàng Hải Thủy đã “đập” trúng những nhân vật “ruồi bu”. Cám ơn nhà văn về một bài viết sắc bén và rất hay!

  3. ¨Chuyện về chúng kể mãi chán thấy mồ. ¨

    Kính thưa Hoàng Lão Công Tử,
    Chuyện về chúng kể mãi vẫn không thấy chán đâu.
    Hoàng Lão Công Tử phải,nên kể thường xuyên để cho mọi người thấy,biết là: người Việt Nam chống Cộng, diệt Cộng là vì bọn cộng sản có nợ máu với đồng bào, vì bọn cộng sản tàn ác với đồng bào, vì bọn cộng sản làm cho đồng bào đau khổ.

    • Đúng vậy , CTHĐ viết những chuyện như thế này rất đáng qúy , để cho bạn đọc thấy được những cái hèn hạ của bon nhà văn rọ mõm bắc cộng .

      Thời VNCH , chúng ta gọi những người cầm đầu chế độ cộng sản miền Bắc là ông , kể cả Minh râu , còn họ cứ tự xưng là đỉnh cao trí tuệ , mà ai họ cũng gọi là thằng , rất là trịch thượng , rất là vô giáo dục , chỉ gọi “BÁC” một con người mà đáng ra chỉ là một “thằng ” người .

      Chờ đi , rồi đây chúng ta lại thấy xuất hiện hồi ký của thằng hèn tô hoài .

  4. Lão Tô Hoài mắc dịch này hết chuyện nói láo rồi hay sao lại biạ ra chuyện lãng nhách này ? Hắn trơ trẽn viết rằng ” : Anh ta ( Phan Nhật Nam ) xin phép gói mấy miếng ( thịt gà ) bỏ vào cái áo tám túi ! “, vì thịt gà ngon quá xá !
    Phan Nhật Nam, một sĩ quan Dù, hào hoa, đầy hào sảng, sống trong nước VNCH, đại diện báo chi miền Nam đi dự buổi tao trả tù binh, lại xin phép Việt cộng gói mấy miếng thịt gà cho vào ” áo tám túi ” Phi ní lô đia ! Biạ chuyện ngu quá xá !. Tôi chắc chắn ông nhà văn Phan Nhật Nam đã từng dự nhiều buổi tiếp tân, với những bữa tiệc hơn hẳn bữa cơm có mấy miếng thịt gà của mấy anh Bắc cộng lúc nào cũng cần tem phiếu mới có bo bo và khoai sùng của đảng ! Không thể có gì phét lác hơn cái chuyện bịa rẻ tiền này của anh Dế mèn ! Trước hết, xin hỏi anh Dế Mèn : anh núp ở chỗ nào mà rình được chuyện này ? Theo như anh viết, anh không được phép thò mặt ra, nói chi tới chuyện anh gặp phái đoàn Trao Trả Tù Binh ! Làm sao anh biết ông Phan Nhật Nam ” xin phép ” gói mấy miếng thịt gà cho vào áo tám túi ! ” Xin phép ai để được làm cái chuyện tức cười này? Vừa thôi chứ ! Có ngu thì cũng nên chừa lại một chỗ cho các đồng chí khác ngu với chứ ! Có phải anh ra đời tại cái làng Nghĩa Đô, nghèo rớt mùng tơi, nghèo rơi nước mắt, ăn cả thịt gà mắc toi, thịt gà bị rắn cắn chết như thằng Cu Lặc ( nhân vật trong chuyện của Tô Hoài ) , cho nên anh Tô tưởng miếng thịt gà là nhất trên đời này. Anh cũng định xỏ lá khi nói đến ” cái áo tám túi ” : mấy thằng Vi Xi chả thường tuyên truyền rẻ tiền, hạ cấp là lính Cộng Hoà mặc ắo bốn túi để bắt gà ! Không biết anh Dế Mèn này nhìn đâu ra cái áo ” tám túi ” ( !), ? Hay anh cho là bốn túi chưa đủ để lộn lưỡi vu cáo lính cộng hoà, nên anh tăng lên tám túi ! Không hiểu những tên nhà dzăng của bắc cộng đã bị bác, đảng của chúng nó cho ăn cái gì mà nó ngu và trơ trẽn như thế ! Ông nhà văn Phan Nhật Nam vẫn còn đó.Nếu ông đọc được chuyện anh Dế mèn này viết về ông, chắc ông được một buổi cười vui như xem hề diễn trò.

    • Cái đám nhà văn rọ mõm bắc cộng này , anh nào cũng như anh nào , cứ tìm hết mọi cách để bêu rếu các nhà văn của VNCH , họ làm như vậy để che cái hèn cái xỏ lá của chế độ cộng sản , của chính bản thân họ , uốn lưỡi cầu vinh . Sau 1975 , họ thấy họ thua nền văn học và giáo dục của VNCH quá , họ lại càng lồng lộn lên , viết sách báo biạ đặt nhiều chuyện khủng khiếp nưã kià .

      Thầy giáo tôi , Doãn Quốc Sỹ , không chửi việt cộng một cách lỗ mãng vô học như anh dế mèn này ( óc cuả ảnh chắc bằng óc của con dế mèn ) chửi ngưòi không cùng chính kiến .Thầy tôi chỉ viết lại những gì thầy chứng kiến , với lời văn tao nhã tư cách của một nhà mô phạm .

      Các vị bị dế mèn này xỏ xiên , chẳng ai thèm để ý , họ chỉ coi như trò hề , mua vui vài phút . Chỉ tội cho những người tới giờ này còn mang thân làm khuyển mã cho đám lãnh đạo ăn trên ngồi trước , nhà cao cửa rộng , vợ 2,3 người , con cái đang “du học” hết ở ngoại quốc.

  5. cam on ban Giang Anh

  6. Cam on cac bac TBui. ToPa, va nhat la bac Giang Anh, doc cac loi binh Mao Ton Cuong cua cac bac thiet la qua DA (viet hoa).Doc xong bai viet cua CTHD, cam thay Da mot phan, roi doc den loi binh cua cac Bac thiet la Da gap doi. Cai Da no tham xuong tan Cu ti. Nhung gi em muon noi cac bac da noi het roi, thiet la…. Thoi de dip khac xin dong gop voi cac bac cho vui. Chao cac bac loi chao:Ngay CS cao chung……

  7. vay tui xin hoi CONG SAN co no mau voi dong bao cho nao? cac ong to mom nhu vay , thu hoi cac ong da lam dc gi cho dat nuoc nay? khi nhan dan quan quai dau don duoi de giay DQ Mi thi may vi ko phai cong san lam gi hay la dang ngoi tren dem em uong ruou MI? KO BIET GI THI DUNG CO NOI. CAC NGUOI KO DU TU CACH DE NOI VE BAC NHU VAY.

  8. toi nghiep cho ban NVN ban kho qua dat nouc VN se hanh phuc biet bao khi khong con cong san neu ban biet phan biet giua su that va gian doi ban se khong viet nhu the nua
    toi chi thuong cho ban cho khong ghet ban, mot la ban mu quang hai la ban xin loi ngu qua thoi thi ta chiu kho doc sach va tim hieu them ve lich su va con nguoi Ho chi Minh nho dung doc sach cua Tran dan Tien nhe vi no khong chinh xac dau
    toi tin rang neu ban chap nhan douc su thai thi ban se cam kich toi nhieu lam va ban cung se khong viet bay nua
    thuong ban nhieu

  9. Nay chu nguoi Vn, noi cai ten la biet ngay thang cs xao tra, ra cai dieu yeu nuoc thuong noi. Chu may bao la cs co no mau voi nhan dan o cho nao a? Chu may khong biet hay gia vo khong biet ? Cs gay no mau voi nhan dan Viet tu nhung nam chu may chua ra doi (1940)cho den tan bay gio. Vu Cai Cach Ruong Dat mien Bac , bao nhieu nguoi dan chet tuc tuoi ve tay CS, no khung khiep den noi Cao Gia Ho phai lam bo nhan loi sai lam, gia vo roi vai giot nuoc mat ca sau thuong xot nhan dan, sau do thi hue, dan da chet roi ,tai san bi tich thu het roi, chu may co biet hay khong? Do khong phai la no mau hay sao ? Con nua, hon 5000 dong bao Hue bi dap dau, chon song trong dip Tet Mau Than boi ban tay nhuom mau cua Bo doi Bac Viet, Do cung khong phai la no mau hay sao ? Ai phao kich vao truong Tieu Hoc Cai Lay giet hai cac chau hoc sinh, ai da ban phao tan sat dan lanh vao doan nguoi chay nan tren dai lo kinh hoang o Quang Tri? Do cung khong phai la no mau hay sao ho thang khon nan ? Theo cai dau oc cho cua chu may thi nhung viec lam tan ac tren la nhung chien cong anh dung cua bo doi cs chung may chu gi ? Bac cua chung may la cai cho gi ma cac ong khong duoc quyen noi ? Vi bac cua chung may mang cai chu nghia phi nhan vao nuoc Viet nen dan Viet moi lam than kho so cho den bay gio, va chua bao gio dan Viet lai bi tui Tau sau quang lan at va khinh thuong nhu bay gio, do dau vay ? Do thang Bac cua may va bon lanh dao o Hanoi cui dau than phuc bon Tau, de duoc chung tiep hoi hau giu vung quyen coi dau coi co nguoi dan. Toi loi cua bon cs va Bac cua chung may co lay nuoc song Hong ma rua, ngan doi van khong sach. May da mo cai oc cho cua may ra chua ha thang cs con ?

  10. Phải nói thật.
    Đây là bài phê bình nhảm nhí.
    Và những người comment bên trên còn nhảm nhí hơn.
    Không biết là nếu không có bằng đấy nhà văn nàh thơ thì văn học VN sẽ đi đến đau à?
    Lũ dở hơi.

  11. tôi không đồng tình chút nào với bài phê bình này.
    tôi không phủ nhận có một số điều đúng nhưng như thế này thì đúng là quá đáng lắm. Không biết ông này nghĩ gì mà viết những thứ như thế. Cả mấy người đồng tình bên trên nữa. Thật chẳng hiểu gì cả??????????????????

  12. Các bạn cứ chửi CS, vậy thì khi Mỹ gây ra bao nhiêu vụ thảm sát, rải chất da cam xuống Việt Nam thì các bác ở đâu? Hay là vẫn đang ngồi ôm em út, uống rượu tây? Các bác ở Sài Gòn thì sướng rồi, các bác thử về các tỉnh miền Tây hồi đó xem, dân mình “sướng” thế nào? Khi mà lính của các bác đốt nhà hiếp con nhà người ta rồi giết chết xong đó vu họ là Cộng Sản?

    • Mỹ rải chất độc da cam là vì chúng mày trốn chui trốn nhủi trong rừng, không rải thuốc diệt cỏ để chúng mày tiếp tục trốn như những loài chuột à?
      Thế còn lúc bọn CS pháo kích thẳng vào đoàn người tị nạn trên đại lộ kinh hoàng ở Quảng trị, khi bọn chúng lấy dân chúng làm bia đỡ đạn ở An Lộc, khi bọn chúng pháo kích bừa bãi vào Kontum, bất kể mục tiêu quân sự hay dân sự, khi chúng thảm sát hàng ngàn người ở Huế hồi tết Mậu thân thì mày ở đâu? Hay là mày đang vểnh tai chó lên nghe mấy thằng mất dạy tuyên truyền láo?
      Sủa ngu, sủa láo mà cứ sủa dài, sủa dai, sủa dại, đúng là … chó cộng

    • Chửi CS thì mắc mớ gì đến chú mà chú dãy đành đạch thế nhỉ? Nếu chú đã là VC thì diễn đàn này không phải là nơi cho chú hỏi han vớ vẩn vì chú đã hỏi và chúng tôi cũng đã trả lời nhiều rồi. Chú không thích đọc thì chả ai mời, mà cũng chẳng ai bắt chú phải vào diễn đàn này, hiểu?

    • trời hởi năm nay là năm 2011 còn có những người như bạn vào đây phát biểu như thế thật là tội nghiệp cho bạn hiền ngây thơ quá,bạn ơi cái đám việt công Bố Mẹ,Anh Em có còn đem ra đấu tố mà,chuyện đập đầu giết người,hãm hiếp là chuyện nhỏ,bạn ơi nếu việt công tốt thật sao mà ngày xưa việt cộng đi đến đâu dân chúng chạy tới đó chả có ai mà dám ở lại vùng giải phóng cả,người ta bỏ cửa bỏ nhà chạy theo bọn ác ôn đó bạn ơi,chứ đâu có ai ngu gì mà ở lại với việt cộng,lính Miền Nam đẹp trai,đi đén đâu cũng có bồ,đâu cò thiếu thốn ưản ức về sinh lý như bọn vẹm trong rừng,thật ra chính mấy bậc cha bậc chú của bạn đi hiếp dâm rồi đổ vạ cho người khác
      còn mấy anh việt cộng thiếu thốn về sinh lý,ăn cắp cả những cái tã của mấy chị nuôi đẻ hít hà và tự thỏa mãn,không thấy bạn nói tới,bạn cứ hỏi đồng bào mà xem,nếu ngáy xua tụi Mỹ có bỏ thêm vài tấn bột da cam mà diệt hết được vệt công,hỏi thử xem đòng bào có chịu không?

    • Cảnh giác, cảnh giác, các bác ơi!!!

      Thằng VC này tự nhiên nhảy vào ý kiến ý cò vớ vẩn, chẳng ra làm sao, là vì CTHĐ vừa post bài “Như có bác Hồ 2011” để chửi “bác” của hắn. Hắn làm thế để lôi kéo chúng ta qua bài khác hòng đừng đọc bài ấy.

      Bổn cũ soạn lại, chả còn lừa được mấy ai nữa, anh kieuphong ạ !!!

  13. Ngày 15/4/1972, trời sáng dần, khi ánh nắng mặt trời đầu tiên trong ngày vừa sáng hẳn lên từ phương đông thì có tiếng trực thăng bay đến, dẫn đầu là hai chiếc Cobra và phía sau là một đoàn Trực thăng UH1B của Mỹ, hai chiếc Cobra có trang bị rocket bay một vòng quanh bải bốc quan sát, một trái khói màu vàng được thả ra đánh dấu chổ trực thăng đáp xuống, chiếc UH1B thứ nhất vừa xà xà xuống mặt đất thì có tiếng đạn cối rơi xuống nổ ngay chóc bải đáp rồi hằng chục tiếng pháo cối 82 ly tiếp tục rơi xuống, những chiếc trực thăng vội vàng bay thẳng lên không bốc được toán nào. Dứt loạt cối, Việt cộng từ hai bên triền đồi xuất hiện như mọi da đỏ dàn hàng ngang xung phong y hệt trong phim cao bồi viễn tây, vì đồi lau sậy thưa thớt nên rất dể thấy chúng không thổi kèn xung phong mà vừa chạy, vừa bắn, vừa hô “hàng sống chống chết” vang trời. Tiểu đoàn 11 Dù đang bị nguyên một Trung đoàn Việt cộng phục kích, Trung đoàn này được lệnh đi đánh phi trường Phượng Hoàng đêm trước, khi Tiểu đoàn 11 Dù rút lui khỏi Charlie, chỉ huy của chúng đoán được ta sẻ bốc quân tại đây nên cho lệnh Trung đoàn này lui trở lại để phục kích định hốt gọn 11 Dù, bọn chúng tưởng khi pháo ở giửa tất nhiên ta sẻ bung chạy tản ra chung quanh, bọn chúng đã phục kích sẳn sẻ hốt gọn, nhưng không ngờ khi chúng tràn xuống, thì Nhảy Dù cũng bung ra chống lại mãnh liệt. Trận chiến lúc này như một cái nia đựng đậu đen và đậu trắng sàng qua sàng lại lẫn lộn như đang đánh xáp lá cà, chổ nào cũng có tiếng AK47 và M16 nổ lẫn lộn còn hơn pháo Tết, coi như cả Tiểu đoàn 11 trừ cùng bắn nhau một lúc với một Trung đoàn Việt cộng, hai bên chạy qua chạy lại thấy đâu bắn đó như xinê, làm Cobra bay trên đầu cũng không biết bắn vào đâu, một chiếc trực thăng liều chết đáp xuống đất, tôi thấy một số người chạy tới leo lên, những chiếc sau vừa xà xuống thì Việt Cộng cũng rượt gần đến nơi, xạ thủ đại liên Nguyễn Tấn Vinh (hiện ở Houston) dừng lại ôm Đại liên 60 ria hết luôn một dây đạn còn lại, Việt cộng ngả rạp xuống đồi rụng như sung, viên đạn đại liên cuối cùng vừa ra khỏi nòng thì mấy cây AK đã chỉa vô đầu Vinh, có lẽ vì cãm phục tinh thần anh dũng của người lính Nhảy Dù này mà chúng không giết để trả thù cho đồng bọn, chỉ bắt sống. Nhờ lòng quả cãm của người xạ thủ đại liên này mà một slick duy nhất 4 chiếc trực thăng đã bốc được Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn 11, Sĩ quan liên lạc pháo binh, và cố vấn Duffy, nhưng Đại Úy Đoàn Phương Hải ,Trưởng ban 3 (hiện ở San Jose) thì bị một viên đạn AK bắn xuyên bàn chân từ dưới đất lên, rớt xuống máy bay, may nhờ Thiếu Tá Duffy gan dạ quay trực thăng trở lại kéo lên.

    Đạn hai bên vẫn nổ tới tấp, thêm một cặp Cobra và slick trực thăng khác vào vùng bay vòng vòng trên trời. Việt cộng chỉ bất ngờ đi phục kích nên không đem theo phòng không cho nên trực thăng của Mỷ mới hoạt động được nhưng chỉ bốc chứ không dám bắn vì sợ trúng quân bạn. Chiến trường lần lần bớt đi tiếng súng, nhưng tiếng kêu hàng vẫn còn nghe văng vẳng, tiếng trực thăng vẫn còn nghe vần vũ trên đầu. Lúc này tôi đang sát dưới bờ suối với ba bốn người lính nhìn lên khá rỏ nên bảo họ chạy theo tôi ra bãi may ra trực thăng thấy được rỏ đồ rằn ri so với đồ vàng bụi đất của Việt cộng mà bốc chúng tôi lên. Những người lính nghe theo tôi chạy lên triền đồi, đang chạy, tôi thấy một chiếc Cobra bay phía bên trái ngược hướng tôi chạy lên, chừng quay lại phía sau thấy nó vòng lại nghiêng cánh, kinh nghiệm chiến trường đã cứu tôi thoát chết, Cobra mà nghiêng cánh về phía nào là nó bắn rocket về phía ấy, chắc là trực thăng nó thấy Việt cộng rượt theo chúng tôi nên bắn, tôi chỉ kịp hô:

    – Dạt ra một bên, trực thắng bắn.

    Tôi vừa nhào đại qua một bên thì một tiếng rocket nổ như trời giáng cách tôi cở vài mét không còn nhớ rỏ phía bên nào, tôi thấy mình văng lên rồi rớt lăn trở xuống triền đồi, cây súng colt 45 cầm trên tay văng đâu mất, cái địa bàn đeo trên cổ và tấm bản đồ nhờ bỏ trong áo nên còn lại, may mắn tôi chỉ bị chấn động nhẹ, nhưng không hiểu những người kia có sao không. Tôi đứng dậy chạy ngược xuống bờ suối thì gặp một tốp Dù, trong đó có Chuẩn úy Linh đang chạy theo bên bờ suối về hướng Bắc, thấy tôi họ mừng lắm, cả tôi cũng thế, chưa kịp hỏi thì tiếng súng đuổi theo cũng nghe kế bên, lẫn tiếng kêu đầu hàng, tôi chỉ hướng chạy qua bên kia bờ suối, vừa vượt qua bờ suối thì một người chạy sau bị bắn rớt xuống suối, tôi thúc anh em chạy tiếp, chạy khoảng 50 mét không nghe tiếng rượt theo, chúng tôi dừng lại để thở. Tôi nói vội với anh em:

    – Tuyệt đối không đầu hàng, đi theo tôi, nếu người nào bị bắn mà bị thương, kể cả tôi, thì phải bỏ lại, chạy thoát thân, chứ không được đầu hàng. Mọi người tuân lệnh. Vừa đi tôi vừa xem bản đồ. Võ Định cách khoảng 8 cây số, chỉ băng theo hướng đông bắc là đến nhưng thế nào cũng gặp Việt cộng, tụi nó dứt Charlie rồi tất phải đánh phi trường Phượng Hoàng, vô đó là lãnh đủ (về sau đúng như vậy vì bọn chúng đang điều quân đánh căn cứ Võ Định). Cho nên tôi quyết định đi thẳng lên hướng bắc khoảng một cây số đánh lạc hướng địch, rồi vòng lại hướng đông nam ra Diên Bình, cách đó khoảng mười mấy cây số. Vừa đói, vừa mệt, 10 người mà chỉ còn có 3 cây M16, mổi cây chỉ có một băng đạn, không biết lúc đụng trận nửa thì thế nào, tôi lại nhớ đến Hạnh, người đệ tử nhỏ con nhưng rất tháo vát, lên hạ sĩ thường được ở lại pháo đội học bắn, nhưng không hiểu khoái tôi cái nổi gì đòi theo tôi đi đề lô cho khổ tấm thân, bây giờ không biết ra sao. Đi gần nửa ngày, đồi cao cả ngàn mét, đói lã người, nửa tháng nay không đêm nào ngủ được vài tiếng. Bổng người đi đầu giơ tay ra hiệu dừng lại, khu rừng tre trước mặt có tiếng động, quan sát một hồi thấy được một toán Dù thất lạc, chúng tôi ra thủ hiệu nhận diện rồi nhập chung, tới chiều thì gặp thêm một toán nửa, thêm hai Chuẩn úy và mấy Hạ sĩ quan. Quân số bây giờ là 26 người với 10 cây M16, có vài người bị thương nhẹ nơi chân và tay, mọi người đều đói quá, không ai còn miếng gạo sấy nào, chỉ còn một lon thịt ba lát, anh em khui ra đưa cho tôi, tôi cắn một miếng rồi trả lại nói mặn quá, cả tuần nay chẳng nuốt gì được để từ từ rồi ăn. Biết được Chuẩn Úy Linh lớn tuổi và thâm niên hơn hai Chuẩn úy kia nên tôi kêu Linh riêng ra và nói:

    – Lính của anh, anh dể chỉ huy hơn, còn tôi thì dẫn đường ra thôi.

    Chuẫn Úy Linh trả lời:

    – Trung Úy lớn nhất ở đây, chỉ huy, dẫn đi dâu chúng tôi theo lệnh Trung úy.

    Tôi trở lại nói với anh em:

    – Như vậy tôi ra lệnh, nếu gặp địch đông thì bỏ chạy, nếu địch ít thì đánh, ai bị thương kể cả tôi cũng phải bỏ lại, tuyệt đối không được đầu hàng, tôi có niềm tin tôn giáo, Đức Mẹ sẻ che chở chúng ta. Tôi động viên như thế và mọi người tuân lệnh. Tôi cho tất cả mọi người còn vũ khí đi đầu, ba Chuẩn Úy chia ra xen kẻ, còn lại không có vũ khí thì đi sau. Tôi cũng dặn dò kỷ hướng ra Quốc lộ 14, trên đường sẻ gặp những gì trên bản đồ. Nếu có thất lạc vì đụng trận thì theo hướng đó mà ra. Không phải tôi sợ anh em đụng trận, tôi chỉ muốn làm tròn bổn phận người anh, lỡ tôi có bề gì thì biết đường ra cho sớm, trể một ngày là có thể chết vì đói.

    Tối đó, tôi dặn Chuẩn Úy Linh cắt gác xong chia nhau đi ngủ. Sau một đêm nghỉ thật ngon kể từ nửa tháng nay, tôi đánh thức mọi người dậy thật sớm để leo núi đở mệt hơn. Đến trưa, theo bản đồ chúng tôi đến một làng Thượng đã bỏ hoang, không có gì để ăn, chỉ có một cây xoài thật cao toàn trái xanh, đói gần chết mà chơi thứ này vô còn tịch sớm hơn nửa. Một người lính bổng thấy một cây điều rừng trong bụi cây trước mặt, có rất ít trái nhỏ màu vàng cở ngón tay, tôi nói để tôi thử coi, bứt một trái không dám đưa hẳn vào trong miệng để nhai, tôi nhây nhây ngoài răng cửa, hơi có vị ngọt chát, tới chừng nuốt vô vừa đến cuống họng thì nghe thật rát, tôi vội vàng nhổ ra, nguyên cổ họng tôi bị ngứa tàn bạo, và một chốc sau thì đôi môi bị sưng lên, tránh võ dưa gặp vỏ dừa, may mà không nuốt vô, nếu không dám toi mạng lắm. Chúng tôi tiếp tục đi một lúc thì lên một ngọn đồi dài mà đỉnh của nó thật bằng phẳng như ai đã san bằng. Ngọn đồi rất đẹp, cây cối rậm rạp, chúng tôi dừng lại ngồi nghỉ thì nghe tiếng trực thăng bay từng đoàn về hướng Nam, có lẽ trực thăng đổ quân, tôi cho anh em rút xuống triền đồi bên này, sợ trực thăng dọn bải hay pháo binh bắn ghép bải lở trúng thì xui tận mạng. Thật đúng như phép lạ, trực thăng dọn bải phía bên kia đồi, đạn bạn vút qua trên đỉnh mà chúng tôi vừa rút xuống. Hú hồn. Sau đó nghe tiếng trực thăng đáp xuống. Đúng là đổ quân nhưng không biết đơn vị nào đây (sau này tôi biết được Tiểu đoàn 9 Dù đổ quân). Sợ ngộ nhận, tôi quyết định đi tiếp, đến gần chiều thì dừng quân nghỉ đêm. Đôi môi tôi giờ này sưng vù lên và thâm đen phía ngoài, còn trong cổ thì ngứa vô cùng, chỉ muốn đưa cả nguyên bàn tay vào miệng mà cào cho đã ngứa, không biết tôi có ra kịp quốc lộ không, nếu bỏ mạng lãng xẹt như thế này vì ăn bậy thì đau quá. Trong lúc dừng quân, chúng tôi kiếm được đâu đó ít rau tàu bay, luộc lên với nước suối cầm hơi. Đêm đó nhìn lên bản đồ, tôi còn cách sông PôKô độ 2 cây số nửa, qua sông này được thì chiều tối đến xã Diên Bình. Nhưng con sông rộng và nước chảy thật xiết như thế và người nào cũng đuối sức hết thì làm sao mà qua đây. Trưa hôm sau, chúng tôi đến sông PôKô đúng y tọa độ. Tôi cho mọi người ngồi nghỉ trong các lùm cây trên bờ. Ngay lúc đó, một chiến trực thăng từ hướng quốc lộ 14 bay thẳng vô núi, chúng tôi chạy ra bờ sông cởi áo giơ tay vẩy vẩy. Từ xa trực thăng thấy được nhưng không dám bay lại gần, nó chỉ bay vòng vòng quan sát chúng tôi một hồi rồi xong cũng giơ tay vẫy vẫy rồi bay luôn. Tôi nghỉ trong bụng, chắc là trực thăng đi kiếm chúng tôi, thấy chúng tôi gần ra đến nơi rồi nên bay vào tìm những người còn kẹt lại trong sâu hơn, nhưng thế nào cũng báo về Lữ đoàn để báo cho đồn Địa Phương Quân Diên Bình biết đừng bắn lầm. Tôi xem lại bản đồ, đây là đầu một cái ấp, thế nào họ cũng có ghe để qua sông, tôi cho người đi dọc bờ sông khoảng một trăm mét thì thấy có một cái ghe nhỏ và một người đã tình nguyện bơi qua bên kia bờ lấy ghe, rồi lần lượt đưa chúng tôi qua sông. Có lẽ bề trên đã an bài, một cái ấp bỏ hoang như thế này lại có một chiếc ghe của ai đó bỏ lại để đưa chúng tôi qua sông, như một phép lạ. Mọi người đều kiệt sức nên tôi quyết định cho anh em đi ngang qua rẩy dân và cố tình nói chuyện lớn tiếng, để nếu có lính nghỉa quân ở đây thì nhận ra giọng miền Nam chứ không phải giọng Bắc con cháu giặc hồ mà không bắn lầm, đồng thời cũng vớt vát chút đỉnh củ khoai trái bắp gì đó trên đường đi. Đây là một quyết định có lẽ lạ đời nhất và phản chiến thuật nhất của một sĩ quan. Cứ như vậy mà đi, có lúc những người lính còn ca lên mấy câu vọng cổ hoặc mấy bài hát của miền Nam nửa, chẳng có gì ăn trên đường qua rẩy vì rẩy cũng bị bỏ hoang lâu rồi, thì lót lòng bằng tiếng ca ngọt ngào hương lúa miền Nam quê hương vậy.

    Chúng tôi từ địa ngục trở về đâu có còn ngán cái địa ngục nào nửa đâu, ba cái thằng du kích xã dám xuất hiện ngăn chúng tôi sao? Tôi lấy cái lý của kẻ lỳ cho anh em tự do ca hát nói chuyện cho đến khi gần đến Xã Diên Bình thì dừng lại. Sợ mò vào ban đêm bị vướng mìn tự động hay lựu đạn gài nên tôi cho dàn quân lại phòng thủ ngủ đến sáng mới vô, và dặn dò hết sức cẩn thận, không chết dưới chục ngàn quả đạn pháo mà chết vì đạp mìn Địa Phương Quân thì lảng xẹt. Tôi vừa đi một vòng kiểm soát lại mọi người thì Chuẩn Úy Linh tiến lại nói có hai thằng mò vào liên lạc được bên trong rồi, họ mở cổng cho mình vào. Tôi nói tào thiệt, sau đó tôi đi vào đồn chào vị Đại Úy Tiểu đoàn trưởng Địa Phương Quân và trình bày lý do, viên Đại Úy nói hồi chiều tôi đã được biết trước anh em sẻ về đúng nơi đây đêm nay, nên đã chuẩn bị các thứ để giúp anh em Nhảy Dù. Tôi mượn máy liên lạc với Tiểu đoàn 1 Pháo Binh Dù và nhờ chuyển qua báo cho Tiểu đoàn 11 biết chúng tôi đã ra đến nơi, xong nói tôi có một số người bị thương, xin Đại Úy săn sóc dùm, viên Đại Úy cho người dẫn anh em bị thương lại một tu viện gần đó, tôi đi theo. Những vết thương được các seour rửa ráy hết sức cẫn thận, dòi con nào con nấy to bằng đầu đủa bò ra từ trong tủy xương tay mà anh em không cãm thấy đau đớn chi cả, có những nổi đau còn lớn hơn trong lòng mọi người và không ai dám nói ra vào lúc này vì nói ra chúng tôi sẻ khóc. Giọt lệ anh hùng phải rơi đúng lúc và đúng chổ. Các soeur cũng cho tôi vài viên thuốc gì đó uống cho khỏi làm độc, tôi cám ơn rồi về gọi Chuẩn Úy Linh đến để giao lại nhiệm vụ chỉ huy anh em. Viên Đại Úy hỏi tôi muốn ăn gì, tôi chỉ xin một tô cháo, và một chổ nằm.

    Trong lúc chờ đợi, tôi bước ra khỏi hầm, bước lên cầu Diên Bình nhìn về dẫy Trường Sơn âm u phía Tây, ánh hỏa châu lung linh trong đêm tối như canh giấc nghìn thu cho đồng đội tôi đời đời an nghỉ, hay còn tiếp tục đâu đó cuộc chơi tốn nhiều xương máu vì hai chử tự do, những người đi không về đêm nay, có Hạnh, có Sơn, có Khánh hình như đang bay theo những đốm lửa nổ bộp trên không rồi tan vở từ từ thành hình một cánh dù trên đồi máu, tôi thấy mình nắm lấy hai dây thượng thăng, chạy băng xuống đồi, cánh dù từ từ lộng gió lên cao, bên tai tôi còn nghe tiếng kêu khát nước của Cho, tiếng đạn hú rợn người trên non, và tôi đi vào cơn mơ lúc nào không biết…

    Tiểu đoàn 11 Dù, Song Kiếm Trấn Ải Charlie đã để lại nơi đây người anh cả Nguyễn Đình Bảo cùng ba trăm đồng đội , và Tiểu đoàn về được tới Võ Định trước sau chỉ có mấy chục người, chưa được một Đại đội. Sau Hiệp định Paris, Đại Úy Hùng mập, Đại đội trưởng 113 được trao trả. Xạ thủ đại liên Nguyễn Tấn Vinh dọc đường dẫn ra Bắc, nhiều lần bọn cán binh Việt cộng đòi giết để trả thù cho đồng bọn nhưng cấp chỉ huy của chúng không cho vì nhu cầu trao trả, anh hiện ở tại Houston. Người đệ tử tôi, Hạ sĩ Hạnh và nhiều anh em khác thì nằm lại tại một trại tù binh nào đó tại vùng Thượng du Bắc Việt vì bị sốt rét và đói khát. Trung úy Lạc giải ngủ sau trận này, không chết, nhưng vết thương trên đầu khi thở ra hít vào thì da đầu cũng phập phồng theo trông rất ghê, nên lúc nào cũng phải đội nón bảo hộ. Đại Úy Hùng móm và Chuẩn Úy Trưng đề lô bị bắt sống nhưng đã trốn thoát được sau đó, và chỉ vài tháng sau thì Đại Úy Hùng móm đã nằm xuống trên đường tái chiếm Cổ Thành Quãng Trị, chỉ cách ngôi nhà củ của mình có 100 mét. Sau trận Charlie, tôi được Thiếu Tá Mễ chạy cho một cái Nhành Dương Liễu, đợi mãi không thấy, hỏi lại thì được biết Bộ Tổng Tham Mưu cúp hết huy chương của Quân Khu 2 sau trận này.

    Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù đã đánh hai trận lẫy lừng nhất trong quân sử Việt Nam Cộng Hòa, Trận Charlie lãnh cở 10,000 quã đạn đại bác đủ loại trên một căn cứ nhỏ xíu, chưa có trận nào mà một đơn vị của quân đội ta bị pháo khủng khiếp đến như thế. Tiểu đoàn 11 Dù bị mất hơn 4 đại đội, nhưng đã tiêu diệt được ít nhất cũng một Trung đoàn cộng quân của Sư đoàn 320 quả đấm thép, một đổi bốn. Sau chỉ một tháng bổ xung quân số rồi ra tái chiếm Quãng Trị, chỉ trong một đêm đến sáng của một ngày tháng 6 năm 1972, Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù và đề lô pháo binh đã bắn cháy 26 xe tăng địch, đánh tan cả một trung đoàn cộng sản Bắc Việt gần bờ sông Mỹ Chánh, khiến viên Trung đoàn trưởng này bị cấp trên của chúng xử tử. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã bay ra tưởng thưởng chiến công lẫy lừng này của Tiểu đoàn Song Kiếm Trấn Ải 11 Dù. Có lẽ quân sử thế giới cũng chưa có một đơn vị nào lập được một kỳ công thần kỳ như thế trong không đầy 24 tiếng đồng hồ, và cũng chính nhờ Tiểu đoàn 11 đã dùng hỏa tiển TOW bắn cháy một xe tăng T54 của địch định khóa đuôi Đại đội 1 Trinh Sát Dù của Thiếu Tá Dũng, Đại đội trưởng, mà tôi đã thoát chết được khi đi đề lô cho Đại đội này ngay sát bờ Nam sông Mỹ Chánh, Hải Lăng, Quãng Trị cuối tháng 6 năm 1972.

  14. Tôi đọc hết bài bàn tay nắm chặt mà tim thì đập mạnh, hồi hộp quá.Đến đoạn cuối mới thở phào nhẹ nhõm.Văn viết thật giản dị xong đọc thấy nó hào hùng và cuón hút làm sao!! Cảm ơn tác giả và đúng là chiến sĩ quả cảm. Này mấy thằng cộng sản khốn nạn, chúng mày hãy cúi đầu đọc những giòng chữ trên đây rồi tự vấn lương tâm xem bọn bắc cộng chúng mày có ai chiến đấu hào hùng như Tiểu Đoàn 11 Dù để bảo vệ cho tự do không. Thật đau đớn cho Tổ Quốc Việt Nam vì nghiệp chướng chúng tao phải thua bọn cẩu tặc chúng mày.

  15. đọc bài viết hay thật,có lẽ còn rất nhiều chuyện mà mình không biết hoặc bị ém nhẹm.Tôi rất thích tìm hiểu những điều như thế.cảm ơn các bạn

  16. thật là bọn phản cách mạng.chúng mày vì k thắng nổi Đảng Cộng Sản Vĩ Đại của nhân dân Việt Nam nên bày trò xuyên tạc nhà văn cách mạng ưu tú của Đảng tao,ném đá sau lưng Đảng và nhà nước tao chứ gì?nhưng mà chúng mày lầm rồi.Nhân dân Việt Nam anh hùng luôn tin tưởng vào Đảng vào con đường cách mạng đúng đắn của Đảng.tin yêu vào nền cộng hòa hiện nay.chúng mày nhất định thất bại mà thôi.bọn man di mọi rợ sống trong đường cống ak.haha.nếu chúng mày xóa cm của tao thi càng chứng tỏ sự hèn kém và chó đểu của chúng mày mà thôi.kaka

    • Ê thằng “con người của đẻng” kia. Gì chứ cái màn bịt miệng thì bọn chủ mày là sư tổ, mày sủa rằng ai khóa mõm mày là hèn kém coi chừng bọn chủ (chứa) của mày nó chạm nọc, nó xích cổ mày lại rồi đập cho mày vỡ mõm thì tao không can đâu. Cái vở kịch diễu dở cách mạng của chúng mày hạ màn từ khuya, giờ này mà còn nói toàn dân tin tưởng vào cái đảng thổ tả của mày thì tao e rằng cái bọn nuôi mày để sủa mỗi ngày nó cũng phải đá đít mày gấp.
      Ở đây chẳng thèm xóa bài mày đâu, chỉ có điều là mỗi lần mày mở mõm, sẽ có người nhét đủ thứ vào mõm chúng mày.

  17. Hoan hô Con người của Đảng! Tôi hoàn toàn đồng ý với đồng chí!
    Này bọn phản cách mạng, chúng bay nên nhớ: từ thuở còn thơ, tao đã đc nghe bà kể về những áp bức bất côg dưới ách cai trị của chúng bay. Người Việt lúc đó nhận thức quá kém để biết đứng lên chống lại bọn mày! Thế rồi Bác ra đi tìm đường cứu nước, lập ra Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đảng đã cho tao lẽ sống, niềm tin giữa biển khơi rộng lớn! Đảng như ngôi sao sáng, lấp lánh giữa trời đêm tối đen vẫn một màu sáng trong. Đảng đã mang lại mùa xuân đẹp nhất cho đất nước từ xưa đến nay. Sau mấy chục năm, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đất nước ta đã đổi mới theo hướng tích cực rất nhiều, thử hỏi khi dưới ách thống trị chúng mày, nhân dân Việt Nam có được như bây giờ không?! Còn chúng mày, loại ngồi lê đối mách, mag kiến thức trẻ con ra mà nhận xét sự vĩ đại của Đảng! Làm người phải lấy chữ Nghĩa làm trọng. Chúng mày sinh ra trên đất nước Việt Nam, lại đi nói xuyên tạc, thực chất là làm phản! Thật là bất nghĩa với Tổ Quốc, bất nhân với nhân dân, bất hiếu với tổ tông cha mẹ! Làm người mà bất nghĩa, bất nhân, bất hiếu như thế thì còn sống làm gì! Tổ tiên chúng mày sẽ thấy nhục nhã vì có những hậu duệ thối nát như bọn bay!
    Nếu xóa cmt này, chúng mày sẽ càng chứng tỏ sự hèn nhát thôi! Ha ha!

    • @Đảng csvn khốn nạn muôn năm: Còn tội nào nữa, kể nghe chơi, thằng mất dậy!

    • Các bố ơi. Thằng này nó đang chửi cả lò thằng hổ chó ghẻ đấy chứ. Toàn là các tội mà thằng hồ chó ghẻ nhà nó phạm phải cả đấy.

      Posted by 123.20.36.75 via http://webwarper.net, created by AlgART: http://algart.net/
      This is added while posting a message to avoid misusing the service

  18. thật không hiểu nổi, bọn “Đ vĩ đại” tha hồ viết cmt vừa chửi vừa nói láo tuyên truyền mà vẫn được đăng, còn những nơi tự hào vỗ ngực “tự do ngôn luận, tự do báo chí, công bằng, nhân nghĩa …” lại “sáng suốt” (không hèn nhát) ngăn chặn, xóa không đăng, bỏ tù hết những người có ý khiến khác chúng. Có lẽ nhờ “sáng suốt” như vậy nên chúng mới tồn tại tới giờ này, và sẽ còn tồn tại đến khi bọn quan thầy Tầu công nuốt chúng.

  19. Kính Hoàng Lão Công-Tử,

    Kính xin Hoàng Lão Công-Tử cho tôi được gởi bài này.

    70 Năm Trước, Kìa Bóng Ác Quỷ!

    Tháng Ba,tháng Tư…lại trở về nhắc cho gã nhớ đến một người đã làm cho gã phải đau đớn rời bỏ quê hương.Người đó chính thực là con ác quỷ đã làm cho dân tộc Việt triền miên sống trong đọa đầy và đói khổ.Gã nhớ lại…

    Ngày đầu xuân đang vui,gã đọc được một bài làm cho gã không vui chút nào.Văn Cần,một trong những “nhà báo lề phải” đã viết không đúng sự thật.Nghĩ vậy nên gã đã dựa theo những gì Văn Cần viết và viết lại cho đúng.

    Sau 30 năm bôn ba làm bồi trên tàu và lăng xăng xuôi ngược ở nước ngoài, mùa xuân 1941,hắn trở về Tổ quốc và trực tiếp chỉ huy một lũ côn đồ để dần dần đem nước Việt Nam dâng cho Trung Quốc. 70 năm đã trôi qua, nhưng những sự kiện quan trọng trong những năm tháng ấy như vẫn còn nóng hổi trong tâm khảm của gã và của bao thế hệ con cháu Lạc Hồng…
    Ngày 8/2/1941,hắn cùng một số lâu la đã về đến cột mốc 108 trên biên giới Việt Trung. Bước qua đường biên, đặt bước chân đầu tiên lên mảnh đất Tổ quốc,hắn đóng tuồng theo kiểu Tàu bằng cách bốc một nắm đất đưa lên hôn trước mặt đám lâu la để tỏ ra cho đám lâu la thấy là hắn,tuy mang trái tim của loài quỷ nhưng trong con người của hắn cũng có niềm xúc động sâu sắc. Thật là, “Ba mươi năm ấy tay không nghỉ/ Mà đến bây giờ mới rảnh tay.” Khi xuống tàu, rời cảng Nhà Rồng đi làm bồi,hắn còn rất trẻ – mới 21 tuổi – còn bây giờ, mái tóc đã điểm sương, đôi vai gầy trĩu nặng bao toan tính làm sao cho nước Việt sớm trở nên một tỉnh,bang,của nước Đại Hán phương Bắc.
    Buổi đầu về nước,hắn và đám lâu la cốt cán đã chọn cái hang: “Miệng-Nguồn-Của-Tội- Ác” thuộc xã Trường-Hà, huyện Hà-Quảng,tỉnh Cao-Bằng làm hang ổ. Hang “Miệng- Nguồn-Của-Tội-Ác” tại làng này trở thành nơi gây bao tội ác cho đồng bào nghèo với những trò khủng bố và giết hại. Cuộc sống của hắn nơi đây hết sức sung sướng không thiếu bất cứ một thứ gì vì hắn và đám lâu la luôn tuân hành những chỉ thị của nước Đại Hán. Vừa chỉ đạo đám lâu la,hắn vừa đạo văn đạo thơ để viết ra những bài cổ vũ nhân dân tham gia với hắn trở về với nước Đại Hán. Cuộc sống sa đoạ được đám lâu la mô tả với nhãn quan của một tay dân chơi biết coi khinh ánh sáng phố thị và mong ánh sáng đó sẽ soi ý chí và niềm tin thắng lợi sẽ có ngày toàn dân nước Việt nói một ngôn ngữ là tiếng Trung Hoa.Cuộc sống của hắn thường ngày thì:

    Sáng ra bờ suối, tối vào hang
    Cháu gái trẻ măng luôn sẵn sàng
    Bàn đá chông chênh hắn làm đại
    Cuộc đời của hắn thật là hoang.

    “Sử Đảng:Cái-Đầu-Lâu” hắn nhờ bộ hạ viết chính là cuốn Lịch sử Đảng Cái-Đầu-Lâu của Liên Xô, được bộ hạ dịch ra tiếng Việt để dùng làm tài liệu học tập cho đám lâu la. Trong thời gian ở trong hang: “Miệng-Nguồn-Của-Tội-Ác”,hắn đạo văn để viết một số tác phẩm về đấu tố,cướp của mà không cần vũ trang, trong đó có cuốn “Cách-đánh- những-người-chống-lại-tổ-chức” bằng hình thức tổng kết kinh nghiệm khủng bố của Nga.Tập sách gồm 13 chương,dễ hiểu và dễ nhớ.Hắn đạo văn để viết ra tác phẩm này làm tài liệu tuyên truyền kiến thức khủng bố để đám lâu la học tập, vận dụng trong cuộc đấu tố tranh quyền đánh đuổi các đảng phái Quốc gia.
    Ngày 10/5/1941, thay mặt các đảng cướp Quốc tế,hắn triệu tập và chủ trì hội nghị: “Cứu Cánh Biện Minh Cho Phương Tiện” lần thứ 8 tại rừng Khuổi-Nậm thuộc xã Trường-Hà. Trong hội nghị này,hắn đã xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc khỏi nguồn cội là nhiệm vụ bức thiết của hắn để sớm thống nhất với Trung Hoa.
    Tiếp đó, theo chỉ đạo của hắn, Hội-Việt-Nam-Thuộc-Trung-Hoa đã được thành lập ngày 19/5/1941. Để cho Hội-Việt-Nam-Thuộc-Trung-Hoa phát triển rộng rãi trong nhân dân, hắn đã viết diễn ca giới thiệu “Mười chính sách để thống nhất” cùng các bài thơ của tên thơ nô Tố Hữu vận động nông dân, phụ nữ, thiếu nhi, công nhân, binh lính tham gia các Hội-Việt-Nam-Thuộc-Trung-Hoa.
    Ngày 1/8/1941,hắn cho ấn hành báo “Việt-Nam độc-lập”. Dù không bận công việc gì trọng đại, nhưng hắn đã nhờ đám lâu la một phần lớn viết bài và trực tiếp làm công tác biên tập của tờ báo này.
    Việt-Nam độc-lập thổi kèn loa
    Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già
    Đoàn kết vững bền như khối sắt
    Để cùng nhau thành một nước Trung Hoa.

    Bài thơ trên được đặt dưới bức tranh cổ động cho báo cũng để làm biểu tượng của báo Việt-Nam độc-lập.
    Cũng trong năm 1941,hắn đã nhờ tên thơ nô Tố Hữu viết diễn ca “Lịch sử nước ta” bằng thơ lục bát. Diễn ca này nhanh chóng được truyền miệng ở nhiều nơi và được rất nhiều người thuộc lòng; đến năm 1942, được xuất bản thành sách và trở thành một tài liệu tuyên truyền hết sức hiệu quả. Diễn ca kết thúc bằng những câu thơ nói về nhiệm vụ trước mắt của toàn dân tộc:
    Chúng ta có Hội-Việt-Nam-Thuộc-Trung-Hoa
    Đủ tài lãnh đạo dân mình đấu tranh
    Mai sau sự nghiệp hoàn thành
    Rõ tên Trung Quốc, rạng danh Minh,Đường
    Dân ta xin nhớ chữ đồng
    Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.

    Sau 70 năm kể từ sớm xuân 1941 thiêng liêng ấy, hôm nay ôn lại,gã càng thêm kinh hoàng về cái gọi là thiên tài, trí tuệ đỉnh cao và sự quyết đoán nông nỗi của hắn trong một thời khắc có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp tôi mọi để từ đó quê hương Việt Nam luôn lầm than đi từ chia rẽ này đến phân chia khác bằng một cuộc chiến tranh xâm lăng miền Nam mong giành được lãnh thổ cho hai tiếng Trung Hoa được lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu./.
    Topa

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: