• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Còn Khổ, Con Ơi!!!

Chinese prisoners

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, Tháng Bẩy năm 2009, đọc Hoa Kỳ “Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn, tôi viết bài này:

Đêm rừng, một tiếng chim xa lạ
Một tiếng giày canh bước hụt đà
Người lính đi tuần pin lấp lóa
Trong xà-lim tiếng gã điên la
Ta nằm không động nghe từ tạ
Mảng đời niên thiếu lắng trôi qua
Đau ốm lao tù thui chết cả
Bao búp xanh lòng mới nhú ra. (1968)

Thơ Nguyễn Chí Thiện, làm năm 1968 trong một trại tù khổ sai ở miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Người tù đêm không ngủ được, nghe tiếng thời gian chậm bước đi, và những tiếng của cuộc sống bên ngoài vẳng đến. Nhà tù giữa rừng, người tù đêm nghe tiếng chim, tiếng thú rừng. Hôm nay tôi mời bạn đọc chuyện chim rừng của những người tù miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa qua lời kể của Bùi Ngọc Tấn, tác giả “Chuyện Kể năm 2000”, những con chim rừng có những tiếng kêu kỳ lạ như Khó Khăn Khắc Phục, Còn Khổ, Ới Con Ơi..

Chuyện Kể Năm 2000. Bùi Ngọc Tấn. Nhà Xuất Bản Tuổi Xanh. Trang 172,173, 174, 175. Trích:

Ba người bạn gần như ngừng ăn. Nghe. Nghe hắn kể về tiếng chim kêu. Các loại. Như tiếng chim báo hiệu bình minh trong tù. Chưa sáng hẳn, rừng còn dầy đặc một màu, con chim ấy đã bay dọc theo lán giam của hắn. Lán hắn nằm ở bờ dốc, ngay phía ngoài, sát hào và tường rào cao. Con chim rừng bay dọc thung lũng. Tiếng chim to lên rất nhanh. Như tiếng lợn bị chọc tiết. Và cũng tắt đi ngay vì con chim bay rất nhanh. Hắn cứ thót cả tim. Trở mình nằm sấp, hắn nhìn ra cửa sổ. Nhìn ra hàng rào cao dày. Con thằn lằn không chui qua được. Hắn nhìn ra rừng hoắm sâu những thung lũng, những khe núi chờ trời sáng, chờ quản giáo tới mở cửa để ra ngoài.

Tinh mơ nào cũng một con chim ấy, bay dọc hàng rào của trại, từ phía dốc vào thung lũng. Nghĩa là ngang qua đầu hắn. Vừa bay vừa phóng ra những tiếng kêu thất thanh ấy. Như một mũi dao khoán xoáy vào không trung. Chẳng hiểu có việc gì mà nó bay sớm thế, nhanh thế và kêu thét lên như thế. Hắn chưa bao giờ trông thấy nó mà chỉ nghe thấy tiếng eng éc như tiếng lợn vút qua. Đó là tiếng chim báo bình minh của hắn.

Rồi tiếng chim “khó khăn, khắc phục”. Bọn hắn đều biết phải chịu đựng, phải khắc phục, vượt qua những ngày dài đằng đẵng, những nỗi khổ cực không ai hiểu nổi này. Phải nói ai nghĩ ra chuyện bỏ tù thật là vĩ đại. Nhân loại phải tìm được tên người ấy để mà lưu danh, để mà tạc tượng. Người đã có sáng kiến vĩ đại khiến tất cả mọi quốc gia trên trái đất này đều áp dụng. Vĩ nhân ấy phải rất hiểu bản chất tự do của con người. Có gì đâu. Chỉ tước đoạt tự do của anh thôi. Bắt anh, nhốt anh một nơi. Anh phải tuân theo lệnh của tôi. Phải đứng, đi, ngồi, ăn, làm, nghỉ theo lệnh của tôi. Anh không còn mối dây liên hệ nào với những người thân thiết của anh. Thế mà hóa ra địa ngục. Thế mà hóa ra tận cùng khủng khiếp.

Tiếng chim ở bên này rừng: Khó khăn.

Tiếng chim rừng bên kia đáp lại: Khắc phục.

Đó là những lời nhắn nhủ, những lời đồng cảm.

Nhưng nếu cứ nhắc đi, nhắc lại, chỉ nhắc đi nhắc lại những lời đồng cảm thì đến phát điên mất. Đừng. Đừng làm như vậy. Đó chính là sự lãnh đạm đối với đau khổ của con người, vô tình, hơn nữa giả dối đến mức tệ hại nhất. Đó chính là vô đạo đức. Khó khăn… Thôi, đủ rồi. Cái điệp khúc này tao nghe mãi rồi. Thuộc lòng rồi. Bao giờ chả thế. Hãy ngậm ngay mồm lại Rừng ong ong. Thung lũng ong ong. Không khí hầm hập. Nóng từ rừng núi toát ra và cũng từ rừng núi vọng ra lời nói vu vơ mà cứ xoáy vào lòng:

Khó khăn.

Khắc phục.

Rồi con chim “Còn Khổ”. Đó mới thật là tiếng của kinh hoàng. Còn khổ. Còn khổ. Không. Không thoát được cảnh này đâu. Còn khổ. Còn khổ. Đừng mong đợi một ngày qua làm gì. Ngày mai cũng sẽ hệt như ngày hôm nay. Có án đâu mà tính được qua một ngày, rằng mình đã có thêm cái vốn, rằng cõi đời khốn nạn của mình đã bớt được một ngày, để tăng thêm nghị lực sống. Còn khổ. Còn khổ. Rừng núi báo cho các anh biết đấy. Luật pháp báo cho các anh biết đấy. Chúng tôi không giấu giếm.

Còn khổ. Những người tù nhẫn nhục cúi đầu chịu đựng. Còn khổ. Voòng Kỷ Mình, mặt dăn dúm, quắt quẹo, nhăn nheo như quả táo tầu khô, hao hao mặt khỉ, nhìn trước, nhìn sau, xoay lưng lại, vặt vội nắm rau muống còn ướt đẫm phân tươi, ấn vào gô để tí nữa mang xuống suối rửa. Còn khổ. Hắn quẩy thùng nước phân thứ một trăm trong ngày, leo dốc, thở ra mang tai, mặt trời đốt vai rát bỏng. Dòi ở hố phân bám vào chân hắn trắng xóa, con rơi xuống đất theo từng bước chân huỳnh huỵch, con vẫn tiếp tục bò ngược lên tận bẹn. Còn khổ. Sao bây giờ vẫn chưa nghỉ giải lao. Còn khổ. Cái lưng cánh phản gù gù của Lý Xìn Cắm nâu thẫm như đồng lóa lên dưới nắng. Còn khổ. Già Gọi quệt tay áo ngang mặt. Nước mắt hay mồ hôi. Còn khổ. A Thềnh, người tù già dân tộc Nùng đi sang luống rau khác, bàn chân không quen đi ở mặt bằng cứ vất ra phía trước. Còn khổ. Còn khổ. Già Đô quắc mắt nhìn vào rưìng sâu, rít lên: “Còn khổ cái con cặc tao đây này.” Còn khổ. Hắn đã tưới xong gánh phân và đi xuống múc gánh khác. Hố phân rộng như một cái ao còn khổ, bậc cấp kè đá gân gà vững chãi. Nước từ suối chẩy xuống theo một lạch nhỏ róc rách còn khổ mặt hố phân đóng bánh như bê-tông xám đen. Anh em gánh vệ sinh vừa từ trong trại ra đổ ụp xuống mấy thùng phân tươi, rồi lặng lẽ bước về phía suối cọ thùng. Còn khổ, ừ, thì Còn khổ. Xong rồi. Chấp nhận. Được chưa? Còn khổ. Quên đi, Khuấy phân ở chỗ cầu bến này đã. Cho phân tan ra còn khổ cho nhặng bay lên xoáy vòng tròn đen đặc vù vù như ong vỡ tổ còn khổ, nhặng đâm cả vào mặt vào tay, nhăng đậu cả lên tóc còn khổ cho dòi cuồn cuộn. Còn khổ. Vớt những giấy những giẻ, những mảnh quần áo còn khổ những mảnh chăn quấn quít những đóm nứa cây que mà anh em người dân tộc dùng như một thứ giấy vệ sinh, vất lên bờ hố. Còn khổ. Lội xuống cúi ghé thùng múc. Còn khổ. Hơi nóng mằn mặn bốc lên chàm vào mắt vào mồm. Còn khổ. Loạng choạng lên dốc với một ý chí, một quyết tâm mới không biết từ đâu đến. Còn khổ. Còn khổ. Đừng dọa tao. Tao sẽ sống. Dù con khổ. Khổ đến bao giờ chăng nữa tao vẫn sống.

Còn khổ còn khổ còn khổ còn khổ còn khổ còn khổ. Một loạt tiếng chim liên tiếp trong trẻo véo von trêu chọc. Những tiếng chim non nhí nhảnh. Nhịp điệu cũng nhanh. Nhanh và trong. Như lũ trẻ vô tư tót bụng trêu chòng những người bất hạnh mà không biết rằng mình đang làm khổ họ. Còn khổ. Tiếng một con chim bố chững chạc nghiêm trang một giọng phán truyền đầy hăm dọa như định mệnh cất thành lời Còn Khổ. Còn Khổ. Tiếng con chim già trải đời ôn tồn báo trước như an ủi, xót thương mà sao vẫn muốn khùng lên vạc lại. Còn khổ. Những người tù tuyệt vọng nhìn nhau. Còn khổ. Hẳn rồi. Nhưng còn khổ đến bao giờ? Có lần hắn nghe thấy một giọng trầm từ rừng sâu vọng ra. Một buổi chiều rừng nhợt nhạt hoang vu.

Coòon khoổo… Tiếng nghe uể oải và mệt nhọc. Đúng là tiếng của đất, của rừng than thở một mình, đồng điệu với tiếng rên không thành lời âm thầm trong lòng hắn. Và tiếp theo là tiếng thở dài của rừng sâu. Thỉnh thoảng rừng vẫn thở dài như vậy. Hắn gai người… Còn một loài chim nữa. Hắn cũng chỉ nghe thấy có một lần. Hôm ấy hắn định về trại (hắn đã được giữ chân coi vườn), thì từ phía sau rừng đi ra một ông công an võ trang. Ông bảo hắn:

— Các ông ấy đánh cá phía trên đấy.

Hắn như mở cờ trong bụng, cầm ca chạy lên, định đến xin một con. Hắn cứ theo dòng suối vào sâu mãi. Trời thâm u đầy mây như sắp đổ mưa rào sớm. Giữa rừng lại càng sầm lại. Một mình hắn với cái ca. Bỗng tiếng chim kêu rất to ngay bên cạnh như tiếng người: “Ới con ơi!” Tiếng ơi không nhỏ dần đi mà lại to lên. Đúng lúc to nhất thì đột ngột tắt. Rừng sâu lịm đi. Hắn bỗng thấy rừng hoang vắng quá. Hắn chờ một tiếng gọi tiếp theo. Hoặc một người bước ra. Nhưng rừng cứ tối dần lại. Hắn hoang mang không biết đó là tiếng người hay ảo giác. Về sau, lên VQ, gặp anh em đã ở Hà Giang, họ bảo có con chim ấy. Chưa ai trông thấy nó, nhưng nhiều người đã nghe thấy tiếng nó gọi con. Họ đặt tên là chim “Ới con ơi!.”

Ngưng trích.

Con chim báo bình minh trong Chuyện Kể Năm 2000 là con chim lợn, tiếng nó kêu éc éc nghe như tiếng lợn kêu khi bị đè ra thọc tiết. Miền Nam không thấy có loài chim lợn này. Thị xã Hà Đông của chàng Công Tử Hà Đông những năm 1940, 1941 có mấy con chim lợn này, chúng sống trên mái lầu nhà Cadastre gần nhà Công Tử. Mùa đông, khoảng 9 giờ tối, nhà nhà đóng cửa hết, Công Tử đi học tối về, ngang qua nhà Cadastre tối om nghe tiếng chim éc éc thấy rợn người. Như vậy không phải chim lợn chỉ sống ở trên rừng, chim lợn có ở thành phố. Ai cũng ghét chim lợn vì tiếng kêu dễ sợ của nó. Người ta bảo nó chuyên báo những chuyện dữ sắp xẩy đến. Trại tù cộng sản nhốt nhân dân có chim lợn báo bình minh là đúng qui luật.

Chim “Khó Khăn Khắc Phục” của những người bị cộng sản bỏ tù ở miền Bắc nguyên là chim “Bắt Cô Trói Cột” ngày xưa. Bẩy mươi năm trước — những năm 1940 — dường như Khái Hưng viết những truyện ngắn “Bắt Cô Trói Cột, Cây Tre Trăm Đốt, Ai mua hành tôi..” đăng trong báo Ngày Nay. Chim “Bắt Cô Trói Cột” chỉ có ở miền rừng núi, tuyệt đại đa số dân Việt miền Bắc không biết gì về loài chim đó. Một số ít người gọi là biết, biết đây là có nghe nói, như tôi chẳng hạn, chỉ biết rất lơ mơ về sự tích chim “Bắt Cô Trói Cột”:

Ngày xưa có anh nhà nghèo đi chăn trâu cho nhà giầu. Chỉ có năm con trâu nhưng lại có sáu cái cột — đúng ra chỉ là cọc — để buộc trâu ban đêm. Ông nhà giầu qua đời, cô con gái ông xét trâu, thấy sáu cái cột buộc trâu mà chỉ có năm con trâu, cô cho là anh chăn trâu làm mất một trâu. Bị oan nhưng anh chăn trâu không minh oan được, trả lời câu hỏi của cô gái:

“Nếu chỉ có năm trâu sao lại có sáu cột? Cột thứ sáu để làm gì?”

Anh nói:

“Để bắt cô trói vào cái cột đó..”

Rồi anh bỏ vào rừng, anh chết trong rừng, anh hóa thành con chim có tiếng kêu: “Bắt cô trói cột..”

Chuyện còn một tên khác: Năm Trâu Sáu Cột. Về sau chuyển thành Bắt Cô Trói Cột, đến “thời đại Hồ chí Minh quang vinh” cả nước đi tù, những người tù cho nó là, thấy nó thành chim “Khó Khăn Khắc Phục.”

Khó khăn khắc phục” là câu nói đầu lưỡi của bọn cai tù CS, chúng luôn miệng nói với người tù: “Khó khăn các anh phải khắc phục thôi..” Tôi từng sống ở Việt Bắc, phải nói rõ nơi tôi sống ở Việt Bắc năm 1949 chỉ mới là cửa ngõ của Việt Bắc: vùng Đại Từ, Thái Nguyên, Đèo Khế Tuyên Quang, chưa bao giờ tôi được nghe tiếng chim Bắt Cô Trói Cột. Chỉ một lần vào buổi chiều gần tối, đang đi một mình trên con đường mòn ven rừng tôi nghe tiếng “Rủ Rì Rù Rì..” vang lên ngay bên chân tôi. Y hệt tiếng người. Tôi rợn tóc gáy, đứng lại, nghe. Nhưng chỉ có một tiếng thôi. Không phải tiếng kêu, nghe như tiếng người nói: Rủ rỉ rù rì, thủ thỉ thù thì, mà tiếng lại phát ra ngay bên cạnh tôi. Đó là tiếng một loài chim miền thượng du, chim Rủ Rỉ Rù Rì, hoặc Thủ Thỉ Thù Thì, giống như chim Bắt Cô Trói Cột –Khó Khăn Khắc Phục. Thường thì người ta chỉ nghe được tiếng chim, ít ai nhìn thấy chim.

Tôi không biết chắc một con chim kêu lên đủ bốn tiếng Bắt Cô Trói Cột, hay một con kêu Bắt Cô, một con khác kêu Trói Cột. Bùi Ngọc Tấn kể là hai chim, có thể là một con trống, một con mái, một con kêu: Khó Khăn, con kia kêu Khắc Phục.

Bùi Ngọc Tấn viết: “..ai nghĩ ra chuyện bỏ tù thật là vĩ đại… Phải tìm được tên người ấy để mà lưu danh, để mà tạc tượng..” Một trong những cái loài người khác loài vật là loài người bỏ tù nhau, người bỏ tù người, loài vật không bỏ tù nhau, loài vật đồng loại cũng không giết nhau, như hổ là giống ăn thịt nhưng hổ chỉ ăn thịt những loài khác, hổ không bao giờ ăn thịt hổ, không có ăn hổ chịu đói đến chết chứ không ăn thịt nhau. Loài người bắt đầu cuộc hành trình tiến đến văn minh khi loài người biết bỏ tù nhau, trước đó loài người chỉ biết giết nhau mà chưa biết bỏ tù nhau, chưa biết bắt người khác phải làm cho mình hưởng. Người thứ nhất bầy ra trò bỏ tù người chắc đã sống cả năm, bẩy ngàn hay cả mười ngàn năm trước. Xa quá trong dòng thời gian. Nhưng cần gì phải tìm cho mất công, trong thế kỷ 20 vừa qua loài người có những nhân vật bỏ tù người đáng kể là “vĩ đại”: Dân Nga có Stalin, dân Tầu có Mao Trạch Đông, dân Miên có Pol Pot, dân Việt Nam có Hồ chí Minh. Không cần tác giả Chuyện Kể Năm 2000 phải lo xa, phải nhắc nhở, phải đòi hỏi, tên những con người “vĩ đại” ấy đã được loài người nhắc đến trong những lời chửi rủa, tượng đá, tượng đồng những con người “vĩ đại” ấy đã được dựng lên, đã bị kéo đổ, đã bị đưa ra nằm ở những bãi rác.

Còn khổ. Những người tù tuyệt vọng nhìn nhau. Còn khổ. Hẳn rồi. Nhưng còn khổ đến bao giờ?” Người tù Bùi Ngọc Tấn hỏi như thế trong Chuyện kể năm 2000. Nhưng mà ở Việt Nam bây giờ, và lâu rồi, nghe nói em nhỏ lên ba ngây thơ nhất cũng có thể trả lời được câu hỏi: “Bao giờ dân Việt Nam hết khổ?” Câu trả lời cũng được tìm thấy trong bài thơ của Nguyễn Chí Thiện, làm trong ngục tù miền Bắc XHCN năm 1973:

Đảng dìu dắt thiếu nhi thành trộm cướp
Giải phóng đàn bà thành đĩ, thành trâu
Giúp người già bằng cách bắt bớ rể dâu
Và cải tiến dân sinh thành xác mướp
Đảng thực chất chỉ là đảng cướp
Dạng triều đình mông muội giữa văn minh
Sống tạm thời nhờ thủ đoạn yêu tinh
Nhờ súng đạn Tầu, Nga, bắt bớ
Đảng tắt thở cuộc đời mới thở
Đảng còn kia bát phở hóa thành mơ.

Đến chim Còn Khổ và chim Ới Con Ơi thì phải nhận đó là đặc sản của rừng miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa, rừng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, rừng trên núi, rừng bên biển, không có hai giống chim ghê rợn ấy. Tôi không sống ngày nào trong những trại tù Gia Lai-Gia Trung, Xuyên Mộc, Xuân Phước, Phú Khánh, Đại Bình nên tôi không biết ở những trại tù đó anh em tù có nghe thấy những tiếng chim rừng lạ hay không, tôi chỉ sống ở Trại Z 30 A chân núi Chứa Chan, Xuân Lộc, Đồng Nai. Rừng cây ở quanh Z 30 A đã bị đốn sạch, khi tôi đến Z 30 A năm 1989 ở đấy không còn một loài thú rừng nào, chim chóc cũng ít và rất thường, không có giống nào đáng kể là lạ.

Năm 1977 tôi nằm biệt giam Xà lim số 15 Khu B Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, đêm đêm nghe tiếng tắc kè kêu: “Tắc kè.. Tắc kè..” như tiếng: “Sắp về.. Sắp về..” Hồi nhỏ nghe nói đếm tiếng tắc kè kêu có thể biết ngày hôm sau trời mưa hay nắng, nếu tắc kè kêu tiếng chẵn, sáu hoặc tám tiếng, là hôm sau trời nắng, nếu tắc kè kêu tiếng lẻ, bẩy hay chín tiếng, là hôm sau trời mưa — hoặc ngược lại — nằm xà-lim VC mới thấy lời đó không đúng. Tắc kè kêu nhiều tiếng hay ít tiếng là do con tắc kè đó lớn hay nhỏ, tắc kè lớn, già tuổi, khỏe, kêu được nhiều tiếng, tắc kè non kêu được ít tiếng. Thời tiết chẳng có ảnh hưởng gì đến tiếng kêu của tắc kè.

Đêm Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu nghe tiếng tắc kè, có anh tù la lên:

Sắp về..! Biết rồi. Khổ lắm. Nói mãi.!

Nằm một mình trong xà-lim, ngày ngủ lơ mơ, đêm không ngủ được, nghe tiếng tắc kè kêu ngay trên đầu, tôi làm bài thơ Tắc Kè:

Đêm đêm nghe tiếng tắc kè
Tưởng như tiếng gọi “Sắp Về..” bên tai.
Sắp Về…! Nghe suốt đêm dài
Mơ màng cũng ấm lòng ai muốn về.
Sắp Về..! Nhờ tiếng tắc kè
Lòng ta dịu nỗi não nề thương đau.
Ngày về quyết chẳng quên nhau
Mua ngay tặng chú một bầu rượu ngon.

Năm 1984 tôi trở lại Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, lần này tôi nằm biệt giam số 10 khu C Một. Năm này, năm 1984, dường như không còn chú tắc kè nào ở Số 4 Phan đăng Lưu, đêm đêm tôi không còn nghe tiếng tắc kè an ủi Sắp Về như những đêm xà-lim xưa năm 1977.

Cũng thấy nhớ.

Advertisements

6 Responses

  1. Bố Già có biết tại sao bố không còn nghe tiếng tắc kè lần ở tù thứ hai năm 1984 không?

    Sở dĩ có hiện tượng tắc kè bị “tuyệt chủng bất đắc dĩ” như thế là vì chúng bị đám tù ốm đói xực tuốt luốt chứ đi đâu nữa?

    Các bác không tin, xin coi lại hồi ký “Đại Học Máu” của Hà Thúc Sinh thì rõ: Nhân sinh quan của những người tù cải tạo ốm đói thuở ấy là : ” Bất kỳ một sinh vật gì động đậy đều ăn được thảy!”. Nghĩa là từ sinh vật lớn như chuột, bọ, rắn, rết, … cho đến côn trùng, châu chấu, cào cào vv… tất cả đều là “nguồn protéin” cho tù nhân “bồi dưỡng tại chỗ”.

    Xem thế thì tắc kè thuộc vào loại “đại yến” cho tù chứ chẳng phải tầm thường! Thế nên, chú tắc kè nào mà lỡ lọt vào ở số 4 Phan Đăng Lưu thì phải hui nhị tỳ là cái chắc!

  2. Góp thêm với Phương Lê ; các loại sinh vật gì động đậy đều bị “tuyệt chủng bất đắc dĩ” ,có lẽ do tù nhân cải thiện để bồi dưỡng nhưng tắc kè mà tuyệt chủng bất đắc dĩ là do bọn việt cộng “giải phóng” chúng để ngâm rượu “cường dương bổ thận”. Nghe nói, hiện bên VN vẫn bán rượu ngâm tắc kè.

  3. Chuyện tù nhân cải tạo đọc vẫn còn hấp dẩn nếu viết hay như Bùi Ngọc Tấn Và sẽ hay hơn nửa nếu gặp đúng người đồng điệu bàn đúng chổ, thì cái hay sẽ tăng gấp bội . Đó là trường của CHDT trong bài viết này . Xin cảm ơn cả hai

  4. Đọc bài biết này của Công Tử, long tôi cũng thấy nao nao ngậm ngùi!
    Mặc dù Công Tử Hà Đông không nói đến nhũng thời sự đã và đang xảy ra trong quảng thời gian gần đây tại quê nhà nhưng tôi thấy những gì ông viết ở trên đã nêu lên một cảm xúc thật nao lòng từ thực tại đau buồn hiện nay ở Việt Nam: CÒN KHỔ, CON ƠI!
    Bài viết được post lên ngày 20 tháng 01 năm 2010, tức là ngày cái tòa án bất lương ở thành hồ vừa định án. Bài viết cũng không cách xa thời diểm mà bọn côn đồ cầm quyền Hà Nội triệt hạ cây Thánh Giá ở Đồng Chiêm.

    Xin mạn phép trích lược từ internet:
    “(BBC phỏng vấn). .. . .Bà Lê Thị Minh Tâm (mẹ của Nguyễn Tiến Trung) : Chúng tôi làm đơn xin dự phiên tòa và được cho giấy vào cổng. Nhưng mà người ta không cho chúng tôi ngồi trực tiếp ở trong phiên tòa chính mà chúng tôi phải ngồi ở trong phòng xem qua màn hình. … Chúng tôi không được vào phòng xử. …Gia đình tôi và gia đình của anh Định cũng có phản ứng nhưng người làm nhiệm vụ nói là họ chỉ là người thừa hành thôi. …Trong khi đó tôi nhìn qua màn hình thì thấy hàng xóm của tôi được ngồi rất đông ở trong phòng xử chính. Đó là các vị hưu trí, và người ta cho xe đưa đi đưa về và cho tiền ăn, những thứ chi tiêu trong một ngày.”
    … Theo hãng tin Đức DPA, phóng viên dự phiên xử không được dùng phương tiện ghi âm hay chụp ảnh, và mỗi lần ông Long lên tiếng cáo buộc công an, thì hệ thống loa trong phòng của phóng viên và giới ngoại giao lại bị làm nhiễu. (Hết trích)
    Người bị hại thì đương nhiên là khổ rồi, còn kẻ thủ ác thì bị thế giới khinh bỉ. Tức là cả hai phía: CÒN KHỔ, CON ƠI!

    Còn đây là một nhận xét về vụ giáo xứ Đồng Chiêm (xin được nói thêm là cho tới bây giờ, giáo xứ này vẫn đang bị phong tỏa), trích từ internet:

    Bỗng nhiên Đồng Chiêm thu hút được hàng chục tỉ, thậm chí hàng nhiều chục tỉ đồng tiền của nhà nước đầu tư vào đây. Chỉ có điều là đầu tư không đúng thời điểm và hạng mục. Nhà nước chỉ đầu tư vào Đồng Chiêm khi vụ đập nát Thánh Giá đã xảy ra và các hạng mục được đầu tư là: Quân, vũ khí, tiền thuê đám xã hội đen, thuê máy xúc đất, mảy ủi lấp và mở đường, tiền nuôi chó nghiệp vụ canh giữ, công an lùng sục, hội họp bàn mưu tính kế… thôi thì đủ loại phải chi. Thậm chí là còn chi cả tiền cho đám “quần chúng tự phát” ngồi đánh bài cả ngày chờ giáo dân sơ hở là… vụt.
    Quả thật khó khăn cho nhà nước. Một cây Thánh Giá chưa đầy 1m3 bê tông, nếu tính giá thành thì cũng chỉ khoảng vài ba triệu đồng là quá đắt nếu đem “đấu thầu”. Nhưng đập đi rồi thì mất ăn, mất ngủ và trong lòng không yên…
    Việc huy động cả bộ máy chính trị, quân sự, thông tin truyền thông vào cuộc chắc không thể thiếu dưới cả trăm cuộc họp nhằm bàn mưu tính kế, nhằm đối phó và “sẵn sàng chiến đấu” với nhân dân …
    Vậy, Đồng Chiêm là cuộc sa lầy của nhà nước vào một trận đồ của đàn bà và trẻ con, họ chẳng có gì ngoài lòng tin mạnh mẽ vào Thiên Chúa … (Hết trích)
    Giáo dân Đồng Chiêm khổ vì bị trấn áp đã đành, nhưng mấy tay côn đồ việt cộng này lâu dài về sau ắt hẳn là: CÒN KHỔ, CON ƠI!
    Ngược thời gian chút xíu là chuyện “đại hội ruồi bu” mà thành phần là đám “ruồi nhặng” ở hải ngoại, Trong số đó có một con ruồi lằn hay nói năng tưng tửng, vui mừng vì cảm thấy ấm lòng và an bình trong đống phân nóng hổi của bọn cộng nô. Hay như chuyện hành xử đầy tai tiếng của ông nghị gốc Việt họ Cao trong chuyến đi Đông Nam Á làm mất lòng cộng đồng người Việt lẫn người H-mông ở Mỹ. Dính dáng đến cộng sản thì chắc bẩm là thế nào cũng CÒN KHỔ, CON ƠI!

    Hoặc như chuyện vc ngày đêm tìm cách chia rẽ để kiểm soát cộng đồng Việt Kiếu tại hải ngoại hay ít ra che dấu, lấp liếm tội lỗi của chúng với các thế hệ sau của cộng đồng nhằm trục lợi họ, các cộng đồng ở hải ngoại chắc hẳn là phải để tâm đề phòng chúng. Đúng là còn vc thì CÒN KHỔ, CON ƠI!

    Rồi chuyện ngư dân Việt Nam, chuyện thực phẩm bị đầu độc đầy rẩy, chuyện kẹt xe và vật giá leo thang, chuyện cai trị của bọn cộng sản ở đây… Với Anlocson, đang sinh sống ở quê nhà cũng vậy: còn vc thì CÒN KHỔ, CON ƠI!

    Cám ơn lời nhắn qua bài viết của Công Tử Hà Đông.
    Kính

    • Còn khổ… nhưng xin hãy còn hy vọng, dù chỉ là một chút hy vọng mong manh…
      Nước ta từng bị mất vào tay giặc tàu 1000 năm…
      Do Thái từng mất nước đến 2000 năm…
      Tất cả chỉ nhờ vào một chút niềm tin và hy vọng mong manh còn sót lại để giành lại quê hương…

  5. Xin góp ý với CTHĐ về chim Lợn và chim “Bắt Cô Trói Cột”.
    Chim Lợn là chim Cú Lợn thuộc họ Cú, có tên khoa học là “Phodilinae”, thường sống về đêm (nocturnal) trong rừng rậm các quốc gia Đông Nam Á (Southeast Asia). Loại chim này được liệt kê trong danh sách đỏ đe dọa bị diệt chủng của International Union for the Conservation of Nature and Natural Resources (Liên Hiệp Bảo Tồn Thiên Nhiên và Tài Nguyên Thiên Nhiên Quốc Tế). Tôi có hình chim Cú Lợn nhưng không biết post vào đây bằng cách nào.
    Theo mạng Bách Khoa Tự Điển (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8D_C%C3%BA_l%E1%BB%A3n) Ở Việt Nam đã phát hiện 3 loài Cú lợn: (1) Cú lợn Lưng Xám (Tyto alba) còn gọi là Cú lợn trắng, thường sống ở kho chuồng (barn) nên còn gọi là “barn owl”, có mặt hầu hết ở các đô thị như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Quảng Trị, Huế, Sài Gòn…
    Chim Lợn mà CTHĐ thấy ở Hà Đông (cũng là quê tôi), sống trên mái lầu nhà Cadastre gần nhà Công Tử vào những năm 1940, 1941 có lẽ là loại chim Cú lợn lưng xám này. (2) Cú lợn rừng phương Đông (Phodilus badius), tên Anh ngữ là “Oriental Bay Owl”, Việt Nam thường gọi là Cú lợn rừng. (3) Cú lợn lưng nâu (Tyto capensis), còn gọi là Cú lợn vằn.
    Vì Cú lợn lưng xám là loài phổ biến nhất ở Việt Nam nên có tài liệu cho rằng chim Lợn chỉ là loài này.
    Chim Bắt Cô Trói Cột thuộc họ chim Cúc Cu (Cuculus, Latin. Cuckoo, Anh ngữ) có tên Latin là Cuculus micropterus ( “Indian Cuckoo”, Anh ngữ),
    sống tại khu vực nhiệt đới miền nam và Đông Nam Á. Phần lớn sinh sống trong các khu rừng thoáng rộng, nhưng một số ưa thích các vùng thôn quê thoáng đãng.
    Theo mạng Tự Điển Bách Khoa phần Anh ngữ (http://en.wikipedia.org/wiki/Indian_Cuckoo), tiếng kêu loài chim này to và gồm 4 nốt được phiên âm thành “orange pekoe”, “Bo ko ta ko”, “thêm một bình nữa” (“The call is loud with four notes. They have been transcribed as “orange-pekoe”, “bo-ko-ta-ko”, or “one more bottle”…) Trong thung lũng Kangra của Ấn Độ tiếng kêu của chim được diễn dịch là hồn kẻ chăn chiên ở cõi chết đang lẩm bẩm “chiên của ta đâu” ( “where is my sheep”.) Thức ăn của chimBắt Cô Trói Cột là sâu rọm đầy lông, côn trùng và đôi khi xực trái cây.

    Thế Hùng

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: