• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Bữa Tiệc Gia Hình

Bữa Tiệc Gia Hình đau Nó kẹp
Cung Cầm Tuyệt Vọng tội Em đàn.

Tháng Mười 2009, tôi buồn quá đỗi. Có nhiều chuyện cần viết về Đất Nước tôi mà tôi chưa viết được. Ôi người bạn ở chín phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca, tôi mời bạn đọc cho đỡ buồn bài văn nghệ-văn gừng này.

Rằng: “Hoa nô đủ mọi tài,
“Bản đàn giạo thử một bài chàng nghe …”

Lời Hoạn Thư giới thiệu Hoa Nô với Thúc Kỳ Tâm, anh chồng sợ vợ của Thị, trong Bữa Tiệc Gia Hình Thị tổ chức ở thành Vô Tích năm Gia Tĩnh triều Minh để tra tấn anh chồng và tình địch của Thị. Nhưng cái mà Hoạn Thư gọi là “đủ mọi tài” đây chỉ mới là bốn cái tài Cầm, Kỳ, Thi, Họa lục lục thường tài, bốn cái tài ta thường gọi là “bốn món ăn chơi”. Bốn cái tài đó của Hoa Nô thì, khỏi cần ai giới thiệu, Thúc Kỳ Tâm đã biết từ khuya. Công tử Chạp Phô còn biết cả cái tài thần sầu, quỷ khốc, nhân kinh của Hoa Nô mà chị vợ ghen tầm bậy, tầm bạ của chàng không biết . Đó là cái tài “làm tình” tuyệt diệu của người bị gọi là Hoa Nô.

Ngán Nó lòng gang mà miệng thép
Thương Em ngọc diệp chịu phong trần
Bữa tiệc gia hình đau Nó kẹp
Cung cầm tuyệt vọng tội Em đàn ..

Kieu danThan ôi… Như Jean Genet từng than trong Kịch Le Balcon: “Đời chỉ là kịch mà thôi ..” Tính chất Kịch của cuộc đời thể hiện rõ và đậm nét trong đoạn Thúc Sinh từ Lâm Tri về Vô Tích gập Hoạn Thư và Thúy Kiều. Cả ba nhân vật đều đóng kịch và biết nhau đóng kịch. Họ biết đối tượng của họ biết họ đóng kịch nhưng họ vẫn cứ đóng kịch. Hoạn Thư vờ như không biết Hoa Nô là vợ bé của anh chồng của Thị, Thúc Kỳ Tâm vờ như chưa từng gập, chưa từng yêu mê, chưa từng một lần ôm ấp, hôn hít Hoa Nô, Hoa Nô vờ như nàng chưa bao giờ là vợ bé, vợ bao của cậu chủ sợ vợ ngồi rúm ró bên cạnh Sư Tử Hà Đông thứ thiệt, thứ Sư Tử Hà Đông hung hãn này ở bên Tầu, hổng phải là ở tỉnh Hà Đông hiền hoà có dòng Nhuệ Giang nằm ngay cạnh thủ đô Hà Nội ngày xưa .

Bộ ba cùng chơi Kịch nhưng hoàn cảnh của họ không giống nhau. Hoạn Thư chủ động trong vở kịch, Thúy Kiều và Thúc Sinh bắt buộc phải đóng kịch. Hoạn Thư chủ động vì Thị bầy ra màn kịch, Thị bắt hai người kia phải khóc mà chơi kịch với Thị. Hoạn Thư là tác giả kịch bản, kiêm đạo diễn, kiêm diễn viên, kiêm luôn khán giả. Thúy Kiều, Thúc Sinh đóng kịch, họ giả vờ không quen biết nhau nhưng niềm đau đứt ruột của họ là thật, họ không giả vờ đau khổ. Tôi thấy cái gọi là “niềm vui” trong cuộc trả thù của Hoạn Thư có vấn đề cần phải xét lại.

Tiểu thư nhìn mặt , dường đà cam tâm.
Lòng riêng tấp tểnh mừng thầm:
“Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay ..”

Ta ghen là vì ta thấy người ta yêu yêu đưá khác hơn yêu ta. Hoạn Thư ghen vì Thị thấy chồng Thị yêu thương, quí báu Thúy Kiều Dzợ Bé hơn yêu thương, quí báu Thị. Thị ghen cũng phải thôi. “Rằng tôi chút phận đàn bà. Ghen tuông thì cũng người ta thưòng tình”. Mèn ơi.. Trên cái cõi đời này chẳng phải chỉ đàn bà mới ghen. Đàn ông cũng nhiều trự ghen thấy mồ đi. Nhưng Hoạn Thư ghen vì chồng yêu thương Thúy Kiều mà Thị lại làm cho chồng Thị yêu thương Thúy Kiều hơn nữa! Thị thấy tận mắt chồng Thị khóc ròng, mếu máo vì thương Dzợ Bé. Trước cảnh đó không biết Thị dzui sướng gì trong lòng? Ta chẳng thấy Hoạn Thư trả thù được ai trong màn kịch này. Thị ghen vì hai đưá chúng nó yêu thương nhau và Thị trả thù chúng bằng cách làm cho chúng yêu thương nhau hơn ?? Làm gì có cách trả thù nào ngớ ngẩn đến như thế ? Nói cách khác: làm như dzậy mà gọi là trả thù là ngớ ngẩn Ghen vì thấy mình kém người. Ghen là thua. Làm gì thì làm người đã phải ghen không bao giờ là người thắng trên mặt trận ái tình. Hoạn Thư sung sướng, hả hê nỗi gì khi Thị thấy chồng Thị đau đớn, xót thương Thúy Kiều, tình địch của Thị???

Người vào chung gối loan phòng .. Tội nghiệp Công Tử Chạp Phô Thuyền Trưởng Hai Tầu. Lâm Tri đường bộ tháng chầy .. Đường xá xa sôi cả tháng đi đường ngồi trên yên ngựa ê ẩm đôi mông. Vưà về đến nhà chưa kịp uống ly rượu nào đã bị chị vợ ác nghiệt khện cho một chầu khóc tơi tả còn hơn khóc bà mẹ chết. Hoạn Thư đánh chồng kiểu này là đánh thẳng tay, đánh hết 18 thành công lực, đánh cho hộc máu , đánh cho từ chết tới chết chứ không đánh cho bị thương. Thế rồi chưa hết. Chỉ mới khóc thôi chưa đủ, Thúc Kỳ Tâm đâu đã hết bị chị vợ ghen tra tấn. Sau bữa tiệc gia hình khóc hơn khóc mẹ hiền về quê ấy can phạm còn bị Bà Chánh Án bắt vô giường làm nghĩa vụ công dân. A..! Đây mới đích thực là cực hình cùng hung cực ác. Đàn ông ít khóc hơn đàn bà nhưng đàn ông khi đau lòng đến cái độ phải khóc, không những chỉ khóc suông mà là khóc nức, khóc nở, khóc nghẹn, khóc ngào là bao nhiêu dây thần kinh và gân cốt nhão ra hết. Khi thần kinh và gân cốt đã nhão anh đàn ông chỉ có thể nằm một đống, thở hắt ra, hổng còn có thể mần ăn chi được, hoặc có bắt buộc phải mần ăn thì cũng nhủng nhà, nhủng nhẳng không nên cơm cháo gì. Cái cảnh bầy tiệc rượu để tra tấn nhau, làm cho nhau phải khóc đến vỡ tim để rồi xử dụng quyền làm vợ, bắt nhau dzô chung gối loan phòng của vợ chồng Thúc–Hoạn đêm đó là một thảm cảnh xã hội hơn là ân ái. Bị chị vợ ác ôn chơi cho một chầu khóc hận đến như dzậy, Thúc Kỳ Tâm còn lòng dạ nào mà âu yếm, ái ân với Thị? Trường hợp của vợ chồng họ Thúc Hoạn lúc đó được tả trong câu: “Còn tình đâu nữa , là thù đấy thôi”. Thúc Kỳ Tâm ăn chơi, nhu nhược, yếu sìu cả thể xác lẫn tinh thần. Trong đám đàn ông lúc nhúc, xúm xít quanh chỗ để ngồi của Thúy Kiều, Thúc Kỳ Tâm là người duy nhất khóc ròng như Lưu Bị Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa. Lần thứ nhất Thúc khóc khi Thú “săng phú” lệnh của nghiêm đường, tức ông bố Chủ Tiệm không cho quí tử ăn chơi bốc rời lấy gái chơi làm dzợ bé nhưng Sinh viên Chạp Phô ta cứ lấy , khi thấy Dzợ Bé bị Tri phủ đánh đòn, Thúc khóc rống: “Oan khuất vì ta ..” Những giọt nước mắt thứ nhất này của Thúc báo hiệu một màn các nhà thầy bói mù, bói sáng vẫn gọi là “tiền hung, hậu kiết”: — trước dữ , sau lành — nhờ Thúc khóc rống Tri phủ Lâm Tri mới hỏi nguyên do, do đó biết tài năng, học vấn của Thuý Kiều, đem lòng thương và tự ý đứng ra tác thành cho đôi lứa.

Lần thứ hai Thúc khóc khi từ Vô Tích hí hửng trở về Lâm Tri, yên trí được tái hồi Dzợ Bé thơm như múi mít, tân thú bất như viễn qui, chắc ăn đến miệng nhưng dzô đến cửa thấy “linh sàng , bài vị thờ Nàng ở trên ..” Hỡi ơi Nàng đã chít dzồi. Gập hoàn cảnh này thì đến em nhỏ lên ba, cụ già Chín Bó cũng phải khóc, chẳng cứ gì Công Tử Chạp Phô tưởng bở. Lần thứ ba đương sự khóc trong Bữa Tiệc Gia Hình do Chị Dzợ Khủng Long đạo diễn ở Vô Tích như ta thấy trên đây. Lần thứ tư Thúc khóc khi lẻn dzô Quan Âm Các vườn ta, có cây trăm thước, có hoa bốn mùa, có cổ thụ, có sen hồ, có Ni cô mới quy y thơm như múi mít, để sụt sùi kể nỗi đoạn tràng sáu câu vọng cổ mùi mẫn Anh mất Em dzồi ví Ni cô Trạc Tuyền.

Trong Truyện Thơ Kiều của Tố Như, Thúc Kỳ Tâm chỉ khóc có ba lần. Nhưng trong truyện Kiều Tầu của Thanh Tâm Tài Nhân, Thúc Sinh còn khóc lần thứ tư. Đó là khi Hoạn Thư bị Chánh Áùn Vương Thúy Kiều trong Phiên Toà Ân Oán hạ lênh cho cung nữ lôi cổ ra, lột trần hết xiêm áo rồi treo tóc lên đánh 100 roi.

Đây là đoạn phim ghi cảnh Hoạn Thư bị trừng phạt trong Phiên Toà Ân Oán. Phiên toà này sở dĩ có là vì năm muà lá rụng trước đó Hoạn Thư bầy ra Bữa Tiệc Gia Hình Vô Tích. Nói cách khác Bữa Tiệc Gia Hình là nhân, Phiên Toà Ân Oán là quả:

Truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân. Trích:

Cung nữ dạ ran, túm tóc Hoạn Thư lôi ra, lột hết áo quần, chỉ để cho một cái khố, tóc bị buộc lên xà nhà. Hai cung nữ nắm hai tay Hoạn Thư dăng ra, hai cung nữ khác cầm roi ngựa đứng trưóc mặt và sau lưng Hoạn Thư, một tên đánh từ dưới đánh lên, một tên đánh từ trên đánh xuống. Hoạn Thư như con đỉa bị bỏ trong thùng vôi, như con lươn trong nồi nước nóng, toàn thân chẳng còn mảnh da nào lành lặn …

Sau trận đòn trả oán, Thúc Kỳ Tâm được gọi vào nhận lãnh dzợ, thấy chị dzợ nát hơn cái mền Sakymen — Sàigòn Kỹ Nghệ Mền Len, Xưởng Máy ở chân cầu Bình Triệu — Thúc Kỳ Tâm rơi nước mắt. Cũng phải thôi. Gập cảnh này thì em nhỏ lên ba, cụ già Chín Bó cũng phải khóc. Cứ gì Công Tử Chạp Phô.

Bài học Luân Lý Giáo Khoa Thư ta rút ra được từ sự kiện Hoạn Thư mù quáng vì ghen tuông, cậy thế làm bậy bị trừng phạt đến toàn thân không còn một miếng da năm phân dài, ba phân rộng nào lành lặn cho ta đi đến kết luận: Ở đời ta hổng có nên ghen. Nếu ta chịu hổng nổi mà phải ghen thì ta có làm hại nó ta cũng đừng có hạ độc thủ tàn ác, dã man quá. Ta đánh nó có thể nó hổng chết nhưng khi nó có điều kiện nó đánh lại ta để trả thù, đời ta khốn nạn .

Bèn có thơ vịnh:

HOẠN THƯ

Ở ăn thì nết cũng hay hay,
Nói lời ràng buộc cũng già tay.
Chồng chung không lẽ tôi nhường mợ?
Vợ bé cho nên chị đánh mày.
Khi Em làm chủ Em chơi phũ,
Lúc nó lên Bà nó xé pha.
Khuyển Ưng, Khuyển Phệ đi tù rũ,
Chính phạm sao Toà lại thả ngay!

Phê bình những nhân vật trong Truyện Kiều người ta thường cho Hoạn Thư là tay sắc xảo, thủ đoạn cao, ác độc. Tôi thấy ngoài việc trả thù một cách ngu xuẩn Hoạn Thư còn dại dột ở việc cho Kiều ra giả vờ tu hành ngay ở chùa nhà và dung dưỡng mầm hậu hoạn này đến mấy năm trời. Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu.. Dại dột là bởi vì Thúc Kỳ Tâm sợ vợ và hèn nhát thật nhưng không có gì bảo đảm những anh chồng sợ vợ trên cõi đới này lại không có anh uống thuốc liều làm những trò ly kỳ, ngoạn mục. Tại sao ta lại cứ nhất định Thúc Kỳ Tâm sẽ không bao giờ vùng lên làm cuộc nổi loạn phá bỏ gông cùm của Hoạn Thư để phơi phới ra đi làm lại cuộc đời với Thúy Kiều? Tại sao không? Nếu Thúc Kỳ Tâm làm như thế tức là do chính Hoạn Thư tạo điều kiện.

Bèn có thơ vịnh:

HOẠN THƯ cho Kiều ra ở Chùa .

Mệnh bạc Em xin gửi Cửa Không !
Thôi thì thôi .. Chị cũng chiều lòng .
Sẵn cây trăm thước Chùa ta đó,
Thêm hòn non bộ cậy Em trông .
Này chuông, này khánh, dăm ba mõ,
Chỉ một dùi to đấm cũng xong.
Ai bảo Hoạn khôn, ta bảo dại,
Trứng trao cho ác, áo nuôi ong.
Gái thấy chồng xưa , thèm rỏ rãi,
Trai thương vợ bé, lộn râu rồng.
Tưởng Em kinh kệ lơi là tục,
Hoá Em sớm tối tưởng tơ chồng.
Lộn lèo Bát nhã Em dông tuốt.

Chồng mất, chùa không, chị chổng mông.

Nghe nói từng có vị tiền bối viết về vấn đề pháp luật, pháp lý trong Truyện Kiều. Chưa được đọc qua một bài nào về loại này nên tôi thường théc méc về đôi chuyện liên can đến cái gọi là Pháp Luật trong Truyện Kiều. Như chuyện:

Thứ nhất: Tại chú hoa man dở dói ra. Làm cho bận đến Cụ Viên già .. Thảm kịch đoạn trường đến với Thuý Kiều khi ông Bô Viên ngoại bị Phú-lít ập đến nhà tóm vì có liên can với bọn ăn trộm tơ. Sự kiện này chỉ được tả mơ hồ và vắn tắt trong Kiều bằng hai câu:

Hỏi ra sau mới biết rằng
Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ ..

Vương Viên Ngoại được cho là bị tó oan:

Một nhà hoảng hốt , ngẩn ngơ
Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây …

Trong tiểu thuyết Tầu chuyện Vương Ông bị tó được kể như sau:

… Kim Trọng đi rồi, Thúy Kiều ngồi ngẩn ngơ như người mất hồn. Gần trưa Ông bà Viên ngoại về nhà. Vừa bước chân vào cửa ông già vất vả nói ngay:

— Con ơi.. nguy biến đến nơi rồi. Gần đây bên nhà Dượng con chỉ vì vô ý chứa chấp hai thằng bán tơ , không biết chúng là hai thằng cướp. Khi chúng đem tơ đi bán bị người có của nhận được, bắt giải lên quan Dượng con thành ra chủ nhà oa trữ đồ gian. Cha có uống rượu với chúng mấy bữa, sợ chúng khai ra thì nguy lắm.

Như dzậy ta thấy Vương Ông không phải là bị oan uổng chăm phần chăm, không phải tự dưng, hay không hề quen biết gì ông cả, mà bọn gian phi khai ông là đồng loã của chúng. ïCũng hổng phải tự dưng hai thằng cướp được vào ở dài ngày trong nhà của ông Dượng. Chúng được chủ nhà đãi như thượng khách vì chúng chịu chi. Chúng bỏ tiền ra tổ chức đớp hít, nhậu nhẹt tưng bừng và ông Viên Ngoại đến ăn nhậu boóng. Nếu không vì tham chút rượu thịt chùa đương sự không đến dự những bữa nhậu của bọn lưu manh thì thảm kịch đứt ruột làm sao có thể đến làm tan nát nhà họ Vương?

Bài học Luân Lý Giáo Khoa Thư Lớp Đồng Ấu ta học được trong chuyện Vương Viên Ngoại thân bại, danh liệt vì rượu thịt là:

— Chỉ nên ăn nhậu với các bạn thân quen, chớ nên bừa bịt cứ thấy rượu thịt là nhào dzô đớp văng mạng, hoặc ta phải rất cẩn thận khi ăn nhậu với những người lạ, nhất là khi mình được mời ăn nhậu chùa. Ở hải ngoại nếu đến dự những buổi ăn nhậu chùa để rồi thấy tên mình ghi trong danh sách Mặt Trận Bịp hay chính phủ Bợm nào đó đương sự chỉ bị dư luận đàm tiếu ít lâu. Nhưng nếu ở Thành Hồ mà đến ăn nhậu với những tổ chức bị bọn Công An Cộng sản cho là phản động, phản cách mạng, tuy chỉ đến tham gia ăn nhậu thôi, không tham gia hoạt động, không giữ chức vụ Bộ trưởng, Thiếu tướng chi cả, khi tổ chức bị bọn Công An Thành Hồ phá, đương sự cũng bị tó ở tù mút chỉ cà tha. Những năm 1980 ở Thành Hồ trước khi xuống tầu theo chân Bác đi tìm đường cứu nước những nhóm vượt biên thường tổ chức ăn nhậu tưng bừng để từ biệt quê hương và chuẩn bị ra đi làm lại cuộc đời, thay dzợ, đổi chồng ở phương trời Mẽo Quốc sáng choang đang chờ đợi. Nhiều anh Con Trai Bà Cả Đọi tuy không có “cây” để vượt biên nhưng quen biết với những người vượt biên, được cho đi theo ăn nhậu. Đang ăn nhậu rôm rả dzui như Tết, Công An VC ập vào tó cả bọn, những anh Con Trai Bà Cả Đọi thèm khát rượu thịt tuy không vượt biên, vượt bung chi cả cũng theo nhóm vượt biên dzô Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Lầu Bát Giác Chí Hoà ngồi rù gãi háng ghẻ, ăn cơm hẩm, uống nước Đồng Nai qua dzô-bi-lê nhẹ nhàng và êm ái đến hai ba muà lá rụng ngoài song sắt.

Vương Ông không phải là một ông phó thường dân thuộc loại dân ngu, cu đen , ông từng giữ chức Viên Ngoại Lang trong triều đình quân chủ . Ông ũng từng làm quan như ai, dù ông làm quan chức nhỏ, quan nhỏ cũng là quan. Bọn công sai, tức bọn chuyên làm những việc vặt, ở những phủ huyện, không thể đối xử với vị hưu quan như với phó thường dân. Bọn tri phủ, tri huyện địa phang không thể bắt nạt Vương Viên Ngoại như bắt nạt một ông già nhà quê cả đời chỉ biết cầy sâu, cuốc bẫm, chân lấm, tay bùn, không biết thế nào là hệ thống quan lại và hoàn toàn không có ai là thân hữu trong chính quyền. Về gia tư đương sự được giới thiệu là “thường thưòng bậc trung …”, tức không giâu lắm nhưng cũng không nghèo lõ đít đến nỗi khi gập cơn gia biến cần tiền chạy tội phải bán con gái đi làm nàng hầu, vợ bé phục vụ người thiên hạ. Viên Ngoại hưu quan bổng lộc không còn tất nhiên phải sống bằng những nông sản thu hoạch ở một số vườn ruộng của nhà. Khi cần tiền những nhà gia tư bậc trung thường trước hết bán nữ trang, thứ đến bán ruộng đất, bán nhà. Những nhà không phải là bậc trung, không vàng bạc nữ trang, không ruộng đất, không có qua một thứ gì có thể bán được tiền, những nhà cùng khổ quá đỗi mới phải bán con gái.

Toà nhà của Vương Viên Ngoại được tả theo mắt nhìn của Kim Trọng là thâm nghiêm kín cổng, cao tường và mấy lần cửa đóng, then cài, đầy thềm hoa rụng. Người đọc tưởng đó là nhà do Viên Ngoại làm chủ. Nhưng chỉ sáu tháng sau Chàng Kim muôn dậm phù tang, nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà, ngỡ ngàng và bàng hoàng thấy toà nhà bỏ hoang không ai ở. Chuyện kể trong đoạn này hơi mù mờ. Như vầy là sao? Nhà đó là nhà mướn chứ không phải nhà của Viên Ngoại? Gập cơn gia biến Viên Ngoại không thể chi tiền nhà nên phải dọn đià một nhà khác ít tiền mướn hơn? Nếu là nhà của Viên Ngoại thì khi túng tiền ông chỉ việc bán đắt, bán rẻ toà nhà, lấy tiền mua căn nhà khác nhỏ hơn. Nếu là nhà mướn thì khi Viên Ngoại trả nhà chủ nhà tân trang cho người khác mướn, sao nhà lại bỏ hoang điêu tàn đến như thế?

Khi Mã Giám sinh mua Kiều có làm hôn thư đàng hoàng. Hôn thư ấy ghi Mã mua Kiều về làm vợ bé. Khi đến Lâm Tri bị Tú Bà bắt tiếp khách, tại sao Kiều không nhờ chính quyền và pháp luật bảo vệ? Nàng chỉ cần đến cửa quan kêu oan và yêu cầu quan sở tại đòi Tú Bà phải xuất trình văn tự mua người. Ta thường nghe nói pháp luật quân chủ đời xưa bê bối nhưng tôi không tin Kiều lại hoàn toàn không được bảo vệ nếu nàng tố cáo Tú Bà và Mã Giám sinh trước cửa công.

Nói rằng lúc đó Kiều mới đến Lâm Tri, nàng chỉ có một mình, không nhờ cậy được ai nên không dám tố cáo mụ Chủ Chưá cũng được đi, nhưng khi Thúc Kỳ Tâm tranh chấp nàng với Tú Bà, tại sao ta không thấy Thúc dùng vụ Kiều bị lường gạt để đánh Mụ Tú?

Đây là đoạn Tú Bà phải chịu cho Thúc Sinh chuộc Kiều trong truyện Kiều của Ông Tầu Thanh Tâm Tài Nhân:

— Hôm sau Tú Bà và Mã Giám sinh trở lại. Hoa Dương — người bạn có thế lực của Thúc Sinh đứng ra chủ trì cuộc đàm phán với Tú Bà để chuộc Kiều — mở tiệc rượu linh đình, mời thêm cả mười tay hảo hán trong địa phương đến dự làm chứng nhân. Thúc Sinh lấy 450 lạng bạc đưa cho Tú Bà. Mụ xin thêm. Thúc Sinh chi thêm 50 lạng. Mụ Tú đành phải lấy tờ hôn thư ra d8ửa trả Thúy Kiều, lại chính tay viết tờ thuận ý cho Thúy Kiều hoàn lương, ra khỏi nhà mình một cách hợp pháp, trao cho Thúc Sinh.

Trong tờ hôn thư này Mã Giám sinh mua Thúy Kiều về làm vợ bé, không phải về làm gái điếm. Mụ đưa tờ hôn thư này ra là trên pháp luật, Mụ tự tròng vòng dây thòng lọng vào cổ Mụ. Nếu Thúc Sinh dùng tờ hôn thư đó để đánh Mụ, Mụ chỉ có nước từ chết đến chết.

Théc méc về pháp luật ấy nhỏ thôi. Đây là một trong những théc méc lớn:

Khi Thúc Ông bắt con trai bỏ vợ bé không được, sốt gan đâm đơn kiện con, nhờ pháp luật can thiệp. Đây là đoạn vấn đáp giưã Tri phủ Lâm Tri và Thúc Ông:

Tri phủ:

— Con ông có ăn học đàng hoàng, đã lấy người ta làm vợ, người ta về nhà ông cả năm nay không có lầm lỗi gì nay lại đuổi người ta trở về nhà chưá tiếp khách sao trông cho được. Ông cho bản chức biết vì lý do gì ông buộc chúng phải ly hôn?

Thúc Ông:

— Chuyện này ngài chưa được biết rõ. Bởi vì cha vợ của con tôi là vị Lại Bộ Thiên quan, vợ cả của con tôi đương thời xuân xanh, niên thiếu sợ nó sẽ không dong cho chồng nó có vợ bé. Vì vậy tôi bắt con tôi phải trả con nhỏ đó về nhà hát.

Như dzậy ta thấy lý do Thúc Ông không cho Thúc Ký Tâm dzợ chồng với Thúy Kiều không phải vì Thúy Kiều từng ở nhà chơi bời mà là vì sợ vợ lớn của Thúc Tác-zăng nổi giận, phóng tay phá đám và thẳng tay phá hoại. Và đây là đoạn đối thoại giữa Tri phủ và Thúy Kiều:

Tri phủ :

— Ả kia .. Ông già Thúc chính đơn tố cáo, yêu cầu bổn chức đuổi chị trở về kỹ viện. Chị có kêu ca gì không?

Thúy Kiều :

— Bẩm quan.. Theo chúng tôi được biết thì chỉ có kỹ nữ trở về đời sống lương thiện, không lẽ nào người vợ lương thiện lại bị đuổi về nhà hát. Xin quan xét cho.

Tri phủ:

— Nay nhà họ Thúc không chịu nhìn nhận chị tất nhiên chị phải trở về nhà hát. Nếu chị không chịu , bổn quan sẽ dùng đến hình phạt.

Thúy Kiều :

— Dù có bị đánh chết tôi cũng không trở về đời sống ca nhi.

Tri phủ sai lính đem gông cùm và dụng cụ tra tấn ra, nói:

— Một là chị phải chịu đòn và chịu gông cùm một tháng. Một là chị trở về lầu xanh. Hai điều ấy chị phải chọn lấy một.

Thúy Kiều :

— Tôi chịu hình phạt.

Nói xong Kiều lập tức đưa gông lên cổ mình, Thúc Kỳ Tâm khóc rống :

– Ôi .. Vì ta làm lụy cho nàng …

Trong Truyện Thơ Kiều của ta, đây là lời Tri phủ:

— …Phép công chiếu án luận vào
Có hai đường ấy muốn sao mặc mình
Một là cứ phép gia hình
Một là lại cứ lầu xanh phó về ..

Cái gọi là “phép công” đây là cái phép tắc gì? Thúy Kiều bị phép công đánh đòn vì tội gì? Vì tội đã là gái chơi mà còn bầy đặt lấy chồng tử tế, đòi làm dzợ hiền, dâu thảo? Không có lý. Khi hoàn lương, tức khi ra khỏi nhà chưá, không còn hành nghề gái chơi nữa, Thúy Kiều có khai trình với nhà chức trách đàng hoàng. Đây là bằng chứng:

Rõ ràng của dẫn, tay trao
Hoàn lương một thiếp thân vào cửa công .
Công tư hai lẽ đều xong
Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai ..

Chi tiết về vụ thi hành phép công quá ít và hết sức lờ mờ: Đánh tui, gông cổ, cùm chân tôi, nếu tui chịu được, tui hổng chết …rồi sao? Tui được quyền trở về sống dzợ chồng với chồng tui hay là sao? Hay là uýnh tuâi sống dzở, chết dzở rồi lại tống tui trở về nhà điếm? Chuyện quan trọng nhất ấy không thấy nói chỉ thấy Tri phủ nhắc đ, nhắc lại “Một là, một là ..”. Từ bao nhiêu năm bao nhiêu người bàn tán về Truyện Kiều chẳng thấy ai théc méc đến vấn đề pháp lý của đoạn truyện này. Người đọc có quyền đòi hỏi được biết rõ số phận của Thúy Kiều sẽ ra sao sau khi nàng chịu đòn, chịu gông cùm. Lẽ ra tác giả phải viết rõ hơn để ta không bị théc méc.

Thời quân chủ quyền hành được tập trung trong tay một người, không bầy đặt phân chia ra ba ngành hành pháp, lập pháp, tư pháp rắc rối tơ như thời dân chủ. Năm Gia Tĩnh triều Minh ta thấy Tri phủ Lâm Tri hành xử một lô quyền hành: Biện Lý bắt người, Dự Thẩm điều tra, mần luôn Chánh Án chung quyết . Một mình Tri phủ có quyền suy diễn luật pháp và quyết định tối hậu. Khi biết tài mần thơ của Thúy Kiều, Tri phủ có cảm tình với nàng, tổ chức đám cưới cho nàng với Thúc Sinh. Ông chỉ nói một câu xanh rờn là Thúc Ông sìu như cái bong bóng lợn sì hơi liền một khi:

— …Đã đưa đến trước cửa công
Ngoài thì là lý xong trong là tình.
Dâu con trong đạo gia đình
Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong …

Nhưng mà Me sừ Thúc Chủ Tiệm có bất bình, bất tĩnh gì đâu, ông không cho anh con phá gia chi tử của ông lấy vợ bé vì ông sợ con vợ lớn của con ông nó hổng có chịu, ông sợ thế lực của nhà họ Hoạn có thể làm hại nhà ông nếu con ông có dzợ bé. Những ông nhà buôn như Thúc Ông cẩn thận, giữ mình là đúng thôi. Trên thực tế Thúc Ôâng có thể viết một thư lời lẽ như vầy gửi cho con dâu Hoạn Thư:

Rừng Phong , Lâm Tri.

Thân gửi Con dâu thảo là Hoạn Thư,

Ta rất buồn và phẫn nộ viết thư này để báo cho chị biết chồng của chị, Thúc Kỳ Tâm, con trai ta, nhân lúc ta không có mặt tại Lâm Tri , đã bầy đặt ăn chơi và cưới Thúy Kiều, một kỹ nữ làm vợ bé. Ta cực lực phản đối cuộc hôn nhân này nhưng con trai hư hỏng cuả ta không chịu nghe ta.

Ta đem việc nhờ Phủ quan phân xử không ngờ Phủ quan lại về hùa với chúng nó, đứng ra tổ chức đám cưới cho chúng nó, làm cuộc hôn nhân của chúng trở thành chính thức và hợp pháp và làm ta bẽ mặt. Ta đành chịu thua.

Vậy ta viết thư này để chị biết mọi sự. Tùy chị hành xử quyền vợ lớn của chị .

Thúc Chủ Tiệm cẩn thư.

Chế độ vô sản chuyên chính, nôm na và huỵch toẹt là chế độ cộng sản sau một thời hoành hành tác yêu, tác quái, hung hăng con bọ xít ác ôn côn đồ thậm tệ nay đã tiêu vong, có một điểm giống chế độ quân chủ. Đó là việc tập trung quyền hành vào tay một người, hổng có phân quyền, phân bón chi ráo trọi. Lenin, Thánh Tổ Đảng Cộng sản , viết trên giấy trắng , mực đen dậy bọn đồ đệ:

Việc chia quyền hành ra làm ba ngành hành pháp, tư pháp, lập pháp là trò bầy đặt của bọn tư sản. Trong chế độ cộng sản một cá nhân đảng viên hành xử tất cả mọi thứ quyền …

Cộng sản đã sụp rồi, chế độ quân chủ tiêu vong từ lâu nhưng ta nói đến hai chế độ ấy với thái độ và tâm trạng khác nhau. Là nạn nhân của chế độ cộng sản, từng đích thân chứng kiến những việc làm thối tha, tàn ác, bất nhân của chế độ Cộng sản ta nói đến nó với lòng oán ghét, gớm ghiếc, ta nói đến chế độ Quân chủ xa xưa với lòng hoài niệm, không luyến tiếc cũng không thù ghét. Đến số tuổi đời nào đó và qua một số sự việc biển dâu, tai họa, ta sẽ có những quan niệm đúng hơn về cuộc đời. Khi đó ta có thể bình tĩnh, vô tư nhận xét và ta thấy chế độ quân chủ cũng có những mặt tốt đẹp riêng của nó.

Théc méc về vấn đề pháp lý, pháp luật trong Truyện Kiều còn nhiều. Nhưng số trang báo có hạn. Đến đây tạm chấm dứt Chương trình Văn nghệ Tạp Lục của Ban Tùm Lum.

Đây là chuyên văn nghệ-văn gừng kỳ tới: Cuộc Tình Kỳ Tâm – Thúy Kiều:

Bữa Tiệc Gia Hình đau Nó kẹp,
Cung Cầm Tuyệt Vọng tội Em đàn.
Em trốn đi Em, trời đất khép,
Dâu biển Tình Ta cũng hợp tan.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: