• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

ĐẠI ÚY 1966

Nhu Loan and Van Quang

Nhà Văn VĂN QUANG và Nữ Diễn Viên Điện Ảnh NHƯ LOAN, vai chính trong Phim “Đời chưa trang điểm”, phim làm theo tiểu thuyết cùng tên của Văn Quang. Cô Như Loan sang Hoa Kỳ trước Ngày 30 Tháng Tư 1975, năm 2000 cô trở về Sài Gòn, làm chủ hàng ăn Phố Xưa.

– – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –

Tôi kể một chuyện Ngày Xưa.

MỘT NGÀY TẠI HÀ NỘI. Tác giả PHẠM HUẤN. Xuất bản năm 1987, Hoa Kỳ.

Cuộc Hành Trình Đặc Biệt Ngày 18 – 2 – 1973.

Thiếu Tá Phạm Huấn, Thiếu Tá Đinh Công Chất, Thiếu Úy Dương Phục, ba sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là thành viên cuả Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên, đã đi Hà Nội để quan sát vụ trao trả Tù binh Mỹ ngày 18 tháng 2 năm 1973. Ba sĩ quan trên là những người đã sống ở Hà Nội nhiều năm nay trở lại Hà Nội và thấy cảnh tiêu điều, buồn thảm của Hà Nội. Thành phố Hà Nội còn nguyên vẹn, nhưng gần 20 năm dưới chế độ Cộng Sản, Hà Nội 36 phố phường của những ngày trước năm 1954 không còn nưã, hay nói cách khác Hà Nội của chúng ta, của những người không Cộng Sản, đã chết thật.

Ngưng trích Một Ngày tại Hà Nội.

Các sĩ quan VNCH trong phái đoàn chỉ đến Hà Nội và chỉ ở Hà Nội trong một ngày — ngày 18 tháng 2 năm 1973 — buổi sáng phái đoàn trên phi cơ Mỹ bay từ phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn đến phi trường Gia Lâm, Hà Nội. Từ Gia Lâm, phái đoàn đến Nhà Tù Hỏa Lò trong thành phố Hà Nội thăm các sĩ quan tù binh Mỹ ở đây, rồi phái đoàn trở về phi trường Gia Lâm, dự khán cuộc 20 tù binh Mỹ đầu tiên được trao trả lên phi cơ Mỹ, các ông sĩ quan ta cùng phái đoàn và 20 tù binh Mỹ bay về Sài Gòn trong ngày 18 / 2/ 1973.

Tối ngày Thứ Hai 19 tháng 2, 1973 Đài Phát Thanh Quốc Gia Việt Nam truyền đi cuộc phỏng vấn các sĩ quan VNCH vừa đi Hà Nội. Dưới đây là một số lời thuật lại chuyến đi của Thiếu Tá Phạm Huấn trong cuộc phỏng vấn.

Phạm Huấn. Trích trong “Một Ngày ở Hà Nội”:

Pham HuanTừ Gia Lâm về Hà Nội chúng tôi di chuyển bằng loại xe buýt nhỏ, qua sông Hồng, cầu Long Biên bị máy bay dội bom sập mất ba, bốn nhịp. Có một đoạn đã được sưả lại nhưng còn nhiều đoạn rất dài chưa sửa xong. Họ làm hai cái cầu nổi để qua sông Hồng. Ngày xưa mỗi lần từ Gia Lâm về Hà Nội, ta thường đi mất 10 phút xe ô tô, nay xe qua cầu nổi mất khoảng 30 phút. Con đường đi từ bờ sông vào thành phố cho đến lúc tôi nhìn thấy toà nhà Bác Cổ là một con đường nhỏ, bụi mù và bẩn thỉu.

( .. .. .. )

Cột Đồng Hồ ở đường Bờ Sông vẫn còn. Trong trung tâm thành phố Hà Nội ngoài Toà Tổng Lãnh Sự Pháp ở đường Trần Hưng Đạo — Gambetta cũ — bị sập, còn những đường phố chính như đường Lý Thường Kiệt, Gia Long, Tràng Tiền, Tràng Thi, chung quanh Hồ Hoàn Kiếm thì còn nguyên vẹn. Nhưng rất tiếc, tôi không hiểu tại sao thủ đô Hà Nội sau 19 năm duới chế độ Cộng Sản, bây giờ tiêu điều và xơ xác quá. Không có qua một kiến trúc mới nào ở Hà Nội từ sau 1954. Tôi không thể ngờ Hà Nội lại tiêu điều quá sự tưởng tượng của tôi. Nhà cửa rất là cũ kỹ, không được sưả sang, quét vôi gì hết. Đi trên những đừơng Gia Long, Tràng Thi, Tràng Tiền của Hà Nội mà thấy dân chúng phơi quần áo, cả quần đen, áo màu cháo lòng trên cửa sổ thì còn gì là vẻ thanh lịch xưa của phố xá, nhà cưả Hà Nội.

( .. .. .. )

Một ngày ở Hà Nội, trong khoảng 5, 6 giờ đi ngoài phố, tôi chỉ đếm được có 12, 13 cái xe du lịch loại nhỏ, theo lời các sĩ quan Bắc Việt thì hầu hết là xe của nhà cầm quyền Hà Nội. Tôi cũng không nhìn thấy một phụ nữ nào mặc áo dài. Người phụ nữ duy nhất mặc áo dài tôi nhìn thấy trong ngày công tác ở Hà Nội là cô nữ ký giả ở phi trường Gia Lâm. Còn tất cả là quần đen, áo cánh vải thô mầu xám hoặc mầu trắng cháo lòng. Phương tiện di chuyển “văn minh” cuả Hà Nội bây giờ là những chiếc xe đạp cũ kỹ. Những xe hàng cổ lỗ và những xe nhà binh do Nga chế tạo đều dành cho bộ đội và công an Bắc Việt dùng.

( .. .. .. )

Nghe tiếng chuông xe điện kêu leng keng tôi xúc động không thể tượng tượng được. Tôi nhớ những chuyến xe điện năm xưa từ Bờ Hồ qua Phố Huế, Chợ Hôm, từ Bờ Hồ qua Hàng Bông, Cưả Nam, Quốc Tử Giám, Thái Hà Ấp, Ngã Tư Sở, vào Hà Đông.

Giữa trung tâm Hà Nội, đồng bào ta toàn quần đen, áo xám, nhiều người đi chân đất. Trời lạnh mà đồng bào quần áo rất mỏng mảnh. Hà Nội không bao giờ bị kẹt xe. Thời mình là học sinh, mình đi xe đạp hàng ba, nay đồng bào đi xe đạp hàng năm, hàng sáu.

( .. .. .. )

Khi chúng tôi vượt qua những “ông” lính Bắc Việt “lỏi tì” gác cổng, chừng 15, 16 tuổi; vào trong Nhà Hỏa Lò thì gặp ngay một ông “Cai Ngục” — Đại Uý Chỉ Huy Trưởng Hoả Lò – mặt rất dữ , ông ta toàn gọi tù binh Mỹ là “chúng nó”, “những thằng tù”.

Có nhiều chuyện lố bịch xảy ra ở Hỏa Lò. Như khi Phái Đoàn tới, đại diện Bắc Việt cho biết là 20 tù binh Mỹ được phóng thích hôm nay không chịu về, lý do: họ không muốn được phóng thích trước những bạn đồng đội của họ đã bị giam ở đây lâu ngày hơn họ. Các sĩ quan Mỹ trong Ban Liên Hợp tỏ ra lo ngại, nhưng Thiếu Tá Chất và tôi biết ngay lại có một trò bầy đặt gì đây. Cuộc “thương thuyết” diễn ra trong 1 giờ 45 phút và rồi thì 20 tù binh Mỹ được “thuyết phục” chịu ra về.

Tù binh Mỹ ở Hỏa Lò bị đưa ra trình diễn theo lệnh của các sĩ quan Bắc Việt. Họ cứ làm như họ không sửa soạn gì cả. Khi Phái Đoàn vào Nhà Hỏa Lò thì một số tù binh Mỹ đang tắm truồng ở bể nước ngoài sân, vài người đang cạo râu, vài người đang được lính Bắc Việt hớt tóc. Đây là những cảnh ban Quản Đốc Hỏa Lò cho “trình diễn”, ai cũng biết như vậy. Nhưng viên Trung Tá Bắc Việt hướng dẫn Phái Đoàn làm bộ la viên Đại Úy Quản Đốc Nhà Tù:

“Hôm nay Phái Đoàn đến, sao không cho chúng nó mặc quần áo chờ đón?”

Rồi chính ông ta lại nói:

“Ừ, mà thôi. Cứ kệ chúng nó, cho chúng nó tự nhiên.”

Tôi cảm thấy các tù binh Mỹ trong Hoả Lò đều có một nỗi sợ ghê gớm. Chắc là họ bị hành hạ rất nặng cả về thể xác và tinh thần. Khi chúng tôi nghiêm chào các tù binh, trong một thoáng tôi thấy tất cả anh em tù binh mắt đều có ngấn lệ. Rồi họ cúi gầm mặt xuống ngay. Một sĩ quan trong Phái Đoàn hỏi một tù binh Mỹ:

“Anh được đưa về Hilton Hà Nội này bao lâu rồi?”

Người tù binh đáp:

“Hai ngày.”

Viên Cai Ngục trừng mắt nhìn người tù binh. Người sĩ quan trong Phái Đoàn yêu cầu người tù binh nhắc lại câu vưà nói. Người tù binh không dám nói lại.

Trước khi đi ra, tôi nói với các tù binh Mỹ:

Các anh là những anh hùng của nước Mỹ, các anh đã hy sinh cho sự đứng vững của Thế Giới Tự Do trong số có Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà.”

Tôi nghiêm chào họ và họ đều chào lại tôi. Giây phút ấy thật cảm động.

Ngưng trích “Một Ngày tại Hà Nội.”

Tác phẩm “Một Ngày tại Hà Nội” 200 trang, ở đây tôi chỉ trích đăng vài đoạn ngắn Phạm Huấn nói về Hà Nội 1973. Tôi viết bài này là để đăng lên hình ảnh Người Sĩ Quan Quân Lực Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà Phạm Huấn, trong quân phục, đứng giữa lòng thành phố Hà Nội năm 1973. Từ ngày thành lập đến phút tan vỡ, Quân Lực từng oanh liệt trong 20 năm của Quốc Gia tôi chỉ có “một sĩ quan trong quân phục đứng giữa thành phố Hà Nội,” Sĩ quan ấy là Đại Uý Phạm Huấn, như quí vị thấy trong bức ảnh năm 1973 đăng cùng bài Viết ở Rừng Phong này.

Và để tôi kể một chuyện ngày xưa.

Ngày xưa ấy là những năm 1966, 1967, tôi làm nhân viên tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến. Thời gian đầu toà soạn Tiền Tuyến ở Nhà In Hợp Châu, đường Cống Quỳnh, rồi vào trong khuôn viên Cục Tâm Lý Chiến đường Hồng Thập Tự. Tòa soạn Tiền Tuyến những năm ấy có Phan Lạc Phúc, Huy Vân, Ngọc Hoán, Viêm Hồng, anh Vũ Uẩn — Võ sĩ Quyền Anh Vũ Công Uẩn của Làng Võ Bắc Kỳ những năm trước 1945 — Đinh Hiển, tức Hoạ sĩ Hĩm. Khi tòa soạn ở Nhà In Hợp Châu, Tiền Tuyến có Hoàng Anh Tuấn, khi tòa soạn dọn vào trong Cục Tâm Lý Chiến, Hoàng Anh Tuấn lên Đà-lạt làm Quản Đốc Đài Phát Thanh Đà-lạt.

Những năm ấy tôi hút một ngày khoảng 50 điếu thuốc lá. Ra khỏi giường lúc 5 giờ sáng, vợ tôi, dậy từ 4 giờ, đun nước, pha cho tôi ly cà phê đen, để đó, nàng vào giường ngủ tiếp với các con, tôi rửa mặt, bận y phục, hút khoảng 3 điếu thuốc đầu tiên trong ngày, uống ly cà phê, ra khỏi nhà, đến toà báo lúc 6 giờ sáng. Những sáng cuối năm trời lạnh, trời Sài Gòn lúc 5, 6 giờ sáng có khi còn trăng sao. Từ 6 giờ sáng đến 9 giờ, ngồi làm việc trong tòa soạn, tôi hút khoảng 5 đến 6 điếu thưốc.

Đến 9 giờ thì bụng tôi cồn cào quá đỗiù, dạ dày tôi chỉ có chất cà phê đen, trong phổi tôi chỉ có khói thuốc điếu và nicotine, tôi phải ăn sáng để hoá giải chất khói trong tôi. Cục Tâm Lý Chiến những năm ấy chưa có cantine. Cuc cho phép chị vợ một hạ sĩ quan mở một một quán cà phê-nước ngọt- hủ tíu – cơm cho binh sĩ có nơi ăn uống mà không phải ra ngoài trại. Quán ăn nhỏ ở góc trại, mái tôn, vách tôn, có chừng bốn, năm cái bàn nhỏ. Gần như sáng nào trong tuần vào khoảng 9 giờ tôi cũng vào quán này ăn sáng, để khỏi phải đi xa, và ăn xong còn phải trở vào tòa soạn làm việc tiếp. Tôi chỉ ăn sáng một trong 2 món: bánh mì ốp-la, hay bánh mì ra-gu.

Mỗi sáng chị chủ quán thường bảo anh con trạc 10, 12 tuổi

– Ra hỏi Đại Úy sáng nay ăn gì.

Ăn xong tôi uống ly cà phê đen, và tôi chỉ uống cà phê đen nên thấy tôi ăn xong, không cần hỏi Đại Úy uống gì, chị bảo anh con:

– Bưng cà phê, Đại Úy.

Năm 1952 khi tôi dzô Lính Đệ Nhất Đại Đội Võ Trang Tuyên TruyềnPremière Compagnie de Propagande Armeé — Phòng Năm, Bộ Tổng Tham Mưu, Thiếu Tá Trần Tử Oai là Trưởng Phòng Năm, tôi được mang lon Trung Sĩ — Sergent — 15 năm sau tôi trở lại Cục Tâm Lý Chiến và được chị chủ quán gọi là Đại Úy. Ấy là bởi vì tuy tôi chỉ bận đồ si-dzin — thường dân — nhưng vì tôi hay ngồi ăn sáng trong quán với ông Đại Úy Nguyễn Quang Tuyến và ông Đại Úy Phạm Huấn — hai ông Đại Úy này năm 1966, 1967 làm việc trong tòa soạn báo Chiến Sĩ Cộng Hoà, toà báo này ở ngay cạnh toà soạn báo Tiền Tuyến, nên gần như ngày nào tôi cũng được gặp hay nhìn thấy hai ông. Hai ông cũng hay ăn sáng, cà phê ở quán trong Cục. Chị chủ quán biết tôi làm trong tòa báo Tiền Tuyến, chị không một lần thấy tôi bận quân phục mang lon Đại Úy, có thể chị không biết tên tôi, xong chị thấy tôi thường ngồi ăn với hai ông Đại Úy quân phục, lon lá đàng hoàng, tôi trạc tuổi hai ông, tôi có thái độ ngang hàng với hai ông, hai ông có thái độ ngang hàng với tôi, nên chị nghĩ tôi cũng là Đại Úy. Và chị gọi tôi là Đại Úy.

Đến một sáng, tôi ngồi ăn một mình. Ăn xong, tôi nghe chị chủ quán bảo con:

– Bưng cà phê Thiếu Tá.

Tôi hơi lấy làm lạ. Chị chủ vẫn gọi tôi là Đại Úy, sao hôm nay chị lại gọi tôi là Thiếu Tá? Tôi théc méc tí chút rồi quên ngay — đang là Đại Úy có bị người ta gọi là Trung Úy mới théc méc, là Đại Úy mà được gọi là Thiếu Tá théc méc ký gì? — tôi trở về toà soạn làm việc tiếp. Rồi tôi thấy ba, bốn ông sĩ quan vào phòng chúc mừng ông Đại Úy Phan Lạc Phúc vừa lên Thiếu Tá. Và tôi hiểu tại sao hôm nay chị chủ quán lại gọi tôi là Thiếu Tá. Chị được biết trong Cục có mấy ông Đại Úy vừa được lên Thiếu Tá, trong số có ông Đại Úy báo Tiền Tuyến, nên chị nghĩ cấp bậc mới của tôi là Thiếu Tá.

Trong số sĩ quan đến chúc mừng Thiếu Tá Phan Lạc Phúc sáng hôm ấy có Đại Úy Nguyễn Đình Phúc, ông Đại Úy này còn có tên là Phúc Khàn, và ông cũng vừa lên Thiếu Tá hôm qua. Thấy hai ông Thiếu Tá Phúc trong phòng, tôi tức cảnh làm câu đối:

Phúc Lạt, Phúc Khàn, hai Phúc thiếu,
Quang Văn, Quang Vũ, một Quang thưà.

Hai ông sĩ quan tên Đình Phúc, Lạc Phúc cùng là Thiếu Tá. Lạc nói theo giọng Nam đôi khi nghe như Lạt. Năm ấy ông Cục Trưởng Cục Tâm Lý Chiến là Đại Tá Vũ Quang, Cục lại có ông Thiếu Tá Văn Quang Nguyễn Quang Tuyến — ông bạn Đại Úy Văn Quang của tôi cũng mới lên Thiếu Tá.

Quân tử Tầu nói:

“Nước mà có “vũ quang”, tức “vũ sáng”, hay có “văn quang” “văn sáng”, là nước được trị.”

Cục Tâm Lý Chiến Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị Quân Lực Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà những năm 1966, 1967 có cả hai “vũ quang, văn quang.”

Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến — Nhà Văn Văn Quang — là vị Quản Đốc cuối cùng Đài Phát Thanh Quân Đội Quốc Gia VNCH. Về nhan sắc ông — xin quí vị nhìn ông trong ảnh ông ngồi bên Nữ Diễn Viên Điện Ảnh Như Loan, tôi, CTHĐ và người anh em cùng vợ với tôi là HHT xin miễn có lời bình loạn — tôi thấy tôi chỉ cần viết là về nhan sắc ông Văn Quang cũng bình thường thôi, viết rõ là ông cũng chỉ như tôi thôi, ông không đẹp trai, không xí trai hơn tôi bao nhiêu, nhưng về mặt Tình Ái, rõ hơn là về mục Đàn Bà, ông có số Đào Huê khá nặng. Tôi vẫn gọi ông là Thuyền Trưởng Hai Tầu theo nghĩa ông Thuyền Trưởng chạy hai tầu cùng một lúc, còn như về mục ông Thuyền Trưởng bỏ tầu này ôm la-bàn sang chạy tầu khác, hay Thuyền Trưởng bị Bà Chủ Tầu cho nghỉ việc, tìm tầu khác để chạy, lúc nào Thuyền Trưởng cũng chỉ chạy một tầu thôi, thì ông Nhà Văn Văn Quang là Thuyền Trưởng Năm Tầu lận. Năm Tầu là kể những bà từng sống vợ chồng mí ông bà hai, ba năm, bà năm, sáu năm, không kể những bà nhân tình, nhân bánh lâu lâu gặp nhau, ái tình nhấp nhoáng.

Năm 1988 đi tù CS về ông Văn Quang trên răng, dưới giép, căn nhà của ông trong Cư Xá Chu Mạnh Trinh bị lấy mất, cả bốn bà vợ ông đều đã sang sông, nôm na là đã vượt biên sang Huê Kỳ. Ông sống độc thân, ông viết tiểu thuyết tình vô thưởng vô phạt ký tên tác giả dzởm bán cho nhà xuất bản. Ông là Nhà Văn thứ nhất đi học Khoá Xử Dzụng Computer ở trường hẳn hoi, học có bài bản, bí kíp đàng hoàng, ông cũng là người xử dzụng Computer thứ nhất, nhuần nhuyễn nhất trong số những ông nhà văn Sài Gòn cũ còn viết lách ở Sài Gòn cờ đỏ.

Vì những lý do riêng, không phải vì ghét Mỹ, Nhà Văn Văn Quang, tức Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến, không đi HO sang Huê Kỳ. Từ năm 2000 ông viết loạt bài “Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự” gửi qua Internet sang các nước Âu Mỹ. Loạt bài thời sự viết về Sài Gòn của ông được người Việt hải ngoại đọc, cho là hay, theo dõi, được đăng trên nhiều báo Việt, Trang Web Việt ở hải ngoại.

Khoảng Tháng Hai 2009 Công An Thành Hồ đến nhà riêng của Văn Quang, lấy đi tất cả dàn máy computer của ông. Nhà Văn bị gọi đến cơ quan khai báo về những bài ông viết gửi ra nước ngoài, nhưng ông không bị bắt giam ngày nào. Ông ngỏ ý muốn các báo Việt, các bạn ông ở nước ngoài “đừng làm ồn ào vụ ông, ông được đối xử hòa nhã, lịch sự..vv..vv..” Ông cho rằng “ông được người ta đối xử hòa nhã, ông muốn tỏ ra hòa nhã đối xử lại..”

Đã năm, sáu tháng qua, “Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự” hết còn xuất hiện ở hải ngoại. 300 bài “Lẩm Cẩm” trữ trong máy mất luôn. Tôi chẳng viết gì về trường hợp Văn Quang Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự cho đến hôm nay. Đôi khi tôi thấy tôi không viết gì về Văn Quang cũng kỳ, bạn đọc người Việt có thể nghĩ:

Những người khác bị bọn Công An Cộng Sản nó đàn áp, nó cấm viết thì ông viết, ông chửi loạn cào cào, đến ông bạn của ông bị thì ông im thin thít như gái ngồi phải cọc.”

Những năm 1991, 1992 có lần tôi nói với Văn Quang:

– Tao chỉ được mày tao với mấy thằng mày là Trung Tá..

Và tôi hỏi Văn Quang:

– Nếu không có gì thay đổi, nếu Quốc Gia mình, Quân Đội mình còn đến bây giờ, mày nghĩ có thằng nào trong số bọn mày lên được Tướng để tao được mày tao với Tướng không?

Văn Quang trả lời:

– Có thể lắm chứ.

Advertisements

One Response

  1. Tôi là dân sinh ra từ Hà nội và rời khỏi nó để tìm tự do vào năm 1954, lúc đó tôi mới học lớp Tư trường Thanh quan. Tức là còn rất nhỏ, với trí nhớ chưa gọi là nhiều lắm. Vì còn là học trò, nên chưa đi chơi đâu được nhiều, ngoại trừ những nơi vốn đã là danh thắng nổi tiếng của Hà nội như : hồ Hoàn kiếm, chùa Quán sứ, Chùa Trấn quốc, hồ Tây v.v…

    Đến năm 1988 tôi được thả, trong khi chờ tàu về Nam, tôi thả bộ trong lòng Hà nội mà không cần phải hỏi đường xá gì cả. đi một mạch đến Ô Quan Chưởng tức gần nơi tôi và gia đình cư ngụ xưa kia khi còn ở tại Hà nội. Tôi vẫn nhận ra căn nhà cũ, nó tồi tàn hơn xưa rất nhiều. Nó được chia ra làm ba hộ cho bốn gia đình cùng trú ngụ. Hỏi thế có thảm hay không.

    Kinh khủng hơn nữa … là vấn đề vệ sinh … thì ôi thôi, một thằng tù mới ra trại, mà chịu nhịn thà chết chứ không thể đi nhờ được. Thảm quá !

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: