• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

KỲ HOA EM vẫn là EM

Danny Kaye và Virginia Mayo trong phim The Secret Life of Walter Mitty.

Quân lịch Kỳ Hoa, quân bất dĩ
Ngã du Mỹ Quốc, ngã do liên
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Giai nhân, thi sĩ đối sầu miên…

Kỳ Hoa Em vẫn là Em
Anh sang Mỹ Quốc đêm đêm anh buồn
Một đi hoàng hạc đi luôn
Giai nhân, thi sĩ đối buồn nằm mơ…

Em đến Kỳ Hoa Em vẫn đẹp
Anh sang Mỹ Quốc tội anh buồn
Hoàng Hạc đi rồi, Lầu Hạc khép
Giai nhân, thi sĩ cũng lơi hồn.

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ…
Cây khô xuống nước vẫn khô..
Người buồn đi đến chỗ mô cũng buồn.

Anh nhớ những năm 1981, 1982 ở Sài Gòn — vèo trông lá rụng đầy rừng.. ái ân trần thế có từng ấy thôi.., — thấm thoắt dzậy mà đã ba mươi năm cuộc đời– những năm 1980 xa xưa ấy anh không được viết, nhớ Em và thèm viết quá, anh viết một số bài kể chuyện linh tinh, tâm sự vẩn vương, nhớ thương, sinh ly, tử biệt, kẻ ở, người đi, và anh viết về đời sống cơ cực của nhân dân Sài Gòn dưới ách cộng sản, anh viết và gửi những bài viết ấy ra hải ngoại, tất nhiên anh ký tên rởm dưới những bài viết ấy: Ngụy Công Tử, Hồ Thành Nhân, Văn Kỳ Thanh vv.. Trong những bài ấy anh nhiều lần viết dặn em: “Nếu em đọc bài này em sẽ biết anh là ai và em là ai..” Anh đặt tên cho những bài viết ấy là “Viết cho Người Yêu.” Viết cho người anh yêu, cho người yêu anh, viết cho những người yêu nhau trên cõi đời này. Ở hải ngoại, Em từng đọc những bài Viết Cho Người Yêu của anh ba mươi năm trước, Em nhớ không Em?

Trời không chớp biển, chẳng mưa nguồn… Đêm nảo, đêm nao anh cũng buồn. Đêm qua anh buồn, sáng nay anh buồn hơn đêm qua. Ngồi vào bàn viết, anh định viết một bài về Thơ Trong Tù của những người làm Thơ Trong Tù: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Trần Văn Hương, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Chí Thiện. Nhưng khi bắt đầu viết anh nhớ Thơ Lý Bạch, một thi sĩ không bị tù ngày nào:

Nhân sinh tại thế bất xứng ý,
Minh triêu tán phát lộng thiên châu..

Ở đời gặp chuyện ưu phiền
Sớm mai xõa tóc, thả thuyền ta chơi..

..bỗng anh nhớ đến Cao Bá Quát, Thi sĩ làm Thơ Trong Tù rất tuyệt mà lâu nay anh đã bỏ quên. Những ngày xưa sống mòn mỏi ở Sài Gòn, thành phố thủ đô ta bị đổi tên là Thành Hồ — những năm không phải sống quanh quẩn trong góc phòng tù u tì anh sống quanh quẩn trong xó nhà tối — nhiều hôm, nhất là vào những buổi chiều, anh muốn phát điên vì buồn, vì tù túng, anh muốn đi chơi, đi khỏi nhà nhưng anh không thể đi đâu được. Không có chỗ nào để anh tới. Đã quá nhiều lần anh trên xe đạp đi lang thang trong những phố buồn của Sài Gòn. Đi lang thang mãi rồi cũng phải trở về căn nhà tối. Anh thấy Lý Bạch sung sướng vì mỗi khi gặp chuyện khó chịu Thi sĩ xõa tóc, xuống thuyền đi chơi. Anh nhớ tình cảnh của Cao Bá Quát khi Thi sĩ làm thơ:

Tích du vô kế, phục đăng lâu
Tà ỷ lan can vọng bích lưu
Quân diệc đa tình đáo yên thủy
Ngã do di hận mãn đinh châu..

Muốn đi không được, lại lên lầu.. Dựa lan can ngắm dòng nước biếc.. Em đa tình em đến nơi khói nước.. Anh ôm mối hận đầy trên bãi sông..

Ba mươi năm trước trong căn gác nhỏ của vợ chồng anh ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, anh đã xúc động vì những câu thơ trên của Thi sĩ, hôm nay, tuổi đời nhiều hơn, nhiều thất vọng hơn, những ngày còn sống ít hơn, liêu lạc xứ người, những câu thơ ấy làm anh xúc động gấp nhiều lần..

Sáng mùa thu vàng, thật vàng. Em đi chơi trên ngựa qua rừng lá biếc ở Florida.. Rừng thu từng biếc chen hồng.. Nghe chim em có động lòng nhớ thương? Thư Em viết bằng giấy viết thư đắt tiền của những khách sạn lớn ở New York, Miami, Honolulu. Trong khi ấy anh như Cao Chu Thần:

Nhật tà thiên địa song bồng mấn
Xuân tĩnh giang hồ nhất bạch âu…

Chiều tà tóc trắng phơi trời đất
Xuân tĩnh sông hồ lẻ cánh âu

Chiều tà, mái tóc sương phơi giữa nơi trời đất.. Em hãy tượng tượng cảnh người HO gầy ốm, đen đủi, chỉ còn da với xương như con trâu già, mái tóc bạc trắng, khuôn mặt cằn cỗi in hằn những vết roi đời, đi một mình trong bóng chiều đang xuống qua Rừng Phong. Người biệt xứ đứng một mình bên dòng sông Potomac nước trôi man mác, buồn nhìn cánh chim bạch âu cô đơn bay trong dáng chiều…

Dao tưởng đương niên hành lạc xứ..
Tần mai không tự cố cung đầu..

Nhớ Em người ấy nhớ lại những nơi y đã được yêu em năm xưa ở Sài Gòn, nhớ hàng dừa xa lộ đêm trăng, nhớ những buổi trưa vàng nắng hồ bơi Ngọc Thủy, Thủ Đức, Hàng ăn La Plage ven sông Đồng Nai, nhớ đôi mắt Em sáng long lanh những giờ tình tự, nhớ những buổi trưa Em chờ anh ở cửa tòa báo Sàigònmới, nhớ những lúc hai, ba giờ sáng chia tay nhau không dứt ở đường Ngô Tùng Châu đèn vàng, nhớ những lần Em khóc, vì em không được sống vợ chồng với anh, má em đầm đìa nước mắt..

Hôm nay Thơ Cao Bá Quát gợi cho anh nhớ lại những tình duyên xưa, những yêu thương cũ. Anh thấy không phải Cao Chu Thần mà là chính anh làm bài thơ này:

Cổ nhân bất thức kim nhân hận
Tài đáo thương ly thuyết tận tình
Minh nhật dục từ Nam Phố đạo
Hà nhân cánh xướng Bắc cung thanh
Hàn y cô quán phong sương thiểu
Vụ hợp thâm thôn trúc thụ bình
Tiếu sát Tầm Dương túy Tư Mã
Thanh sam hà sự lệ tung hoành ?

Người đời xưa không biết mối hận của người đời nay lớn đến như thế nào. Người đời xưa chỉ vừa mới buồn vì ly biệt đã kể lể bao nhiêu là nỗi niềm. Ngày mai ta muốn đi khỏi con đường Nam Phố này, biết ai sẽ lại hát cho ta nghe giọng ca cung Bắc. Trời rét, nương thân trong quán lẻ cũng đỡ gió sương, chiều tối sương mù bao phủ xóm nhà xa, cây cối đều im lặng. Đáng cười chết cái ông Tư Mã say ở bến Tầm Dương, xa nhau việc gì mà phải khóc đến nước mắt ướt áo xanh?

Thi sĩ Ta ngạo Thi sĩ Tầu: chia tay với một em ca kỹ lạ hoắc, em với mình không có tí ti tình ngãi gì trước cả, có gì đáng để phải khóc đến ướt cả tay áo? Lệ ai chan chứa hơn người? Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh. Thi sĩ Ta chê đúng quá. Và ta thấy ta cảm khái vì bài thơ tả chuyện “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách” ấy là ta trẻ con. Phụ nữ lấy chồng ai cũng thế thôi, không có lý em là ca nữ, thời em trẻ em đàn ngọt, em hát hay, em có nhan sắc là bắt buộc, là tất nhiên em phải có chồng hào hoa tài tử, đời em phải có hạnh phúc. Không được thế là em đau khổ, em đáng thương. Chồng em là nhà buôn, nó không mải buôn chè sớm tếch ngàn khơi, nó cứ ở nhà ôm đít em, em với nó lấy gì mà ăn? Em không thương nó vất vả thì thôi, em lại coi như nó có tội bỏ bê em, em không nên kể tội chồng em với đàn ông lạ, đã chắc gì gã đàn ông lạ gặp Em trong một đêm ấy ấy thương em bằng một góc chồng em thương em. Ít nhất anh chồng nhà buôn của em cũng lấy em làm vợ. Bọn đàn ông mà em thấy là hào hoa kia chỉ thương em, chỉ lấy em có trong một đêm. Đúng ra họ “muốn” em, họ “thương” gì em. Thi Sĩ Tư Mã Tầu đáng trách ở chỗ không giảng phải trái cho em cựu kỹ nữ thấy cái tốt của chồng em, cái lỗi của em, không nửa lời bênh vực anh chồng em thì chớ, Thi sĩ vào hùa với em, Thi sĩ lên án chồng em, Thi sĩ quá mau nước mắt…

Em trở lại Sài Gòn sau mười lăm năm Em ra đi. Mười lăm năm ấy anh tám năm tù. Anh gặp lại Em ở Sài Gòn sau hai lần anh tù tội. Hàng dừa xa lộ của chúng ta không còn nữa, cũng không còn Ngân Đình Tửu Gia ngày xưa, Ngân Đình những năm 1960, Ngân Đình thơ mộng ngày xưa của chúng ta xưa đã mất, thay vào đó là một hàng ăn được xây tường chung quanh kín mít như pháo đài, người ta nhẩy đầm trong cái lô-cốt đó

Mười năm sau nữa bánh xe lãng tử đưa anh sang Kỳ Hoa, ta gặp lại nhau bên dòng Mississippi, trong thành phố New Orleans anh và em đã thấy trên màn ảnh rạp Vĩnh Lợi Sài Gòn năm Em còn trẻ. Em nhớ không Em? Chiều thứ bẩy năm xưa, xa như tiền kiếp, gần như hôm qua, lúc ba giờ trưa, lúc ba giờ chiều, trời Sài Gòn nắng nóng, oi mưa, cơn mưa lớn đang đến trên thành phố, chúng ta vào tránh nắng, tránh mưa Sài Gòn trong rạp Vĩnh Lợi. Xi-nê pẹc-ma-năng, phim The Secret Life of Walter Mitty, kép Danny Kaye, đào Virginia Mayo. Phim mầu Technicolor đã chiếu ở rạp Majestic năm 1950, anh đã xem phim này năm ấy ở rạp Majestic Hà Nội khi anh mới từ vùng kháng chiến trở về, khi em ở Huế, ngày ngày em di hoc qua sông Hương và em còn trinh. Anh đã xem phim một lần còn em chưa xem phim này lần nào. Chiều xưa ấy ở rạp Vĩnh Lợi, Sài Gòn, anh xem phim The Secret Life of Walter Mitty lần cuối, em xem phim ấy lần đầu. Phim có cảnh hai nhân vật chính gặp nhau trên chiếc thuyền chạy trên sông Mississippi bằng vòng quạt nước ở sau thuyền. Chuyện xẩy ra khoảng những năm 1850-1900. Anh nói nhỏ bên tai Em: “Ngày nào anh sang Mỹ, anh sẽ đến thăm New Orleans”. Sao anh thích thành phố New Orleans quá.

Ba mươi nhăm năm sau buổi chiều Xi-nê-ma Vĩnh Lợi Sài Gòn sóng gió biển dâu đưa anh đến New Orleans, anh gặp lại Em ở thành phố ven sông ấy, thành phố từng là thuộc địa của Pháp nên có nhiều đường phố, nhà cửa giống Sài Gòn – Chợ Lớn của chúng ta. Ba mươi năm xưa có bao giờ chúng ta hẹn gặp lại nhau ở New Orleans! Anh nhìn Em.. Rõ ràng em đấy mà ngờ chiêm bao!

Chiếc thuyền chở du khách đi chơi trên sông Mississippi vẫn có guồng quạt nước đằng sau, em nóiù cháu gái em gọi Em là bà ngoại vừa lấy chồng, con nhỏ là bác sĩ. Nghe Em nhắc lại chuyện xưa sau, anh nhớ lời thơ, ý thơ của Cao Chu Thần: Chàng Tư Mã Giang Châu chỉ mới nghe tiếng đàn, nghe chuyện đời nàng kỹ nữ Tầm Dương — Tay ôm đàn che nửa mặt hoa.. Bản đàn mấy tiếng dạo qua.. Dẫu chưa trọn khúc… — đã khóc lệ rơi ướt áo, nếu chàng và nàng từng yêu nhau như anh và Em không biết chàng còn khóc đến đâu.

Mời Em nghe tiếng Thơ này:

Cộng thán tương phùng vãn
Tương phùng thị khách trung.
Quản huyền kim dạ nguyệt
Hương quốc kỷ thu phong
Lệ tận tôn nhưng lục
Tâm hôi chúc tự hồng
Cựu du phương lạc lạc
Nhất khúc mạc từ chung !

Cùng than thở gặp nhau đã muộn, mà gặp nhau lại ở nơi đất khách. Tiếng đàn, tiếng sáo buồn trổi dưới ánh trăng, quê hương xa cách đã qua mấy độ gió thu. Nước mắt dù cạn, rượu còn trong bình. Lửa lòng đã tắt, ngọn đèn vẫn cháy. Bạn cũ không còn mấy người. Hẹp chi mà không cho nhau nghe trọn khúc ca.

Tiếng hát Em tim anh nức nở.. Hai chục năm trời Thanh chửa thôi.. Năm 1980 anh làm hai câu thơ trên, tính thời gian từ lúc tiếng Em hát làm tim anh nức nở đến đó là hai mươi năm, lại từ năm 1980 đến đêm nay, thời gian đã qua bốn mươi năm: Tiếng hát Em tim anh nức nở.. Bốn chục năm trời Thanh chửa thôi..

Đêm xuân Thi sĩ đọc sách:

Kim nhân bất kiến cổ thời xuân
Trù trướng kim xuân đối cổ nhân
Thế sự kỷ hà kim bất cổ?
Nhãn tiền mạc nhận huyễn vi chân
Kỷ đa danh lợi chung triêu vũ
Vô số anh hùng nhất tụ trần
Tự tiếu tục câu phao vị đắc
Nhĩ lai huề quyển thái chuân chuân.

Người đời nay không thấy xuân đời xưa, bùi ngùi đêm xuân này đối diện với người xưa trên trang sách. Việc đời bao nả mà kim chẳng hóa cổ, đừng nhận sự hão huyền trước mắt là sự thật. Biết bao danh lợi chẳng qua như làn mưa buổi sáng, vô số người anh hùng như một đám bụi. Tự cười mình còn vướng thói đời chưa bỏ được, cứ đam mê ôm mãi quyển sách.

Thơ Đường, đêm Sở, lầu Tần
Giấy tương tư nở trắng ngần hoa bay.
Còn tay chẳng nắm cho hay
Vàng phai mới tiếc những ngày đỏ au.
Còn nhau chẳng nói yêu nhau
Mất nhau lại nhớ, lại sầu cố nhân.
Cố nhân Tây xuất Dương Quan
Nhạc Hồ có vẳng cung đàn Chiêu Quân!

Không biết đêm xuân hơn trăm năm trước Cao Thi Sĩ đọc quyển sách của ai, đêm xuân nay anh đọc Thơ của ông Cao Chu Thần — và anh cảm khái.

Làng quê của Cao Thi Sĩ là làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Trên đường Hà Nội đi Hải Dương-Hải Phòng, thường gọi là Đường Số Năm, có đường tầu hỏa. Từ Hà Nội qua cầu Sông Cái, khoảng 18 cây số đến một cây cầu sắt nhỏ tên là Cầu Bây rồi đến ga xe hỏa Phú Thị, rẽ vào con đường đất tay trái trước ga Phú Thị đi chừng một cây số là đến làng Phú Thị, một làng thuộc loại lớn, tương đối nhiều ruộng, có nhiều người đỗ đạt khoa bảng. Làng quê của anh là làng Linh Qui ở ngay sau làng Phú Thị của Cao Bá Quát, chỉ cách một quãng đồng và một dòng sông nhỏ có chỗ có thể lội qua. Sông này là sông đào.* Năm 1947 chiến tranh, gia đình anh tản cư về làng quê. Chú em con ông chú ruột của anh hơn anh đến mười tuổi quen biết Thi sĩ Cao Bá Thao, con cháu của Cao Bá Quát, nên anh được theo chú em đến chơi làng Phú Thị, mấy lần anh được gặp ông Cao Bá Thao.

Năm 1940 Cao Bá Thao đã là thi sĩ, bút hiệu Thao Thao, ông nổi tiếng với hai vở kịch thơ Quán Biên Thùy, Người mù dạo trúc. Ông có mặt trong tuyển tập Thơ Mới 1932-1945 do Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn Hà Nội ấn hành năm 1999. Nghe nói những năm 1960 Thi sĩ Thao Thao bị Việt Cộng cho đi cải tạo năm, bẩy năm sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm; từ 1954 đến nay không thấy ông sáng tác gì, dường như những năm 2000, ông vẫn còn sống.

Làng Phú Thị năm 1947 có anh Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chính-Kháng Chiến Xã tên là Dinh, anh này là giáo viên nên thường được gọi là Giáo Dinh. Anh có khẩu súng lục. Chủ Tịch Xã những năm 1947, 1948ø có súng lục là rất hiếm, rất hách, dù là súng cổ lỗ sĩ được chế tạo từ thời ông De Gaulle mới học đánh vần a, b, c, dù là súng bắn ba phát thì hai phát sịt, không nổ, gọi là đạn lép, một phát nổ thì đạn rơi trước nòng súng. Súng do Giáo Dinh Chủ Tịt Xã tự bỏ tiền ra mua. Tôi có gặp anh hai, ba lần, con người Giáo Dinh khá văn minh, áo sơ-mi kaki, quần soóc, mũ ca-lô, săng đan, đồng hồ tay, bút máy Wearever, xe đạp, súng lục kè kè bên hông, anh bị Thi sĩ Thao Thao nhạo bằng bài thơ:

Tiếng súng Cầu Bây nổ đánh ình
Ngoảnh ra thấy mất Bố Cu Dinh
Hỏi xem mới biết vừa quăng súng
Lõm bõm qua sông lội một mình…

Lính Pháp mở cuộc càn quét trong khu vừa nổ phát súng moọc-chê thị uy ở bốt Cầu Bây, Chủ Tịt Ủûy Ban Hành Chính-Kháng Chiến Xã Phú Thị đã bỏ chạy trước hơn ai hết. Chỉ nội bài thơ bốn câu đó thôi tác giả nó rất có thể bị Việt Minh — bố dzượng của Việt Cộng — cho đi mò tôm. Chủ Tịt Dinh, tức Bố Cu Dinh, là người họ Cao, rất có thể y ở hàng em, cháu Thi sĩ Thao Thao nên Thi sĩ làm thơ nhạo y mà y không làm hại gì Thi sĩ.

Nếu hôm nay Thi sĩ Thao Thao còn sống chắc ông sẽ cảm động khi thấy có người nhớ và viết về bài thơ Bố Cu Dinh ông làm năm mươi năm trước.

Năm 1947, trước khi quân Pháp đánh phá, gieo rắc khói lửa, chết tróc vào những vùng hai bên Đường Số 5, để bảo vệ con đường huyết mạch từ cảng Hải Phòng lên Hà Nội, anh theo chú em đến chơi làng Phú Thị vài lần, mới 15 tuổi anh không để ý đến chuyện nhà ông Cao Bá Quát trước ở chỗ nào trong làng, có bao nhiêu người họ Cao bị giết trong cuộc tru di tam tộc năm 1853, bà vợ và các con của ông Cao Bá Quát có bị giết không? Thi sĩ Cao Bá Thao họ hàng thế nào với Thi sĩ Cao Bá Quát? Hôm nay mái tóc không xanh nữa.. anh đã đau thương, đã nợ nần, anh đã bị tù hai lần, anh đã xa quê hương vạn dậm, đêm cô liêu bùi ngùi đọc Thơ của ông anh thấy ông tả tâm trạng ông ngày ông từ kinh đô trở về làng và cảnh cánh đồng làng Phú Thị sáng sớm:

Sương mấn tiêu tiêu bất tự tri
Hương thôn chỉ điểm thị quy kỳ
Mộc Miên điếm lý sương thu thảo
Thiên Mã hồ biên nhật thướng trì
Lân hữu hốt phùng kinh xác vấn
Mẫu thân sạ kiến hỷ giao bi
Bình sinh đa nạn kim trường hối
Úy hướng gia nhân ngữ biệt ly.

Mái tóc đã bơ phờ rồi mà mình vẫn không biết, nay là lúc được về thấy lại làng xóm. Đây là Điếm Cây Gạo sương đã tan, kia là Hồ Ngựa Trời mặt trời đang lên. Người hàng xóm bất ngờ thấy ta về, sửng sốt dồn dập hỏi thăm, mẹ già chợt trông thấy con, mừng mừng tủi tủi. Đã qua nhiều hoạn nạn, từ nay xin chừa. Với vợ con không dám nói đến tiếng “biệt ly”.

Năm 1947 anh từng đi qua cánh đồng làng Phú Thị, nơi một trăm năm trước Thi sĩ Cao Chu Thần đã đi qua, anh không nhớ ở đó có cái hồ nào cả — Hồ Ngựa Trời Thiên Mã — hay là Hồ Ngựa Trời của Thi sĩ có ở đó mà năm mươi năm xưa anh không để ý.

Bệnh hạc, thương hồng, vọng dĩ cô
Sáp linh kim tạm tá bằng đồ
Tiêu ma hàn mặc cùng tài tử
Lũng đoạn vân sơn tiện trượng phu
Chướng thịnh mộ hàn liên Bắc dữ
Dạ thâm tàn mộng đáo Tây hồ
Quyện du luyến biệt ưng vô chí
Thùy tích yên ba cựu điếu đồ!

Chim hạc ốm, chim hồng đau, hy vọng đã dừng lại. Nay lại chắp cánh tạm mượn đường bay của chim bằng. Hao mòn bút mực là chàng tài tử xác, vơ vét mây núi là anh trượng phu hèn… Lam chướng dầy dặc, khí lạnh chiều hôm tràn về đảo Bắc, đêm đã khuya giấc mộng tàn đến tận Hồ Tây. Chuyến đi đã mỏi không còn nghĩ đến tình lưu luyến lúc chia tay, có ai còn nhớ đến người bạn cũ cùng đi câu nơi khói sóng!

Cũng làm hao mòn bút mực nhưng anh không đáng được gọi là tài tử, tiếc thương suông đất nước anh chỉ là tên lưu vong hèn. Dạ thâm tàn mộng đáo Nam đô.. Đêm khuya mộng tàn, mơ về thủ đô nước Nam.. Đêm thật buồn đọc thơ người xưa ở thủ đô xứ người — xứ này không có Vua nên xứ này không có kinh đô — anh nhớ những ngày chúng ta còn trẻ ở Sài Gòn thủ đô của chúng ta.

Em có nhớ chăng, Em có tiếc
Những mùa yêu cũ đã tiêu tan?
Nhớ những chiều vàng, đêm ngọc biếc..?

Những đêm buồn năm 1982, 1983, một đêm nằm trên căn gác nhỏ, bên ngọn đèn dầu hôi, anh đọc lời than của Cao Bá Quát:

Nữ vô duyên vi tài tử phụ
Nam bất hạnh tác hồng nhan phu..

Nữ vô duyên làm vợ người tài tử, nam không may làm chồng người đàn bà đẹp.. Em ơi.. Em không là người đẹp, anh không là tài tử, tại sao đôi ta cùng đau khổ?

Lời than làm anh nhói tim, câu hỏi làm anh choáng váng. Đôi ta không là gì cả, đôi ta không làm gì cả, tại sao chúng ta cùng đau khổ? Anh đọc được câu trên của Cao Bá Quát trong một bài viết về Cao Bá Quát trong một quyển biên khảo về Thơ. Ngay đêm đó anh bị Công An Thành Hồ cho xe đến nhà rước đi; tất cả sách vở để trong giường anh đêm ấy bị họ lấy đi. Sáu năm sau trở về mái nhà xưa anh không tìm thấy tập biên khảo có lời than ấy của Cao Bá Quát.

Câu “Thiên hạ có ba bồ chữ. Anh ta chiếm một bồ, ta một bồ, còn một bồ chia cho mọi người..” là câu nói của anh em Tạ Linh Vận bên Tầu, không phải lời của Cao Chu Thần. Thi sĩ của ta không huynh hoang một cách ngu ngốc đến cái độ nhai lại câu nói khoe khoang quá đáng của người Tầu. Những anh làm thơ cà chớn đương thời Cao Chu Thần ở nước ta tưởng bở — những anh này không có họ hàng xa gần gì với ông Thi sĩ Cung Trầm Tưởng — gán câu nói kênh kiệu rởm ấy cho Cao Chu Thần. Câu “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán.. Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường” là câu bốc thơm ông Nguyễn Văn Siêu, ông Cao Bá Quát quá đáng. Làm cái gì mà đến “thần Siêu, thánh Quát“, thơ như thơ các ông Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương là thứ thơ trà tửu-cà phe-xíu mại-chà cháo quẩy tầm thường nhất cõi đời này. Hai ông Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương có tên trên bảng đường ở Quận 8, Sài Gòn. Cứ theo như chuyện được truyền thì Cao Chu Thần không coi trọng mấy thơ phú của hai ông Hoàng ấy. Hai ông Hoàng sính thơ, mở và làm chủ Tùng Vân Thi Xã, rồi Mặc Vân Thi Xã. Chỉ có hai cái tên Thi xã nghe hay thôi, thơ của hai thi xã nước mắm ấy được Cao Chu Thần làm cho bất tử bằng câu:

Ngán thay cái mũi vô duyên
Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An.

Câu “Ba hồi trống giục, mồ cha kiếp. Một nhát gươm đưa, bỏ mẹ đời..” chắc cũng không phải là ngôn ngữ của Cao Chu Thần. Nguời yêu cuộc sống như ông, người có tâm hồn thơ như ông không thể thốt ra những lời khinh bạc như thế về cuộc sống. Một ai đó không phải là tử tù, nhân việc Cao Chu Thần bị xử tử, đã làm câu trên, người đời gán cho Cao Chu Thần là tác giả. Chắc thế.

Gặp ông Tam Sĩ: Thi sĩ-Ca sĩ-Bác sĩ, ông nói vẫn đọc Rừng Phong, ông hỏi sao lâu rồi không thấy anh viết về Tình Yêu? Đúng vậy. Lâu rồi Rừng Phong không viết về Tình Yêu, Tình Yêu viết hoa hai chữ T, Y không có mà Tình Yêu viết toàn chữ thường cũng không có. Anh bèn viết bài này.

Em ơi.. Em không là giai nhân, anh không là tài tử.. mà đời chúng ta đã nát hơn cái mền Sakymen — Sài Gòn Kỹ Nghệ Mền Len, xưởng máy chân cầu Bình Triệu — Còn may. Em mà giai nhân, anh mà tài tử, không biết cuộc đời đôi ta còn rách đến chừng nào.

Quân lịch Kỳ Hoa, quân bất cải.
Ngã du Mỹ Quốc, ngã do liên.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Giai nhân, cùng sĩ đối sầu miên.

Kỳ Hoa Em vẫn là Em,
Anh sang Mỹ Quốc, đêm đêm Anh buồn.
Một đi hoàng hạc đi luôn,
Giai nhân, cùng sĩ, đối buồn nằm mơ!

HOÀNG HẢI THỦY

THƠ

* Hoa lưu động khẩu ưng trường tại,
Thủy đáo nhân gian định bất hồi.

Hoa chờ, nước chẳng về trời,
Ngàn năm mây trắng ngời ngời áo bay.
Còn nhau chẳng giữ cho hay,
Mất nhau lại tiếc những ngày có nhau.
Mắt Em ngưng ánh lệ sầu,
Về nhà chồng hỏi — Qua cầu gió cay.

* Câu Tiễn ngồi trên ngai vàng,
Có bao giờ nhớ đến Nàng, Tây Thi.
Sang Ngô mờ vết xe đi,
Cô Tô Đài có còn gì nữa đâu.
Đêm tha hương, giấc ngủ sầu.
Trong mơ xanh biếc một mầu Tây Thi!

* Kiếp nay đã giở giang nhau,
Thì xin kiếp khác, duyên sau lại lành.
Kiếp này đã chẳng Em Anh,
Làm sao kiếp khác chúng mình thành đôi.
Kiếp này biết kiếp này thôi.
Hẹn làm chi để bồi hồi kiếp sau!
Kiếp nay đã chẳng cùng nhau,
Hẹn làm chi để kiếp sau bồi hồi.

* Cuộc sống, dòng đời trôi chẩy mãi,
Ba mươi năm lẻ, một lòng đau.
Mất nhau từ cuộc thương tang ấy,
Anh vẫn buồn, anh vẫn nhớ nhau.
Độc tại Kỳ Hoa vi nạn khách,
Mỗi phùng Nguyên Đán bội thương sầu.

Anh ở Kỳ Hoa, làm khách nạn,
Mỗi năm Tết đến lại thương sầu.
Thương về đâu, nhớ về đâu?
Hà Đông Công Tử bạc đầu Rừng Phong.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: