• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

SỐNG và CHẾT

Books Cover

Năm 1989 tôi tù ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, Xuân Lộc, Đồng Nai. Một anh bạn ký giả của tôi, trước 1975 là nhiếp ảnh viên của Reuters, NewYork Times, đi thoát trước ngày 30 Tháng Tư 1975, nay về thăm quê hương, đưa cho con tôi quyển “Life and Death in Shanghai” của bà Nien Cheng, bảo con tôi đưa cho tôi. Con tôi mang sách lên trại tù, tôi quên không nhớ bằng cách nào tôi mang được quyển sách ấy vào trại. Người tù ra gặp mặt thân nhân, khi trở vào trại, bị cai tù xét kỹ những đồ mang vào. Thấy sách hay tài liệu chữ ngoại quốc là họ vứt đi.

Với bọn tù chúng tôi năm ấy, quyển Hồi Ký “Life and Death in Shanghai” quí hơn vàng. Đã 15 năm chúng tôi không dược đọc sách chữ Anh. Nay có quyển sách mới tinh, lại viết về Ngục Tù, chúng tôi mừng hết cỡ. Tôi đọc xong đến Trí Siêu Lê Mạnh Thát đọc. Rồi sách được truyền tay cho vài anh tù khác và sau cùng, khi tôi ra về, sách được để lại trong trại tù.

Life and Death in Shanghai” là Hồi Ký Ngục Tù Tầu Cộng của bà Nien Cheng — tên Hán Việt là Trịnh Niệm — Những năm 1935 nữ sinh viên Trịnh Niệm du học ở London, Anh Quốc. Bà gặp ông Tầu Trịnh học cùng trường và hai người kết hôn. Năm 1940 ông bà về nước. Ông Trịnh trở thành một nhân vật được chính phủ Quốc Dân Đảng trọng dụng, ông làm nhân viên Bộ Ngoại Giao chính phủ Tưởng Giới Thạch rồi làm Tổng Giám Đốc Công Ty Xăng Shell Shanghai. Năm 1949 Tầu Cộng vào Shanghai. Ngoại Trưởng Chu Ân Lai cho Công Ty Shell hoạt động trong nước Tầu và ông Trịnh vẫn là Tổng Giám Đốc Shell Shanghai. Ông mất vì bệnh ung thư năm 1957. Bà Trịnh và cô con gái của ông bà được bọn Tầu Cộng để cho sống yên đến năm 1966, Mao Trạch Đông phát động cái gọi là cuộc Cách Mạng Văn Hóa, bà Trịnh bị bắt và bị kết tôi làm gián điệp. Bà Trịnh Niệm viết trong Hồi Ký:

– Bọn Giang Thanh muốn tôi nhận tội làm gián điệp, rồi khai ra Chu Ân Lai để chúng đánh họ Chu.
 

Dau To

Bà Trịnh Niệm nhất định không nhận tội làm gián điệp cho ngoại quốc. Bà bị tra tấn, bị còng hai tay suốt ngày đêm trong xà-lim. Bà kể chuyện người tù đàn bà, bị còng tay tay sau lưng những khi làm vệ sinh rất là dơ bẩn. Bà bị còng tay như thế trong cả năm trời. Bà kể:

– Khi ăn chúng cũng không mở còng tay cho tôi. Tôi phải quì, gục mặt xuống bát cơm, ăn như loài chó. Khi được mở còng, ba tháng sau tôi vẫn không giơ được hai tay tôi lên cao hơn đầu.

Năm 1973 sau 7 năm tù, Nữ tù nhân Trịnh Niệm được thả với ly do “có biểu hiện cải tạo tốt.” Ra tù, bà được biết cô con gái bà đã chết trong ngục tù Cộng sản. Nhà tù báo cáo cô tù tự tử, nhưng bà Trịnh cho rằng cô con bà bị đánh chết. Năm 1980 bà sang được Canada. Năm 1983 bà từ Canada sang Hoa Kỳ, đến sống ở Virginia. Năm 1985 bà viết xong Hồi Ký “Life and Death in Shanghai.” Bà được ông bà Tổng Thống Bush — Ông Bố — mời đến Nhà Trắng nhiều lần. Năm 1988 bà trở thành công dân Mỹ.

Nhật báo The Washington Post, ngày 6 October, 2009, loan tin Nữ sĩ Trịnh Niệm qua đời, thọ 94 tuổi. Tôi nhớ lại cảm nghĩ của tôi năm 1989 tôi đọc Hồ Ký Ngục Tù của bà trong Nhà Tù Cộng Sản ở quê hương tôi. Thấm thoắt vậy mà đã gần 30 năm cuộc đời. Khi đọc “Life and Death in Shanghai” chẳng có sát-na nào tôi mơ chuyện ngày nào mình viết về những người bạn của mình sống chết ở quê hương, mình sẽ bắt chước bà Trịnh Niệm, để tên sách là “Sống và Chết ở Sài Gòn.”

Năm 1995 bánh xe tị nạn đưa tôi sang Hoa Kỳ. Năm 2002, Hồi Ký “Sống và Chết ở Sài Gòn” được viết và xuất bản ở Virginia, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Mời quí vị đọc một chương trích trong:

Sống và Chết ở Sài Gòn.

Tôi có bốn ông bạn được cha mẹ cho sang Tây du học, tất nhiên cả bốn ông đều là con nhà giầu. Bốn ông với tôi không phải bạn quen thường mà là bạn mày tao. Những năm 1948, 1949 của thế kỷ 20, tức thế kỷ trước, trong lúc tôi ngày ngày đi bộ hai, ba mươi cây số trên đồng đất hai tỉnh Bắc Ninh – Bắc Giang, nơi thời Vua Lê, Chúa Trịnh có tên là Kinh Bắc — nói là những năm đó tôi đi kháng chiến cho oai, cho ra vẻ vai áo hào hoa bạc mầu kháng chiến — thực ra những ngày xưa hồng thắm đó tôi làm liên lạc viên, tức chú thiếu niên đi chân đưa thư tay cho một cơ quan Tình Báo ở hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang– văn huê kiểu kháng chiến là Bắc Bắc — năm 1949 tôi lên đến Đại Từ, Thái Nguyên, đi đến Đèo Khế mới trở về xuôi; những năm tôi sống như thế thì bốn chàng trai nước Việt tôi được quen và sắp kể tên dưới đây sống an ninh trong lòng Hà Nội rồi sang sống thơ thới hân hoan ở Nice, ở Paris bên nước Pháp.

Bốn chàng trai đất Việt ấy là ông Hoàng Anh Tuấn, thi sĩ kiêm đạo diễn điện ảnh, tác giả phim Hai Chuyến Xe Huê, Xa Lộ Không Đèn, ông Tuấn Ghẻ — ông này thì khỏi cần kể họ hay tiểu sử — ông Trịnh Viết Thành và ông Trần Bích Lan, tức Nhà Thơ Nguyên Sa Áo Lụa Hà Đông.

Trong bốn ông được sang Tây ăn học đó chỉ có ông Trần Bích Lan là có bằng cấp đem về nước, còn ba ông kia dường như sang Tây chỉ để ăn chơi. Ba ông Tây du nhưng không Tây du học mà là Tây du hý. Sau 1954, khi hết chiến tranh, đất nước đã bị cưa đôi, bốn ông về nước. Ba ông — hai ông Tuấn, một ông Thành — sang Tây học năm, bẩy năm mà không ông nào có qua một mảnh bằng gì cả, cả cái bằng lái xe ô tô, hay bằng Thợ May Tây, bằng Nhẩy Đầm ba ông cũng không có; về tiếng Tây, tiếng U, các ông bông xua, bông xoa, com xì com xà không khá hơn tôi bao nhiêu.

Nhưng thôi, việc học, việc chơi ngày xưa còn trẻ là việc riêng của mấy ông. Mấy ông có học, có bằng cấp, mấy ông là nhà khoa bảng thì mấy ông vinh thân, phì gia, vợ con các ông nhờ lộc của các ông, đất nước, dân tộc có được hưởng gì của các ông đâu. Năm mươi năm sau ngày các ông về nước — trong bốn ông ba ông nay đã không còn ở cõi đời này — hôm nay tôi viết về các ông với tình thương mến, tôi hồi tưởng hình ảnh các ông thời các ông trẻ trung mà bùi ngùi như tôi hồi tưởng tuổi trẻ của tôi.

Tôi gặp Trịnh Viết Thành lần đầu năm 1955 ở buy-rô của Thanh Nam trong Đài Phát Thanh Quân Đội. Trung sĩ Thanh Nam Trần Đại Việt có bàn giấy ngồi viết đàng hoàng. Thành mới từ Pháp về, Thanh Nam giới thiệu chúng tôi với nhau. Sau đó tôi được biết anh em gọi Thành là Trịnh Viết Thùng và Thành Nham Nhở — như Phan Nghị được gọi là Phan Nghệt, tên gọi thân thương không có ý gì khinh miệt. Phải nhờ đến tiếng cynique của Pháp để dùng cho Thành. Không phải thô tục hay thô bỉ, Thành rất thực tế, nói trúng vấn đề, không che đậy, không nghĩ sai.

Thành không viết văn, anh chỉ làm báo. Thành lấy em gái Nguyên Sa Trần Bích Lan từ thời hai người du học ở Pháp, nói cách khác Thành là em rể Nguyên Sa. Thành từng nói với chúng tôi:

— Nhà chúng mày chỉ mới có hai đời ăn nước máy, thắp đèn điện, nhà tao ba đời rồi.

Câu này có nghĩa ông nội tôi sống ở làng quê, ăn nước giếng, thắp đèn dầu, đến ông bố tôi ra tỉnh học mới ăn nước máy, thắp đèn điện, đến đời tôi ở thành phố, ăn nước máy, thắp đèn điện mới là hai đời; ông nội của Thành đã ở thành phố, đã ăn nước máy, thắp đèn điện, qua ông bố anh là hai đời, đến anh là ba đời.

Theo tiêu chuẩn ấy thì tôi ăn nước máy, thắp đèn điện được hai đời, đời ông bố tôi, đời tôi, Văn Quang Chân Trời Tím mới chỉ ăn nước máy, thắp đèn điện được một đời: đời Văn Quang. Căn cứ theo lời Văn Quang kể ngày xưa còn trẻ ở làng quê, anh từng cưỡi ngựa đi đòi nợ cho ông bố anh; tối xuống, trên đường về anh ngủ gà, ngủ gật trên yên ngựa, con ngựa biết đường cứ nhẩn nha lọc cọc, lịch kịch đưa anh về đến cổng nhà. Chuyện đó tôi nghe do chính Văn Quang kể. Như vậy chắc ông thân anh là Lý trưởng hay Chánh tổng, nhà nhiều ruộng, ở làng quê, ăn nước giếng, thắp đèn dầu, đến đời Văn Quang mới ra ở thành phố, mới ăn nước máy, thắp đèn điện. Theo tiêu chuẩn ấy thì Duyên Anh cũng chỉ mới một đời ở thành phố, ăn nước máy, thắp đèn điện: ông thân Duyên Anh là lang thuốc ở vùng quê Thái Bình. Một trong những chuyện rất ít người biết là Duyên Anh Vũ Mộng Long, “nhà văn nhớn,” đã có vợ ở làng quê và có một chị con gái. Năm 1954 chàng trẻ tuổi Thái Bình lên Hà Nội học hay làm chi đó, đất nước chia đôi chàng xuống tầu Marine Serpent từ bến Sáu Kho Hải Phòng đi theo chiều dài của đất nước, đổ bộ lên bến Nhà Rồng Sài Gòn. Năm ấy, năm chàng có vợ, những năm 1952, 1953, nhà văn nhớn mới có mười bẩy, mười tám tuổi. Ở số tuổi này chỉ có những anh con trai làng quê mới có vợ, do tục tảo hôn còn rơi rớt ở vùng quê Bắc kỳ.

Năm 1967 vợ chồng tôi xa nhau một thời gian, tôi sống một mình trong căn phòng nhỏ ở căn nhà số 21 đường Hồ Biểu Chánh, Sài Gòn. Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều ở căn phòng này trước tôi, Nguyễn ra Đà Nẵng làm việc ở hãng Sealand, tôi đến ở phòng này. Một chiều Trịnh Viết Thành ghé qua, dúi cho tôi mấy ngàn đi ăn hút cho bớt sầu đời, Thành nói:

— Đừng quá buồn. Đó là qui luật. Những cặp vợ chồng lấy nhau vì tình sống với nhau năm, bẩy năm, có khi mười năm, thế nào cũng bị một lần khủng hoảng đến có thể bỏ nhau. Vợ chồng mày cũng vậy. Nếu vượt qua được vợ chồng mày sẽ sống với nhau suốt đời.

Đúng quá Thành ơi! Những lời Thành nói một chiều ở đường Hồ Biểu Chánh năm 1967 vang vọng bên tai tôi dù thời gian đã qua ba mươi mấy mùa lá rụng. Hai năm 1974, 1975 Thành làm Thư ký tòa soạn nhật báo Quật Cường, tờ nhật báo của Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia thời Tổng Giám đốc Nguyễn Khắc Bình. Được coi như yếu nhân, ký giả Trịnh Viết Thành nhật báo Quật Cường có nhân viên cảnh sát bảo vệ mặc thường phục, có súng, chạy Honda theo sau xe hơi của Thành để bảo vệ Thành. Nón cối, giép râu, tóc bím, súng Aka ngơ ngáo vào Sài Gòn, cùng nhiều văn nghệ sĩ, ký giả khác Thành bị VC bắt Tháng Ba 1976. Sau chừng một năm quanh quẩn trong những phòng giam Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Nhà Tù Chí Hòa, một số anh em được tha, một số bị đưa đi các trại lao động cải tạo. Trong số văn nghệ sĩ lên Trại Tù Khổ Sai Gia Trung – Gia Lai ở Pleiku có Trịnh Viết Thành.

Năm 1977 tôi bị bắt, 1980 tôi được thả về Ngã Ba Ông Tạ. Tháng Năm 1984 tôi bị bắt lần thứ hai, các bạn tôi Trịnh Viết Thành, Thái Thủy, Lý Đại Nguyên, Tô Ngọc, Trần Dạ Từ, Chóe Nguyễn Hải Chí, vẫn tù mút chỉ ở trại Gia Trung-Gia Lai. Anh Nguyễn Mạnh Côn đã chết ở Trại Tù Khổ Sai Xuyên Mộc.

Năm 1990 lần thứ hai tôi từ ngục tù cộng sản trở về mái nhà xưa dzột nát và vòng tay gầy của người vợ hiền. Đã mười lăm năm kể từ Tháng Tư 1975. Tất cả những văn nghệ sĩ si-dzin cũng như mi-li-te, trừ những người đã chết trong tù và những người mới bị bắt hay lại bị bắt, đều đã trở về Sài Gòn với những đường phố cũ, vỉa hè xưa. Tôi được tin Thành đã về, anh đau yếu nặng, vợ anh đã bỏ anh để đi sống với người tình mới. Nghe nói anh này quen chị vợ Thành trước khi chị lấy Thành — chị này không phải là em gái Nguyên Sa — người lấy vợ của Thành cũng bị tù ở Gia Trung, khi lên trại thăm nuôi Thành chị vợ Thành gặp lại người cũ. Anh tù này được thả về Sài Gòn trước Thành.

Khoảng hai giờ trưa một ngày mùa mưa ở Thành Hồ đất trời u ám, vừa ở tù về được ít ngày tôi bỗng thấy nhớ Thành. Nhà Thành trước ở trong Cư Xá Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận, gần nhà anh Nguyễn Mạnh Côn, nhà Duyên Anh, nhà Văn Quang, nhưng nay Thành sống môt mình trong căn nhà của ông bà thân anh ở đường Nguyễn An Ninh bên chợ Sài Gòn. Tầng dưới của nhà này trước 1975 là nhà in Nam Sơn, nhà in của gia đình Thành, em trai của Thành điều hành nhà in này. Khi tôi đến tầng dưới bị chiếm làm cửa hàng lương thực của phường. Mấy căn phòng trên lầu đều bị chiếm cho cán bộ ở.

Tôi theo cầu thang lên tầng lầu trên cùng. Tầng này trước 1975 là nơi bà mẹ Thành ở. Trên sân thượng có điện thờ Phật, một khoảng trồng hoa, cây mai, cây trúc, bồn nước, hòn non bộ. Mười lăm mùa lá rụng chúng tôi mới gặp lại nhau. Tôi đến tìm Thành, thấy Thành tôi nhận ra Thành ngay. Vì bất ngờ không biết tôi đến có thể Thành không nhìn ra tôi.

— Nhận ra tao là ai không? Tôi hỏi.

Thành gọi ngay tên tôi:

— Hát Hát Tê. Mày chứ còn ai nữa.

Thành nói anh bị lao xương, con anh bảo lãnh anh sang Pháp, nhưng anh yếu quá chưa đi khám sức khỏe được. Thân xác Thành tiều tụy thê thảm quá, nhưng tôi cũng không ngờ anh lại ra đi nhanh thế.

Một chiều gần Tết tôi trở lại nhà in Nam Sơn xưa thăm Thành. Lên hết thang lầu tôi ngẩn ngơ trước cửa phòng Thành đóng kín, có cái khóa ngoài toòng teeng. Trở xuống tầng dưới, tôi hỏi thăm, người ta trả lời tôi:

— Bác Thành mất rồi.

Ở Paris những năm 1949, 1950 Thành lấy vợ là con gái ông Trần Văn Chi, em gái Nguyên Sa Trần Bích Lan, có con, khoảng năm 1957, 1958 ở Sài Gòn Thành bỏ vợ để lấy chị vợ sau. Ly di. Vợ cũ của Thành, tôi nghe nói, sang Pháp, để con lại Sài Gòn dưới quyền giám hộ của ông anh. Một tối Thành kéo tôi đi ăn chơi, con Thành học nội trú trong trường Taberd, ông giám hộ Trần Bích Lan không cho phép Thành được gặp con. Thành kể chuyện rồi nói với tôi:

— Nguyên Sa nó trọng dư luận các bạn văn nghệ sĩ lắm, mày nói với nó dùm tao, bảo nó cho tao gặp con tao, sao nó lại cấm không cho bố con tao gặp nhau.

Tôi gặp Nguyên Sa, nói chuyện Thành nhờ. Nguyên Sa nói:

— Tao ghét nó nhà quê. Là văn nghệ sĩ… chẳng thà nó nghiện thuốc phiện đi, đằng này nó lại chơi trò nhà quê có vợ bé.

Nguyên Sa là dân Hà Đông nhưng anh sống ở Hà Nội nhiều hơn ở Hà Đông. Tôi thấy anh dường như có vẻ không thích khi nghe ai nói đến chuyện anh là công tử Hà Đông. Tôi nhớ tên ở Hà Đông trước 1945 của anh là Phúc, khi gặp lại nhau ở Sài Gòn tôi thấy tên anh là Trần Bích Lan.

Năm 1956, hay 1957 tôi gặp lại Nguyên Sa trên vỉa hè Lê Lợi. Từ Pháp trở về Nguyên Sa ăn mặc thật giản dị, sơ-mi trắng ngắn tay bỏ ngoài quần, quần kaki, đi săng-đan, cổ tay không đồng hồ, túi áo không bút máy, thời gian đầu anh còn đội cái nón cối cũng mang ở Pháp về. Ra cái điều ta đã sống ở Paris, nơi trang phục sang đẹp nhất thế giới, về đây ta cóc cần chú ý đến chuyện phải ăn mặc bảnh bao như mấy anh Sài Gòn nhà quê. Anh kể chuyện văn nghệ văn gừng ở Pháp:

— Bọn sinh viên thiên tả chúng nó có cái trò họp nhau phê bình thơ của nhau, với chúng nó bài thơ nào cũng phải có ý nghĩa, phải nói lên một cái gì. Bọn tao đến họp là chúng nó bực lắm. Có lần tao nói “bài thơ này nó nói lên được cái là nó không nói lên cái gì cả.”

Anh nói:

— Tao làm văn nghệ, thấy không khá, nhớ lời dậy của ông cụ tao: phải làm thương mãi mới khá được, muốn khá phải làm thương mại.

Nguyên Sa không dậy học muớn, không làm hiệu trưởng mướn, anh làm chủ trường, anh có nhà in riêng trong trường Văn Học của anh. Thời tôi viết phóng sự Tây Đực, Tây Cái — sau đổi là Ông Tây, Bà Đầm — những năm 1955, 1956 trên nhật báo Ngôn Luận, Nguyên Sa kể:

— Tao vào lớp, thấy cứ mỗi lần tao hỏi đến một thằng học trò là mấy thằng bạn nó lại sì sào.. Cuốc Tô.. Cuốc Tô.. Tao không biết Cuốc Tô là cái gì. Tao hỏi mới biết Cuốc Tô là tên nhân vật trong phóng sự của mày. Lần sau vào lớp, tao hỏi đúng thằng học trò ấy: “Sao.. Ký giả Cuốc Tô.. Mấy hôm nay ký giả có gặp bà Dzô- dzan không?” Cả lớp chúng nó cười ồ lên. Dậy học thầy phải như thế học trò nó mới chịu.

Đầu năm 1995 bánh xe tị nạn đưa tôi sang Cali, tôi gặp lại Nguyên Sa. Anh đã bị giải phẫu ở cổ vì ung thư, anh đi lại, lái xe, ăn uống bình thường, chỉ có hơi yếu. Anh có tờ tuần báo Đại Chúng, anh đưa tôi đến tòa soạn nhật báo Người Việt, tòa soạn Việt Báo. Anh bảo tôi:

— Mày phải ở Cali. Đồng bào mày nó chia rẽ, nó nhỏ nhen, nó lắm chuyện, nó không ra làm sao cả, đồng ý, nhưng nó là đồng bào mày. Mày viết, mày phải sống gần đồng bào mày mày mới viết được.

Tôi nhờ anh tìm cho tôi một cái tên chung cho những bài tôi viết, như kiểu Nguyên Sa có mục “Bông hồng cho văn nghệ” trên nhật báo Sống ngày xưa, Nguyên Sa nói:

– Mày lấy Viết ở Rừng Phong hay quá rồi còn gì, còn phải tìm tên nào nữa!

Advertisements

5 Responses

  1. Thưa bác,
    Cháu đang ở Michigan, không có tiệm sách VN. Xin bác cho cháu địa chỉ nhà sách, để cháu mua vài cuốn sách của bác. Nhất là cuốn SỐNG & CHẾT TẠI SAIGON.
    Cháu cảm ơn bác rất nhiều. Kính chúc bác sức khỏe AN KHANG.
    cháu – thuyvi

  2. Bac oi, chau tinh co thay bai viet cua bac ve Nien Cheng va rat muon doc cuoc sach nay. Cam on bac rat nhieu.

  3. Chúc bác luôn khỏe,để bọn trẻ còn biết về SG xưa,tên những con đường,từng khu phố mà bác đả đi qua,quán ăn đêm,mấy quán nhậu ở vỉa hè,bác gom hết viết thành SG sữ .

  4. Những tác phẩm xuất bản tại Hoa Kỳ của HOÀNG HẢI THỦY:

    – SỐNG và CHẾT ở SÀI GÒN
    – VIẾT Ở RỪNG PHONG
    – ĐẤT HỒ NGÀN NĂM

    Nhà Xuất Bản TIẾNG QUÊ HƯƠNG
    P.O. Box 4653
    Falls Church, VA 22044
    Phone 703.573.1207
    E-mail: uyenthao@juno.com

    Thư cho HHThủy xin gửi về :
    CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG
    Tuần báo ĐỜI NAY
    P.O. Box 5061
    Falls Church, VA 22044.

    • Hình như Công Tử Hà Đông còn có những cuốn truyện dưới đây đã được ấn hành ở US & Canada, nhưng không để lại địa chỉ liên lạc chắc phải có lý do.

      – Rừng Phong Thu Đã … (SàiGòn Nhỏ)
      – Thiếu Phụ Chiếc Xe Khẩu Súng (Thư Viện VN)
      – Mang Xuống Tuyền Đài (Làng Văn – Canada)
      – Tiếng Kêu Của Máu (Làng Văn – Canada)
      – Dữ Hơn Rắn Độc (Tuổi Xanh – đã đăng trong trang Web này)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: