• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Tết Thạch Lam

Tuyết sương lạnh ngắt Sự Đời.
Trên trang sách đọc Chuyện Người Ngày Xưa.

Tao QuanƠi người bạn ở chín phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca, khi bạn đọc những dòng chữ này thì ở Sài Gòn Thủ Đô Xưa của Ta chỉ còn năm, bẩy ngày nữa là đến Tết Nguyên Đán. Ông Công — Ông Táo cũng rưá — đã cưỡi cá chép về Trời. Ông lên trời ngày 23 Tháng Chạp, giờ này ông đang ở Thiên Đình, giờ này ông đang chờ đến lượt dzô lập-bô với Ngọc Hoàng.

Mỗi năm về chầu Trời một lần như thế, hai ông Táo cùng về với bà Táo, hay chỉ có một ông về, ông kia ở lại trần thế với bà Táo??

Tôi không nhớ ông Tản Đà hay ông Phan Khôi, hay ông nhà văn nào khác, 50 năm xưa từng viết:

“Đường từ Trái Đất lên Thiên Đình chắc không xa lắm, vì ông Táo cưỡi cá chép lên chầu Trời chỉ đi về mất có 7 ngày. Đi ngày 23 Tháng Chạp, về ngày Mồng Một Tết.”

Suy nghĩ lan man: Tết đến người Việt lại nhớ, lại nhắc đến Ông Táo. Gia đình Ông Táo Hai Ông Một Bà sống chung hòa bình êm đẹp. Hai Ông một Bà nhưng quanh năm trong bếp không có bao giờ vang tiếng gấu ó. Bọn người trần, mắt thịt ngu si không biết noi gương gia đình Ông Táo, bày đặt ghen tuông. Một Ông hai Bà 100 năm trước thì được, nay — 1950-2000 — hổng được, một Bà hai ông xưa hổng được mà nay lại càng hổng được. Tại sao lại không được và cứ không được mãi? Hai Ông, một Bà, một Bà, hai Ông mà sống chia sẻ, yêu thương! Sì tốt chứ? Sì đã nàm thao???

*****

Thấp thoáng dzậy mà tôi đã sống 14 cái Tết ở Kỳ Hoa Đất Trích. Tám mươi năm cuộc đời: 20 năm, 20 cái Tết Nguyên Đán tôi sống ở Bắc Kỳ sinh quán của tôi, 40 năm, 40 cái Tết tôi sống ở Sài Gòn thành phố thủ đô của tôi — trong 40 năm ấy có 20 năm, cùng với đồng bào tôi, tôi sống khổ cực trong gông cùm Cộng sản, trong 20 năm cực khổ đó có 8 năm tôi nằm phơi rốn trong ngục tù Cộng sản — và bi giờ, trên đoạn cuối đường đời, tôi đã sống 14 năm xa quê trên đất Mỹ, tôi còn 6 năm nữa là tròn Tám Bó.

Đêm cuối năm riêng một ngọn đèn. Ngoài trời tuyết phơi phới bay, mưa tuyết không tiếng động. Trong phòng ấm, đèn vàng, an ninh 500%, tôi nằm đọc chuyện người xưa trên những trang sách cũ, tôi gặp ông Hoàng Xuân Hãn làm Thơ và viết về mối Tình của ông với nước Việt trong những ngày cuối đời ông sống ở Pháp.

Năm xấp xỉ Chín Mươi.
Thơ Hoàng Xuân Hãn làm Tháng Hai năm 1996.

Tám chục may qua sắp Chín mươi.
Sức chừng thêm đuối, Tính thêm lười.
Sử nhà bạn cũ ôn không thẹn,
Vận nước tình sâu mộng sẽ tươi.
Văn ngữ thời xưa tìm kiếm gốc,
Tinh hoa thưở mới cố đua người.
Tuổi cao nhưng trí còn như trẻ,
Mắt đọc, tay biên, miệng vẫn cười.

*****

“Nay thì tuổi già, bệnh tật, sức yếu, trí mờ. Sợ không còn thấy lại quê hương. Vả lại, đối với riêng tôi, cái thực chất của hai tiếng “quê hương”, than ôi, đã không còn nữa.

Đã hay bốn bể là nhà,
Lam Hồng ta mới thật là quê hương.
Trải bao cuộc biến, cuộc thường,
Mà lòng tưởng nhớ, yêu đương vẫn còn.
Gửi lời nhắn nước cùng non,
Ngày nay nước cạn, non mòn tại ta!”

Ngưng trích Hoàng Xuân Hãn.

panoCũng trong đêm tuyết, cũng trên trang giấy cũ tôi nghe ông Huỳnh Thức Kháng kể chuyện những năm 1900, 1904 hai lần ông đi từ Quảng Ngãi ra Huế dự thi. Ông đi bộ qua Đèo Hải Vân mất trọn một ngày: từ chân đèo lên đỉnh đèo, người đi mất 4 giờ đồng hồ, từ đỉnh đèo xuống chân đèo người đi mất 4 giờ. Từ chân đèo bắt đầu đi lên đèo lúc 8 giờ sáng, đến 12 giờ trưa người lên đèo mới tới đỉnh Đèo — tới Hải Vân Quan — người đi phải nghỉ ở đấy ít nhất là 2 giờ đồng hồ, ăn uống, thức ăn, nước uống phải mang theo, 2 giờ trưa xuống đèo, 6 giờ tối mới xuống đến chân đèo. Người đi chắc phải ngủ đêm lại ở chân đèo, không ai có đủ sức đi tiếp suốt đêm.

Lời kể chuyện của ông Huỳnh Thúc Kháng làm tôi nhớ mấy lần tôi ngồi trên xe ô tô qua lại Đèo Hải Vân, mỗi lần xe qua đèo mất khoảng 1 giờ. 50 năm trước tôi, ông Huỳnh Thúc Kháng qua con đèo ấy vất vả mất một ngày trời.

Chuyện ngày xưa ông cha tôi qua Đèo Hải Vân mất một ngày làm tôi nhớ đến công lao xây dựng của người Pháp trên đất nước tôi. Thực Dzân Pháp — da trắng, mũi lõ, tiếng nói xi xô — chiếm nước tôi, khai thác tài nguyên nước tôi, áp bức ông cha tôi, làm nhiều điều bạo ngược, tàn ác với dân tôi, nhưng họ cũng giúp cho dân tôi được nhiều phúc lợi. Kể sơ thôi: họ làm đường sắt cho xe lửa chạy xuyên nước tôi từ Hà Nội đến Sài Gòn. Từ khi có xe lửa, người nước tôi đi từ Sài Gòn ra Hà Nội trong 5 ngày, 5 đêm. Trước đó muốn đi đoạn đường xuyên đất nước ấy người nước tôi phải vất vả đi trong 30 ngày. Người Pháp làm cầu Paul Doumer qua sông Hồng trên miền Bắc nước tôi. Cầu sắt, dài 2.500 thước, cây cầu sắt vĩ đại — vĩ đại đúng nghĩa vĩ đại — dài nhất Á Châu những năm đầu Thế kỷ 20.

Tôi thấy trong Thế Kỷ 20 người dân nước tôi được hưởng những cái Tết thanh bình nhất từ năm 1930 đến năm 1940. Bằng chứng ở trong những Thơ Văn. Đây là những lời Thơ Ca Tụng Tết Xưa:

Thơ Đinh Hùng

Em đi rừng núi vào xuân
Áo thiên thanh dệt trắng ngần hoa bay

…..

Tiếng trống làng xa dồn mặt nước
Tháng giêng, quê bạn, hội đêm rằm.
Hương đồng tỉnh giấc, ta ngồi dậy
Nhìn ánh trăng xuân đẹp chỗ nằm…

Thơ Hoàng Cầm

Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già bay tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu… Về đâu…

Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Tràm chỉ người giăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa màu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu… về đâu…?

*****

Năm 1948 tôi — CTHĐ — đến chân núi Thiên Thai trong Huyện Lang Tài, một huyện nằm bên dòng sông Đuống. Tôi không lên được núi Thiên Thai vì năm ấy quân Pháp đóng đồn trên núi. Lời thơ “Ba trăm năm thấp thoáng mộng bình yên..” làm tôi nhớ đến ba trăm năm các triều đại Vua Lê. Thời ấy xa rồi. Nhưng còn những cảnh

Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già bay tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu

Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng

Thì đấy là những hình ảnh người dân nước tôi ngày Tết những năm 1935, 1936 khi Thi sĩ Hoàng Cầm 20 tuổi, khi người Pháp đã đặt vững được nền cai trị của họ trên đất nước tôi. Mời bạn xem một bằng chứng nữa về lời tôi viết:

Dân tộc tôi được hưởng những cái Tết thanh bình nhất thế kỷ trong khoảng 10 năm từ 1930 đến 1940.”

Đây là bài viết của Nhà Văn Thạch Lam, một văn sĩ trong Tự Lực Văn Đoàn, viết trong một ấn bản gọi là Số Tết — Số Xuân năm 1941.

THẠCH LAM: NGHỆ THUẬT ĂN TẾT

Hưởng, đấy là khôn ngoan; khiến hưởng, đấy là đức hạnh

(Cách ngôn Ả-rập)

Ngày Tết, đối với nhiều người, chỉ có thú vị khi nào nghĩ lại – người ta thường hay cùng nhau nhắc tới những Tết năm ngoái, năm xưa với một vẻ mến tiếc âu yếm, lẫn với đôi chút ngậm ngùi. Nhất là những Tết ngày người ta còn nhỏ… Lúc ấy, cùng với những nỗi vui ngày Tết đã qua, còn vướng niềm thương tiếc tuổi niên hoa, cái tuổi mà người ta nhận là “vô tư lự”, ngây thơ và sung sướng.

Thach LamNhưng nỗi nhớ tiếc ấy chẳng ích lợi gì, mà lại ngăn chúng ta không toàn hưởng được thời khắc hiện giờ. Đậm đà, mạnh mẽ hơn bao nhiêu là sự hưởng thụ ngay hiện tại, thêm vào cái thú hưởng những giờ vui, cái thú vô song của sự mình biết mình đương hưởng.

Ngày còn ít tuổi, tôi không hiểu biết được cái thú uống trà. Chén trà thơm lúc đó với tôi làm sao bằng được những mộng đẹp tôi đang mơ tưởng trong lòng. Bây giờ tôi đã biết rồi — và thỉnh thoảng một buổi sớm hay trưa, tôi nâng chén trà lên để nhìn đời qua hương khói. Hưởng hương vị chén trà thì ít, nhưng hưởng cái thú ở đời, và nhất là hưởng cái giờ khắc nghỉ ngơi, nhàn nhã, mà tự mình cho phép. Người ta chỉ có thể hưởng được cái Khoái lạc của Nghỉ ngơi, khi biết cái Nghệ thuật Nghỉ ngơi cũng như biết cái Nghệ thuật Làm việc.

Tôi hiểu là vô ích và điên dại cuộc theo đuổi mộng ảo không cùng, việc lần lưã để hạnh phúc lại ngày lại ngày. Tôi hiểu rằng hoa nở sớm nay cũng tươi đẹp chẳng kém hoa nở ngày mai, thời tiết Xuân nay êm dịu hơn Xuân bao giờ hết, và trời trong cùng ánh nắng kia hiện giờ đang đẹp vô ngần…

Tết! Còn dịp nào trong đời ta nhiều thú vị vui tươi hơn nữa. Ngày Tết nhắc ta nhớ lại những Tết đã qua, và khuyên ta an hưởng ngay cái Tết bây giờ. Đêm Giao thừa “thời gian qua nghỉ bước trên từng cao” là giờ khắc say sưa êm dịu nhất. Hưởng mùi thơm thuỷ tiên, cánh hồng hoa đào nở, hưởng làn khói trầm vấn vít bay lên cao. Hưởng đi, trong cái khoái lạc của sáng suốt, trong cái minh mẫn của tinh thần, trong sự thư thái thảnh thơi của lòng bình tĩnh. Tiếc thương như gia vị và mong mỏi như làm ấm nóng cái thú vô cùng.

Rượu sánh trong cốc pha lê trong trộn mùi khói pháo với hương thuỷ tiên. Tiếng pháo nổ vui từ nhà nọ sang nhà kia, liên tiếp, đi mãi vào trong đêm để làm vang động bầu không khí Xuân của khắp cả các gia đình. Đó là tiếng hiệu lệnh của sự thông đồng chung hưởng.

*****

Lúc đó mỗi nhà đều uống rượu thưởng năm mới. Rồi chiếc bánh chưng đầu năm mang lên, xanh mịn trên đĩa trắng. Bánh chưng gói khéo thì vuông và chắc rắn: gạo mềm và nhiễn, nhân đậu và mỡ quánh vào nhau. Chỗ nạc thì tơi ra như bông gạo. Có nhà gói lắm nạc, nhưng nhiều mỡ vẫn ngon hơn: mỡ phần, chỗ giọi, lúc chín thì trong, và không có thớ. Bánh chưng kể mặn là phải vị. Nhưng có dăm bảy chiếc gói ngọt cũng hay. Chỉ khó làm sao cho đừng sượng, và đường với đậu phải biến với nhau mà thôi.

Tưởng lúc xén đũa đưa miếng bánh chưng lên, thoảng mùi lá dong thơm và mùi nếp cái, ăn với dưa hành trong như ngọc thạch, hoặc với củ cải đậm và ròn như pháo xuân! Đó là tất cả hương vị của cái Tết Annam, ngày nay và ngày xưa.

*****

Sáng Mồng Một Tết, chúng ta uống rượu và ăn mứt. Rượu hẳn là phải rượu Tây: những thứ vang cũ ngọt như Porto, nồng chua như Vermouth, hay say như Cognac. Uống những thứ ấy thích hơn liqueurs. Nhưng sao ta không có rượu ngon của ta? Tiếc vì bây giờ cái gì của người mình cũng vụng về và giả dối. Còn đâu thứ rượu Cau có tiếng ở Hoàng Mai, thứ rượu Cúc nổi danh ở tỉnh Bắc? Cái hào nhoáng, cái lộng lẫy bề ngoài đã thay cái chân thực, cái cẩn thận của người xưa. Đơn sơ và cẩu thả đã cướp chỗ của tốt bền, ở tất cả những sản phẩm của nước mình.

*****

Mứt ngày trước cũng ngon và khéo hơn mứt bây giờ. May gần đây, việc làm Mứt ngày Tết đã khá hơn. Đã có mứt Sen Cự Hương, mứt Khoai Việt Hương, vị cũng nhã, mà trình bày lại sạch sẽ, tinh tươm. Đem làm quà ngày Tết kể cũng tạm được.

Mứt phải đủ ngũ vị: ngọt, bùi, đậm, béo và cay. Thứ mứt Gừng cay là quý nhất. Chỉ tiếc thay mứt Gừng ngoài Bắc thô và mạnh quá. Tôi ước ao được một ngành mứt Gừng ở trong Trung — mứt Gừng của Huế, làm bằng mầm gừng non và cả nhánh, trong như ngọc và cay mềm dịu cũng như con gái Huế.

*****

Thế rồi đi Du Xuân ngày Mồng Một Tết, nhìn cây Nêu phấp phới trước các nhà, tiếng Khánh sành reo theo gió. Một cuộc hoà nhạc của sắc màu: quần áo mới của bầy trẻ, xác pháo đỏ trên gạch rêu, màu hồng nhạt hay đỏ tươi của câu đối giấy dán trên cổng, và màu củ cẩm, hay cánh sen, trên những tranh Tết — nhất là cái màu tím mát ấy, màu của đất nước Annam, của thời xưa chân thật mà không bao giờ nhìn tôi không thương nhớ ngậm ngùi…

Trong lúc đó, trời xuân đầy mây thấp và gần gụi, thời tiết êm ả như đợi chờ, gió xuân nhẹ như hơi thở, và cây cối đều nở mầm non, lộc mới – tất cả cái gì như đầm ấm, như dịu dàng. Còn hưởng cái thú nào man mác và thanh cao hơn nữa?

Cho nên ngày Tết, tôi mong các bạn cùng vui vẻ tươi sáng như ánh mùa xuân, trong khi lần giở những trang của tập báo vì các bạn này.

Hết bài Viết Tết Xưa của Thạch Lam.

Tôi tìm được bài viết của Nhà Văn Thạch Lam trên Internet. Người sưu tầm và phổ biến bài này viết thêm:

Bài viết trên đây của Thạch Lam được viết ra đầu xuân 1941. Năm đó, cả Phong Hoá, Ngày Nay đều đã đình bản, tờ Chủ Nhật ra được mấy số cũng bị rút giấy phép, nhóm Tự Lực không còn báo trong tay, đành phải xuất bản một quyển sách gọi là “Sách Tết Đời Nay.” Lạ một điều là trong cuốn nửa sách, nửa báo 48 trang khổ to như khổ báo Ngày Nay, Phong Hoá, các tác giả Thế Lữ, Khái Hưng.. đều không ký tên thật của mình sau các bài viết. Và Thạch Lam cũng vậy. Chúng tôi chỉ căn cứ vào giọng văn và nội dung bài viết mà khôi phục lại tên tác giả.

Ngưng trích.

*****

Thơ Đoàn Văn Cừ.

Chợ Tết 1938

Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi,
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh,
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc;
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon,
Vài cụ già chống gậy bước lom khom,
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ,
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ.
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu,
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau.
Sương trắng dỏ đầu cành như giọt sữa,
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa,
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh,
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh.

*****

Người mua bán ra vào đầy cổng chợ.
Con trâu đứng vờ dim hai mắt ngủ,
Để lắng nghe người khách nói bô bô.
Anh hàng tranh kĩu kịt quảy đôi bồ,
Tìm đến chỗ đông người ngồi dở bán.
Một thày khóa gò lưng trên cánh phản,
Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân.
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm,
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ.
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ,
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau.
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu,
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu.
Áo cụ lý bị người chen sấn kéo,
Khăn trên đầu đương chít cũng tung ra.
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà,
Quên cả chị bên đường đang đứng gọi.
Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rợi,
Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa.
Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha,
Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết,
Con gà trống mào thâm như cục tiết,
Một người mua cầm cẳng dốc lên xem.

*****

Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm.
Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh,
Trên con đường đi các làng hẻo lánh,
Những người quê lũ lượt trở ra về.
Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê,
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ.

*****

Đấy là cảnh Tết và cảnh Chợ Tết ngày xưa. Ngày xưa đây là Tết Nguyên Đán những năm 1935, 1936, 1937.

Sách Xuân Đời Nay phát hành đầu năm 1941, trước Tết Nguyên Đán, được Nhà Văn Thạch Lam viết vào cuối năm 1940. Khi ấy Thế Chiến Thứ Hai đã nổ ra ở Âu châu, quân Nhật đã đánh vào Lạng Sơn nhưng miền Bắc Việt Nam, Hà Nội, vẫn còn yên bình. Từ năm 1941 cho đến năm nay 2010, nước Việt Nam không còn có Tết Thanh Bình nữa.

Advertisements

3 Responses

  1. Tôi vẫn thường nghĩ là người ta chỉ thực sự ăn Tết, hưởng Xuân trong những ngày giáp Tết, còn đến ngày mồng một, mồng hai thì coi như Tết đã qua, Xuân đã tàn! Từ những năm xa xưa ở VN, tôi đã có cái thú đọc báo Xuân trong dịp gần Tết, sang đến Mỹ cũng không ngoại lệ. Mở cuốn báo Xuân ra, bên trong thường là một bài Sớ Táo Quân, một bài tổng kết những biến cố trong năm, một hay vài bài viết về con giáp của năm mới, một số truyện ngắn và một ít bài thơ với chủ đề liên quan xa gần đến Xuân, đến Tết. Tờ báo Xuân, báo Tết nào cũng gần gần như thế, vậy mà cái cảm giác khi đọc những bài viết trong những tờ giai phẩm này thì thật là khác hẳn, có lẽ vì tâm hồn người ta đang nao nức, rộn rã nên vui lây với cái không khí Tết đang chan hòa ở mọi nơi, mọi chốn.

    Như thông lệ hằng năm, sáng nay khi tạt ngang một tiệm sách mua vài tờ báo Xuân để hưởng Tết ông Dần, tôi đã hơi thất vọng sau khi dò từng trang mục lục ở mỗi tờ báo mà không thấy bài viết nào của Công Tử Hà Đông. Đứng tần ngần, và buồn đến bẩy, tám phút!!

    Về đến nhà, mở hoanghaithuy.com định đọc lại mấy bài CTHĐ viết về những cái Tết năm ngoái, năm kia thì … “Tết Thạch Lam” đây dzồi!! Đọc xong bài này coi như đã hưởng gần hết cái Tết ông Dần năm nay!! Bài viết của Thạch Lam thuộc loại hàng hiếm mà Công Tử cũng “truy” ra được thì … thánh thật!! Tôi thích bài thơ Chợ Tết của nhà thơ Đoàn Văn Cừ không kém gì bài “Mỗi năm hoa đào nở …” của thi sĩ Vũ Đình Liên. Và cảm nhận được nỗi niềm thao thức của CTHĐ qua phần trích dẫn thơ Hoàng Xuân Hãn.

    Theo tinh thần hưởng Tết của tác giả Hà Nội Băm Sáu Phố Phường, sáng mồng một năm Canh Dần sắp tới tôi sẽ “khai tửu” chai Rémy Martin XO, tự rót cho mình một cốc và nhón miếng mứt gừng chính gốc Huế để thưởng Xuân năm nay, thưởng thức những ngọn gió đấu tranh đang mơn man trên giải đất chữ S, và chẳng mấy chốc sẽ trở thành những trận cuồng phong dữ dội thổi phăng đi chế độ cộng sản và bọn cầm quyền thối nát và hèn nhát hiện nay ở Việt Nam.
    Xin mượn vài lời của nhà văn Thạch Lam dưới đây để chúc các bạn trên diễn đàn này hãy hưởng mùa Xuân hiện tại và những muà Xuân tương lai như tác giả và nhà văn Hoàng Hải Thủy đã muốn chúng ta như thế.

    [Trong lúc đó, trời xuân đầy mây thấp và gần gụi, thời tiết êm ả như đợi chờ, gió xuân nhẹ như hơi thở, và cây cối đều nở mầm non, lộc mới – tất cả cái gì như đầm ấm, như dịu dàng. Còn hưởng cái thú nào man mác và thanh cao hơn nữa?]

  2. Thưa ông HHT,
    Tôi nghĩ ai viết là Táo Quân đi chầu ngọc Hoàng Thượng Đế chỉ mất 7 ngày kể cả đi về (round trip) là không đúng. Phải là 2 tuần = 14 ngày!!!
    Táo Quân ra đi ngày 23 tháng Chạp và trở về ngày mùng 7 TẾT.
    Ở hải ngoại, tất bật với cuộc sống , ai còn nghĩ đến ông CÔNG , ông TÁO nữa nhỉ!
    Kính chúc tác giả tôi yêu thích nhất nhiều Sức Khỏe và Bình An

  3. Cám ơn nhà văn HHT. Nhờ có ông tôi mới ăn được cái Tết thực sự (dù trong tâm tưởng).

    Bởi, từ năm 1976 đến nay tôi có bao thấy được Tết đâu. Mùa xuân a96u còn ngự trị trên mảnh đất mà tôi còn cố gắng gọi đó là quê hương.

    Nếu tính ra, từ 1975 dù chính phủ lúc đó cho phép nghỉ đến hết mồng 2 Tết vì chiến tranh nặng lắm rồi. Nhưng vẫn còn thấy được 1 chút gì là Tết. Dù chỉ là cái Tết rất gượng.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: