• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Nho Ta, Nho Tây

Nào có ra gì cái chữ Nho,
Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co!
Sao bằng đi học làm thầy Phán,
Tối rượu sâm-banh, sáng sữa bò.

Thơ ông Tú Xương, làm trong những năm cuối Thế kỷ 19. Cho đến năm nay, năm 2009, bài thơ trên đã sống với người Việt hơn một trăm năm.

Vietnamese PlayboyTrước hết, với tư cách “con nhà Thông Phán”, tôi viết Thi sĩ Tú Xương đã quá lạc quan khi ông làm bài thơ trên. Nhà những ông Thông Phán ngày xưa, như ông bố tôi, Thông Phán chân chính, Thông Phán chuyên nghiệp, Thông Phán thuần thành, ra làm việc Thông Phán, về hưu Thông Phán, ra làm Thông Phán ở Dinh Tổng Đốc tỉnh Hà Đông, về hưu với chức Thông Phán thượng hạng-ngoại hạng ở Dinh Tổng Đốc tỉnh Hà Đông, Thông Phán đến như ông bố tôi thì phải nói là “Thông Phán đến không còn ai có thể Thông Phán hơn được”, nên tôi tự nhận tôi biết rõ về cuộc sống trong nhà những ông Thông Phán ngày xưa, những ông Thông Phán được nói đến trong bài thơ của Thi sĩ Tú Xương.

Ở nhà những ông Thông Phán ngày xưa “sáng sữa bò” thì có, thì đúng. Sữa bò những năm 1910 đến 1940, phải nhập từ nước Đại Pháp sang, Sữa Nestlé nhãn hiệu Tổ Chim có hình chim mẹ tha mồi về nuôi chim con trong tổ, Sữa đặc: Lait condensé — nhập cảng nhưng giá tương đối rẻ, nhà Thông Phán có thể ăn sữa được. Mở một hộp sữa ra vợ chồng con cái nhà Thông Phán năm người, hai ông bà, ba anh chị con, pha sữa ăn với bánh tây sì sụp hai, ba bữa ăn sáng mới hết. Tất nhiên là pha sữa loãng thôi. Nhưng còn chuyện “tối rượu sâm-banh” thì nhà những ông Thông Phán ngày xưa hổng có đâu. Cám ơn Nhà Thơ đã đề cao cuộc sống bơ sữa — các ông làm cách mạng gọi là “bơ thừa, sữa cặn” — trong nhà Thông Phán, nhưng cái gì có thì nhận là có, cái gì không có thì con nhà Thông Phán chân chính và tự trọng phải nói là nhà tôi hổng có.

Nhà những ông Thông Phán ngày xưa không có chuyện tối tối ông chủ uống sâm-banh. Không những không có chuyện tối tối uống sâm-banh mà những ông Phán, như ông bố tôi, còn suốt đời không một lần uống sâm-banh. Rượu sâm-banh — champagne — theo sự hiểu biết ngu xuẩn của tôi không phải là thứ ruợu để các ông Tây lôi ra uống mỗi ngày. Khi có đại tiệc, hay có việc gì vui mừng, như lên chức, lên lon, tăng lương, cưới vợ, các ông Tây mới uống sâm-banh. Ngay cả những ông Tây chính cống cũng nhiều ông cả đời không một lần, hay cả đời chỉ vài ba lần, uống ruợu sâm-banh, thứ ruợu đặc sản do công nghiệp bào chế rượu trái nho của đất nước các ông sản xuất. Chuyện các ông Thông Phán An-nam ngày xưa — những năm trước 1945 — tối tối uống sâm-banh, theo tôi, là không có.

Ông Tú Xương qua đời năm 1907. Như vậy ta có thể nói bài thơ “Tối Rượu Sâm-banh” được ông làm vào khoảng những năm 1890, thời gian này ông cha tôi bắt đầu việc bỏ học chữ Hán, bỏ dùng chữ Nho, tức chữ nước Đại Tầu, để học thứ chữ a, b, c… được gọi là chữ Quốc ngữ. Câu “Sao bằng đi học làm thầy Phán..” phải hiểu là “Sao bằng đi học chữ quốc ngữ.. a, bê, xê.. để làm thầy Thông Phán..”

Chuyện hay hay cần nói là vì tác giả bài thơ trên là ông Tú Xương, một ông Nho Ta chân chính, nên người đọc chỉ thấy ngậm ngùi, nhưng nếu tác giả là một ông không phải ông Nho Ta, như nếu tác giả là một ông Thông Phán nào biết làm thơ và tí toáy mần thơ, thì tác giả và bài thơ sẽ bị người đời chửi cho nát nước ngay lập tức. Bài thơ đó sẽ bị cho là lời miệt thị Nhà Nho, Chữ Nho, và là lời khoe khoang được hưởng bơ sữa, ruợu thịt của bọn Thông Phán giai cấp mới. Nhưng một ông Tú tài nổi tiếng văn thơ như ông Tú Xương làm bài thơ ấy thì, như đã nói, người đọc thấy đó là lời than của những ông nhà Nho Ta. Các ông đang ở vào thời kỳ sở học của các ông trở thành vô dụng, thời Chữ Hán không được người Việt dùng nữa, các ông có quyền than thở, các ông có quyền mỉa mai.

Ông Tú Xương là người viết về giới Nho Ta cuối Thế kỷ 19 với những lời tả thực nặng nề nhất, những lời thơ gần như lên án sự yếu hèn của các ông Nho Ta thời ông:

Cái học nhà Nho đã hỏng rồi,
Mười người theo học, chín người thôi.
Cô hàng bán sách lim dim ngủ,
Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi.
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo,
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi.
Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ,
Trình có ông Tiên, Thứ chỉ tôi.

Cuối Thế kỷ 19 các ông Nho Ta tự nhận các ông không còn hợp thời, nhân dân và đất nước không cần sự có mặt của các ông nữa — đúng ra là nhân dân cần các ông nhưng các ông đã không đáp ứng được nhu cầu của nhân dân — các ông im lặng rút vào vùng quên lãng, nhường chỗ cho những ông Nho Tây, tức những ông Tây học.

Liêu lạc quê người, tuổi đời Bẩy Bó, tôi có điều kiện mầy mò, lục lọi, tra cứu, suy luận, để tìm biết những chuyện xưa trên những trang sách cũ, tôi thấy năm xưa khi văn học Nho Tầu suy tàn ở nước ta, các ông Nho Tây, tức những ông Tây học, như các ông Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh, Nguyễn Tiến Lãng… không ông nào viết nửa lời chế nhạo — chế nhạo thôi, đừng nói khinh mạn — các ông Nho Ta, cũng không ông Nho Tây nào viết một lời chê bai, khinh thị chữ Hán. Không những không khinh thị, tôi còn thấy các ông Nho Tây thời xưa đó — dường như — có mặc cảm tội lỗi trước việc các ông bỏ Hán học để theo Tây học. Tâm trạng ấy của các ông cũng dễ hiểu thôi: ông nội, ông ngoại các ông, ông bố đẻ các ông, ông bố đẻ vợ các ông, là những nhà Nho học, sức mấy các ông dám khinh những ông nhà Nho. Các ông ra đời trong những nhà có sập gụ, tủ chè, bộ salon Tầu, tràng kỷ, tủ đồ cổ, hoành phi, câu đối, có những bộ sách chữ Hán mà các ông mù tịt không đọc được một chữ. Gia phả, văn tự của gia đình các ông viết bằng chữ Hán, các ông, khi cần, phải nhờ người đọc dùm, giảng nghĩa cho.

Đấy là tình trạng những năm 1900. Một trăm năm sau tình hình đổi ngược. Nói một trăm năm sau không đúng, ngay những năm 1960, 1970 chữ Hán lại được nhiều người Việt trọng vọng. Người Việt vẫn không mấy ai học chữ Hán, người Việt vẫn miệt mài học tiếng Anh, tiếng Pháp, nhưng họ biết họ học hai cái tiếng đó là để đi làm, để kiếm cơm, hai cái tiếng ngoại ấy không giúp cho đời sống tinh thần của họ khá hơn bao nhiêu. Và trong xã hội ta những thập niên 1960, 1970 có nhiều người biết tiếng Anh, tiếng Pháp — đa số lem nhem, Ăng-lê thì sách English for Tonight, Phú-lang-sa thì sách Méthode de la Langue Francaise — số người Việt biết hai thứ tiếng ngoại ấy lền khên khắp nơi nhưng chỉ có rất ít người Việt biết chữ Hán.

Vương Quốc Cường, bạn tôi, chức vụ cuối cùng là Chánh án Quảng Ngãi, đi cải tạo về năm 1981, đi vượt biên, bị mất tích năm 1982; năm 1974 một lần gặp nhau, Cường nói với tôi:

– Nghe nói ông tự học chữ Hán và đã đọc được truyện Tầu? Học chữ Hán có khó không ông? Quảng Ngãi có Dân biểu Nguyễn Ngọc Tân. Mỗi lần phái đoàn chính quyền tỉnh đi thăm dân cho biết sự tình, vào đình làng nào có câu đối, hắn đọc vanh vách, giải nghĩa từng chữ. Mọi người, kể cả các bô lão trong làng, thán phục hắn quá!

Chỉ qua một chuyện ấy thôi tôi thấy bây giờ nhân dân coi những người biết chữ Hán có giá trị hơn những anh biết tiếng Ăng-lê, tiếng Phú-lăng-sa; giữa đám đông, người biết chữ Hán nổi bật lên như phượng hoàng giữa đàn gà.

Dân biểu Nguyễn Ngọc Tân biệt danh Phạm Thái, bút hiệu Bẩy Bớp, từng có thời làm trong tòa soạn báo Tự Quyết của Đảng Đại Việt với Chú Tư Cầu Lê Xuyên; những năm 1953, 1954 tòa soạn báo Tự Quyết đặt trong Nhà In Long Giang, hẻm đường Võ Tánh, Sài Gòn. Anh từng bị tù thời người Pháp mới trở lại làm chủ Sài Gòn, những năm 1947, 1948 xưa ấy anh bị Pháp giam ngay trong Đề Lao Gia Định, nơi sau năm 1975 được bọn Bắc Cộng mở rộng, làm thành Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, anh từng phải sang sống lưu vong ở Nam Vang vì chống chính phủ Ngô Đình Diệm.

Dân biểu Nguyễn Ngọc Tân đi tù cải tạo có một năm là được thả về — nghe nói vợ anh có họ với chị vợ ba của Tổng Bí Lê Duẩn — nhưng chỉ vài tháng sau anh bị bắt lại. Lần này anh bị tù trong nhà tù, tù dài ngày và dài người, anh nằm nhà tù như mọi tù nhân lương tâm hay không lương tâm, anh không được đi trại tù cải tạo — đúng ra là trại tù khổ sai — với tư cách dân biểu như lần trước. Năm 1977 tôi gặp anh trong Phòng Giam Tập Thể số 7 Khu C Một, Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn Nhân Dân Sài Gòn của bọn Công An Thành phố Hồ Chí Minh. Là Công Tử Nam Kỳ anh hút thuốc lào quá xá là hút. Khi tôi gặp anh, anh đã sống trong Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu được một năm, anh từng nằm chung phòng tù với Duyên Anh, Chú Tư Cầu Lê Xuyên. Anh trạc tuổi tôi, những năm 1977, 1978, chúng tôi 45, 50 tuổi.

Ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh. Cùng một lứa tù đầy cộng sản. Gặp gỡ nhau chỉ biết thương nhau.. Từ Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, người tù Nguyễn Ngọc Tân bị đưa đi trại tù khổ sai.. Tôi nghe nói mãi đến những năm 1988, 1989 anh mới được thả. Trở về mái nhà xưa không bao lâu anh lại hoạt động đòi dân chủ, dân quyền cho đồng bào và ngay lập tức anh bị cộng sản bắt lại. Năm 1995 ở Hoa Kỳ tôi nhìn thấy ảnh anh mặc bộ đồ tù Chí Hòa, đứng trước tòa án Việt Cộng, đăng trên một tờ báo Việt. Trông anh gầy và già quá. Rất tiếc tôi đã không giữ tấm ảnh ấy của anh. Năm 2002 tôi được tin anh đã qua đời.

Xin trở lại với chuyện Nho Ta, Nho Tầu, Nho Tây. Một trăm năm trước những ông Nho Tây An Nam không ông nào tỏ ra khinh thị chữ Hán hay cười chê những ông Nho Ta — hai tuần báo Ngày Nay, Phong Hóa thời xưa ấy có chế riễu hai nhân vật Lý Toét, Xã Sệ, nhưng Lý Toét, Xã Sệ không phải là nho sĩ, hai anh thuộc loại kỳ mục, kỳ nát — người chế riễu, chỉ trích những ông Nho Ta lại chính là những ông Nho Ta, như ông Tú Xương, như ông Dương Bá Trạc.

Dương Bá Trạc. Tính hay bắt chước của người mình. Bài viết năm 1925, đăng trong tập Tiếng Gọi Đàn, in tại Nghiêm Hàm Ấn Quán, Hà Nội năm 1925:

Người ta ai là khỏi có cái bắt chước người, nhưng bắt chước người mà cũng cần phải có cái trí khôn quyết trạch của mình, bắt chước cái hay mà biết bỏ cái dở: mình ăn bốc, ở truồng, trông thấy người mâm thau, bát mẫu, quần rộng, áo dài mà bắt chước là phải; mình xưa nay không biết rượu chè, hút xách là cái gì cả mà thấy người uống rượu cũng bắt chước uống rượu, thấy người nghiện thuốc phiện cũng bắt chước nghiện thuốc phiện thì chẳng là nguy lắm ru !

Vả mô phỏng của người mà lại cần phải tự ý mình suy nghĩ ra: như người nước Pháp học văn chương La-mã mà lập ra được hẳn một nền văn học riêng; người Nhật học chữ Hán mà chế ra được thứ chữ bình giả, phiến giả, làm một lối chữ Hòa-văn riêng của mình. Xét rộng ra, các điều phát minh, các môn kỹ nghệ cho đến trăm nghề, trăm nghiệp trong thế giới từ xưa đến giờ, cái gì cũng chỉ sáng khởi ra trước tự một hai người, bao nhiêu người sau đều là bắt chước cả, mà nào có ai giống ai, có nước nào giống nước nào, ngày mới tháng lạ, biến hóa vô cùng, càng về sau lại càng thấy hơn về trước nhiều mà không có chút gì là đạo tập người trước nữa. Bắt chước người mà khôn thì là sự tiện lợi thứ nhất, không gì chóng hay, chóng khá bằng.

Người mình có cái thiên tính hay bắt chước, cái gì cũng nhất vị chỉ biết bắt chước người, nên bắt chước dại thì nhiều mà bắt chước khôn thì ít lắm. Bắt chước người Tầu học chữ Hán mà trong khoảng mấy nghìn năm chỉ học nhờ, viết mượn, không hề nghĩ ra được một thứ chữ quốc văn nào — trừ ra có một thứ chữ Nôm cũng viết bằng chữ Hán mà ai muốn viết thế nào thì viết, chưa thành lối chữ nhất định — người Tàu bị dại vì cái học khoa cử, mình cũng bắt chước theo cái học khoa cử mà bị dại, người Tàu bị ngu, bị hèn vì cái tục trọng văn, khinh võ, quý sĩ, tiện nghệ, người mình cũng bắt chước theo cái tục trọng văn, khinh võ, quý sĩ, tiện nghệ mà bị ngu hèn; về tư tưởng thì người Tàu có cái học thuyết chán đời, người mình cũng bắt chước chán đời, người Tàu có cái thuyết vị ngã, người mình cũng bắt chước vị ngã; về phong tục thì người Tàu trọng bói toán, đồng cốt, phù thủy, địa lý; người mình cũng bắt chước bói toán, đồng cốt, phù thủy, địa lý; người Tàu thờ ông thánh Quan, bà Tiên hậu, kỷ niệm ông Khuất Bình, ông Giới Tử Thôi, người mình cũng bắt chước thờ ông thánh Quan, bà Thiên hậu, kỷ niệm ông Khuất Bình, ông Giới Tử Thôi. Trong cái lúc thâu thái được chút đỉnh luân lý, học vấn, văn chương, kỹ nghệ của người Tàu thì bao nhiêu cái dại, cái dở của người Tàu mình cũng cũng nhắm mắt theo cho kỳ hết.

Nhân thế mà bao nhiêu cái tinh thần tự lập, cái năng lực sáng tạo mất dần đi tất cả. Người nước nào có cái đặc sắc văn học của nước ấy, mỹ thuật nước ấy. Nói đến văn học của người mình thì ai làm được câu văn thơ nào hay cũng tự đắc rằng câu văn ấy Tàu, câu thơ ấy Tàu mà khen ngợi nhau, khuyến miễn cho nhau cũng lấy thế làm tuyệt phẩm; nói đến mỹ thuật của mình thì không luận là đồ gì, suốt cả nước từ trên chí dưới, từ trẻ chí già cũng đều cho kiểu Tàu, nét Tàu mới là đẹp; kiểu mạc ra không đúng Tàu, đồ làm ra không hệt Tàu là xấu, là bỉ tiện, là ít người thích, phải bán rẻ tiền… Như thế thì còn gì là cái tinh thần tự lập, cái năng lực sáng tạo nữa. Cho nên dân tộc mình lập quốc đã bốn ngàn năm mà tuyệt không có tí gì là quốc học của mình cả. Các nhà bác học đời nay nghiên cứu về Đông phương hoặc về mỹ thuật đều cho người mình là nhất thiết cái gì cũng chịu ảnh hưởng của người Tàu cả, thật là đúng lắm. Cái đó chẳng là một cái cớ lớn làm cho người mình bao giờ tiến hóa cũng chậm trễ sau người ta ru?

Hết bài viết của ông Dương Bá Trạc.

Ông Dương Bá Trạc đỗ cử nhân, từng bị Pháp bắt, đày ra Côn Đảo. Năm 1944 ông được người Nhật đưa sang đảo Chiêu Nam, Singapore, cùng ông Trần Trọng Kim, người Nhật chuẩn bị đưa một trong hai ông ra làm Thủ Tướng Chính Phủ khi Nhật đảo chính Pháp. Ông mất vì bệnh ở đảo Chiêu Nam. Ông là tác giả bài thơ từng một thời bị coi là Thơ Cổ

Ai sui con cuốc gọi vào hè
Cái nóng nung người, nóng nóng ghê.
Ngõ trước, vườn sau um những cỏ,
Vàng phai, thắm nhạt ngán cho huê.
Đầu cành kiếm bạn oanh xao xác.
Trong tối đua bay đóm lập loè.
May được nồm nam cơn gió thổi,
Đàn ta ta gẩy khúc Nam nghe.

– – – – – – – – – – – – – – – – – – –

Đêm tha hương, riêng một ngọn đèn.. ..

Với tôi, “Viết là hạnh phúc” mà “Đọc là lạc thú”. Rừng Phong, phòng ấm, đèn vàng, yên tĩnh, an ninh năm chăm phần chăm, ngoài trời tuyết rơi nhưng tôi săng phú! Không phải đi làm, ngán gì tuyết phủ, mặc cho tuyết rơi, ta nằm tình tang với những trang sách cũ! Đọc hết bài viết của ông Dương Bá Trạc, đăng trong sách “Văn Học Việt Nam” của Giáo sư Dương Quảng Hàm, tôi ấp sách lên ngực, nhắm mắt, vắt chân lên trán, xin lỗi, tôi vắt tay lên trán, nghĩ ngợi lăng tăng băng.

Bài viết của ông Cử Dương, viết năm 1925, trong có chuyện về tính bắt chước của người An Nam, viết năm tôi chưa ra đời, văn huê là năm cõi đời này chưa có tôi, làm tôi nhớ đến bài tham luận “Văn Minh Tiểu Phẩm” của Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ. Trong bài tham luận của TT. Tuệ Sỹ, viết trong nước gửi ra, đọc tại Đại Hội Phật Giáo Việt Nam ngày 4 Tháng Giêng 2003 tại San Diego, Hoa Kỳ có đoạn:

Văn Minh Tiểu Phẩm. TT. Thích Tuệ Sỹ. Trích:

Nói rằng chữ Nôm phức tạp cho nên không tiện lợi để phổ biến cho bằng chữ La-tinh, điều này chỉ đúng cho những người mà não trạng đã quen với tập tính lười biếng. Có điều, hình như đại bộ phận trí thức của ta, từ mặc cảm tự ti, bị trị, của một dân tộc nhược tiểu, muốn nhanh chóng rút ngắn con đường giải phóng và cách mạng, để bắt kịp nền văn minh vật chất hào nhoáng từ phương Tây rọi sang. Từ đó phát sinh càng lộ liễu tập tính lười biếng, chỉ cần bắt chước những gì được coi là chuẩn mực của văn minh, không cần đến tư duy sáng tạo, điều mà tiền nhân của chúng ta đã không ngừng trong suốt chiều dài của lịch sử để tự tồn, bên cạnh một thiên triều luôn nghĩ cách thôn tính và đồng hóa. Do đó, người ta không nhìn thấy tính sáng tạo của dân tộc trong quá trình hình thành chữ Nôm, trong cách cấu tạo tự hình trong đó hàm tàng những cái nhìn về nhân sinh và thế giới. Chữ Nôm bị kết tội là làm chậm bước phát triển của dân tộc cho nên cần phải thay thế bằng chữ viết khác.

Ngưng trích.

Một đêm xưa cũng trong căn phòng ấm ở Rừng Phong này, cũng ngọn đèn này, tôi cũng nằm như thế này đọc bài tham luận của Thầy Tuệ Sỹ. Đọc đến đoạn trên đây tôi cũng buông tờ báo, nhắm mắt, vắt chân lên trán, xin lỗi, vắt tay lên trán, tôi suy nghĩ, tôi ngấm và tôi thấy tôi xấu hổ quá. Thầy Tuệ Sỹ chỉ cho tôi thấy những người Việt sống đồng thời với tôi, và tôi, ngu muội, hèn mạt, chỉ biết bắt chước bọn Tây, bọn Mỹ. Hèn quá là hèn, nhục ơi là nhục. Đêm nay bài viết của Dương Bá Trạc Tiên sinh — bài viết từ năm 1925, năm Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ chưa ra đời để cứu người — cho tôi thấy.. té ra..

..Té ra.. không phải chỉ thế hệ ông bố tôi, thế hệ người Việt ra đời từ năm 1890, sống đến năm 1960, không phải chỉ thế hệ tôi, thế hệ từ năm 1930 đến năm 2000, là những thế hệ người Việt đốn mạt chỉ biết cong lưng, gục mặt, lé mắt bắt chước người. Té ra thế hệ các ông tằng tổ, kỵ tổ, thủy tổ, đủ thứ tổ, tổ đủ thứ của tôi từ ngàn xưa đã có cái tật bắt chước người nước ngoài. Tổ tiên tôi bắt chước bọn Đại Tầu, đến đời ông bố tôi, đời tôi, bắt chước bọn Đại Tây. Nhưng cái mà Thầy Tuệ Sỹ gọi là “tập tính lười biếng” của dân tộc tôi đó, theo ý ngu của tôi, thì không phải chỉ một dân tộc tôi có, không phải là cái thói xấu, cái tính đáng khinh của riêng dân tộc tôi. Tất cả những dân tộc chậm tiến lúc nhúc trên trái đất này đều bị bắt buộc phải bắt chước bọn người da trắng văn minh hơn. Họ bắt chước xử dụng những dụng cụ để sống cho đỡ khổ do bọn người da trắng sáng chế ra thôi cũng đã phờ râu, mờ mắt, nói đến chuyện cạnh tranh với chúng trong việc sáng chế là ngớ ngẩn. Bắt chước còn chưa xong — như lái máy bay, người ta phải có một số thông minh nào đó mới có thể học được cách lái máy bay — ở đó mà hiu hiu nói đến “tư duy sáng tạo.” Trong năm, sáu trăm năm độc lập, các ông Nho Ta đã không sáng tạo ra được một thứ chữ riêng cho dân tộc tôi, một thứ chữ riêng của dân tộc. Đừng nói chuyện chưa đủ thời gian, mấy trăm năm là thời gian dư dài để người ta sáng chế ra một thứ chữ viết. Cái gọi là “tính sáng tạo của dân tộc trong quá trình hình thành chữ Nôm” quá yếu, vì quá yếu nên Chữ Nôm, có từ đời Hồng Đức Nhà Lê — Những bài Thơ Nôm, thi phẩm Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi, Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập, Văn Hàn Thuyên vv.. — đã không được làm cho hoàn chỉnh; chữ Nôm ở trong tình trạng không ra làm sao cả khi bọn thực dân Pháp đến nước ta. Những người chê khinh Chữ Nôm chính là những ông Nho Ta, chính các ông Nho Ta đánh giá Chữ Nôm bằng câu “Nôm na là cha mách qué.”

Chưa bao giờ “chữ Nôm bị kết tội là làm chậm bước phát triển của dân tộc, cho nên cần phải thay thế bằng chữ viết khác.” Chữ Nôm không có vị trí nào đáng kể trong đời sống của nhân dân nên nó không thể bị thay thế. Tôi chắc các ông linh mục truyền đạo Gia Tô khi nghĩ ra cách dùng mẫu tự a, bê, xê để ghi tiếng nói của người Việt, để dùng trong việc truyền đạo, không ông nào nghĩ đến việc chế ra một thứ chữ để cho dân cả nước Việt dùng.

– – – – – – – – – – – – – – – – – – –

Nhưng tại sao ta lại bắt chước? Ta bắt chước vì nó hay, nó tốt, vì nó có lợi cho ta, vì nó làm cho đời sống của ta sung sướng hơn. Vậy thì câu hỏi có thể là “Tại sao ta lại không bắt chước?” Nếu ta không bắt chước, dân tộc ta cứ nằm ngồi mãi trong tình trạng bán khai. Nếu ta bắt chước mà không khéo, không giỏi, ta có thể bị những ông Việt Nam như ông Dương Bá Trạc, như Thầy Tuệ Sỹ, mắng là “Bọn khốn nạn. Chỉ có việc bắt chước mà cũng không nên thân..” Việc có một số người bắt chước cả những cái xấu là cái giá phải trả cho sự bắt chước. “Bắt chước” nó là như thế. Đến Thế kỷ 20 tất cả ba giống dân da vàng, da đỏ, da den đều phải bắt chước bọn dân da trắng. Văn minh đến như dân Đại Tầu, giống dân có thứ chữ được các ông Nho Ta ca tụng là uyên áo, uẩn súc, tuyệt phẩm.. cũng bắt chước bọn dân da trắng như điên.

Năm 1984 khi bọn Việt Cộng đưa xe bông đến nhà tó tôi đi tù lần thứ hai, Sài Gòn chỉ có rất ít nhà có máy TiVi, năm 1990 khi tôi từ nhà tù cộng sản trở về mái nhà xưa lần thứ hai, gần như nhà nào ở Sài Gòn cũng có máy TiVi. Không những chỉ TiVi mà còn là TiVi mầu. Tôi ngồi xem TiVi và ngạc nhiên khi thấy cảnh một nhà ga ở nước Đại Tầu đầy những thanh niên nam nữ bận jacket, mũ, quần jeans, đi giày thể thao thường gọi là giày Adidas. Mới thấy tôi tưởng đó là cảnh thanh niên ở một nhà ga ở Nhật, Nam Hàn, nhưng đó là cảnh một nhà ga Tầu ở gần Thẩm Quyến, khu có những xưởng máy chế tạo công nghiệp do tư bản ngại quốc mở dùng lực lượng công nhân Đại Tầu rẻ tiền làm thuê. Đám thanh niên nam nữ Đại Tầu trong cảnh tôi thấy trên TiVi từ khắp nơi trên đất Đại Tầu đổ về Thẩm Quyến để tìm việc làm. Họ bị cảnh sát chặn lại ở nhà ga đó vì khu công nghiệp Thẩm Quyến đã quá thừa công nhân. Thế rồi mới đây, bọn Cộng Sản Tầu họp đại hội, bầu bọn lãnh đạo. Tôi thấy trên nhật báo The Washington Post ảnh 6 anh Tầu Cộng được bầu đứng dàn hàng nhận sự hoan hô chúc mừng của đồng đảng. Cả 6 anh Tầu Cộng, chắc còn nhiều anh nữa, đều mặc com-lê vét-tông, thắt ca-la-hoách. Ông Tầu Lin Yu Tang, tên Việt là ông Lâm Ngữ Đường, là người những năm 1920, 1930 từng viết ca tụng tính cách gọi là nhân văn, đề cao khả năng làm cho người bận thoải mái, dễ chịu của những bộ áo thụng Tầu, người từng kết tội y phục của người phương Tây là gò bó, giam hãm, hành hạ thân thể con người, nếu nhìn thấy bọn đảng viên cộng sản Tầu Bắc Kinh năm 2002 hoan hỉ, cười toe, bận com-lê vét-tông, thắt ca-la-hoách cả lũ.., chắc phải khóc thét lên..

Người Âu Mỹ bận com-lê vét-tông vì họ thấy kiểu y phục đó đẹp, trang trọng, hợp với họ, nên họ bận. Họ không đòi hỏi, nài ép hay dụ dỗ, bất cứ một giống dân nào khác bận com-lê vét-tông như họ. Những giống dân khác thấy bộ com-lê vét-tông đẹp, trang trọng, nên bắt chước mặc theo. Bọn Tây dùng toong-đưa cắt tóc ngắn, dùng dao cạo cạo râu ria nhẵn nhụi, rửa mặt, rửa tay, tắm giặt bằng sà-bông, những giống dân khác thấy những trò đó đẹp, tốt, sạch, bèn làm theo. Việc bắt chước làm cho đồng bào tôi bị mất một số những truyền thống như tắm giặt, vo gạo, rửa rau, rửa đít cùng một cầu ao. Việc đồng bào tôi rửa đít ở cầu ao là việc nếu người Việt nào nghi ngờ là làm gì có, thì người nghi ngờ đó là người Việt — không phải mất gốc — mà là người Việt chưa từng lần nào sống ở làng quê hơn ba ngày, đồng bào tôi vo gạo ở cầu ao là việc có thực, vì dân tôi có câu “Ăn mày đánh đổ cầu ao..”, nói lên việc người ăn mày xin được dúm gạo, mang ra cầu ao vo, không may đánh đổ dúm gạo đó xuống ao. Hết ăn. Tôi ngu muội nghĩ rằng những truyền thống như truyền thống vo gạo và rửa đít cùng một cầu ao — ao tù, nước đọng, mùa cạn còn toen hoẻn ba mươi phân nước — thì có lẽ ta cũng không nên tiếc khi mất, mặc dù truyền thống vo gạo, rửa đít cùng một cầu ao — có thể — là truyền thống của “bốn ngàn năm văn hiến.”

Dương Tiên sinh viết: “..Mình ăn bốc, ở truồng, trông thấy người mâm thau, bát mẫu, quần rộng, áo dài mà bắt chước là phải..” Đêm khuya, im lặng hai chăm phần chăm, tôi “tư duy, tư dzéo” về chuyện “ăn bốc, ở truồng..” và tôi muốn nói với Dương Tiên sinh:

– Thưa Tiên sinh.. Một trăm năm trước bọn ăn bốc, ở truồng, thường là bọn dân da vàng, dân da đen, họ bắt chước bọn dân da trắng ăn bằng cù-dzìa, phóng-xét, bọn đàn ông thì bắt chước bận sơ-mi, vét-tông, bọn đàn bà thì sú-cheng, si-líp, zúyp se-rê, rốp sắc. Nhưng một trăm năm sau đó, tức là bi giờ đây, thời tôi sống, thời tôi làm chứng nhân, những năm 2000, bọn dân da trắng thừa quần, thừa áo, lại bắt chước bọn ăn bốc, ở truồng mà ở truồng. Thưa Tiên sinh, tức là bây giờ bọn dân da trắng lại ở truồng tùm lum, tòa loa. Họ kéo nhau đến những khu riêng của họ, thường ở bãi biển, hay ở trong rừng, trên núi. Vào đó vợ chồng, con cái, dâu rể, anh em, chị em, cả ông cháu, bạn hữu ở truồng tồng ngồng cả ngày, lẫn đêm. Kỳ thật là kỳ. Người man dã bắt chước người văn minh, rồi đến lượt người văn minh bắt chước người man dã. Như vậy thì việc “ở truồng” chưa chắc đã là không hay, nói cách khác, việc “người ta ở truồng” có thể là việc hay, việc tốt cho con người. Nếu không hay, không tốt, tại sao có người làm nó?

Mà bọn ở truồng bi giờ lại toàn là bọn dân những nước văn minh nhất thế giới. Tôi chưa được đến những Khu Ở Truồng ấy lần nào, có vài ông bạn tôi đã đến đấy xem thực hư, thường là ở Pháp, kể chuyện: “Mình vào đấy bị mấy con đầm ở truồng nó chửi mình nhục nhã lắm. Nó quẳng vào mặt mình đủ các thứ đồ.. Đồ mọi rợ.. Đồ đểu cáng.. Đồ dơ dáy.. Đồ đói khát.. Đồ dâm đãng.. Đồ bệnh hoạn.. Đồ con heo.. Mày vác cái mặt chó của mày vào đây xem cái gì? Mày thèm cái này lắm à? Mày không thấy cái này của mẹ mày bao giờ à.?”

Thưa Tiên sinh, tôi thấy bi giờ bọn ở truồng, đáng lẽ phải gọi là bọn mọi rợ, đáng lẽ phải xấu hổ, lại khinh bỉ bọn bận quần áo đàng hoàng. Và bọn bận quần áo đàng hoàng, đáng lẽ phải khinh bỉ bọn ở truồng vú vê thỗn thện, lại bị bọn thỗn thện, lông lá chửi cho vuốt mặt không kịp và lấy làm hổ thẹn. Kỳ thật là kỳ!

Đến đây tạm chấm dứt Chương trình Văn Nghệ Tạp Lục của Ban Tùm Lum.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: