• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Vĩnh Biệt Olympia!

Người trong ảnh hông phải Công Tử Hà Đông, đây là Boóc Hồ đang gõ máy chữ. Cũng như Công Tử Hà Đông, Boóc đánh máy chữ bằng Me-tốt Đơ Đoa, tức gõ mổ cò bằng hai ngón tay trỏ.

Đầu năm 1967 tôi từ biệt Toà soạn Nhật báo Tiền Tuyến để sang làm việc trong Toà soạn Nhật báo Dân Tiến. Tiền Tuyến tổ chức một tiệc chia tay với tôi. Tôi viết “Tiền Tuyến tổ chức một tiệc chia tay với tôi” cho đúng sách vở. Người cho tôi tiệc chia tay duy nhất trong đời tôi là Đại Tá Vũ Quang năm ấy là Cục Truởng Cục Tâm Lý Chiến và là vị Chủ Nhiệm thật sự nhật báo Tiền Tuyến. Trong bữa ăn tối ở Nhà Hàng Victoria, đường Lê Lợi, trên lầu toà nhà cạnh Rạp Xi-nê Vĩnh Lợi năm xưa ấy có Đại tá Vũ Quang, Chủ tiệc, có Trung tá Phạm Xuân Ninh, Trung Tá Lê Đình Thạch, Thiếu tá Phan Lạc Phúc, Thiếu tá Văn Quang, Đại úy Phạm Huấn, Thượng Sĩ Nhất Vũ Công Uẩn, Trung Úy Huy Vân, các bạn Viêm Hồng, Hĩm Đinh Hiển cùng nhiều anh em trong toà soạn.

Khi nói lời từ biệt cuối cùng, tôi nhắc lại: Đại Tá Vũ Quang, năm ấy là Cục Trưởng Cục Tâm Lý Chiến – Nhật báo Tiền Tuyến thuộc quyền quản trị của Cục Tâm Lý Chiến – Đại Tá Cục Truởng chúc tôi được vui với công việc ở tòa soạn mới, và ông nói một câu 40 năm qua rồi tôi còn nhớ từng tiếng:

– Xin anh Thủy coi Tiền Tuyến là nhà của anh, anh đi đâu thì anh đi khi nào anh muốn trở về nhà, xin anh cứ về.

Trang 156 Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, bài Thơ số 42.

Rồi Đại Tá nhân danh Nhật báo Tiền Tuyến tặng tôi món quà lưu biệt: cái máy đánh chữ Brother. Máy chữ Brother portatif có dấu chữ Việt mới tinh, còn nguyên trong thùng. Đấy là cái máy chữ thứ nhất của tôi trong đời tôi. Trong 20 năm ở Sài Gòn, từ 1952 đến 1975, tôi làm nhân viên toà soạn khoảng 5 tờ báo, chỉ có một Toà soạn Tiền Tuyến đãi tiệc tiễn tôi khi tôi đi, chỉ một lần tôi được tòa báo tặng cái máy đánh chữ.

Tôi có cái máy đánh chữ đầu tiên trong đời tôi năm 1967. Chiều nay, chiều đầu năm 2010 tuyết trắng ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, tôi tưởng tượng lại cảnh buổi tối phòng lạnh, đèn vàng, tiệc chia tay trong Restaurant Victoria năm xưa. Những ngày như lá, tháng như mây…1967, 1977, 1987… 1997… 2007…

Thấm thoát dzậy mà thời gian qua gần nửa thế kỷ, vừa mới đây thôi, tưởng như là hôm qua mà đã bốn mươi năm cuộc đời.. Đã bốn mươi mùa thu qua đời tôi kể từ buổi tối ở Sài Gòn tôi có cái máy đánh chữ Brother đầu tiên. Từ khi có máy chữ, tôi viết bằng máy chữ. Khi viết quen bằng máy chữ, tôi không còn viết tay được nữa. Tất nhiên tôi, mà ai cũng dzậy, chẳng chỉ một tôi, vẫn viết tay được khi bị bắt buộc, khi không có máy chữ, nhưng khi đã quen viết bằng máy chữ tôi viết tay không thích, không viết được nhanh, dễ, nhiều, thoải mái, thích thú như tôi viết bằng máy chữ.

Kể rõ hơn là đang quen viết tay, bằng bút, người viết tiểu thuyết phơi-ơ-tông nhà nghề như tôi, ngày nào cũng phải viết cả chục trang truyện, chuyển sang viết bằng máy chữ, những lần viết đầu sẽ khó khăn, khó viết, tâm trí đặt hết vào việc gõ chữ cho đúng nên ý văn bị quên, tắc. Do đó những lần đầu tôi chỉ viết trên máy chữ những bài thật ngắn, vài bài thơ, cho quen tay. Và những người viết bằng máy chữ như tôi, như ông Hồ chí Minh Boóc Hồ của Đảng Việt Cộng — mời quí vị xem hình — đều vào máy chữ viết ngang xương, không học đánh máy theo phương pháp. Do đó những người viết bằng máy chữ ngang xuơng như tôi, và Boóc Hồ, viết bằng hai ngón tay trỏ, cách viết này gọi là Phương Pháp Mổ Cò, tiếng Tây là Mê- tót Đơ Đoa. Phương pháp này không cần phải Học, chỉ cần Hành: mổ cò loạn cào cào mãi rồi quen tay, cũng viết được rào rào trên máy chữ, nhanh không kém những người có học đánh mày chữ. Chỉ có điều đánh máy chữ Mổ Cò, người viết phải luôn nhìn vào bàn phím — clavier — không thể nhìn sang trang chữ để bên cạnh như người đánh máy có học trường lớp đàng hoàng, và tất nhiên không thể đánh máy bằng cả 10 đầu ngón tay. Khi viết bằng máy chữ đã quen tay, người viết lại gặp khó khăn khi phải viết nhiều trang bằng bút như trước khi dùng máy chữ.

Tôi biết máy chữ khoảng năm 1941, 1942, ở thị xã Hà Đông. Tôi không “biết” người con gái nào ở thị xã Hà Đông vì lý dzo tôi đi khỏi thị xã năm tôi 13 tuổi — năm 1946 — nhưng máy chữ thì tôi biết cái máy chữ thứ nhất trong đời tôi ở thị xã Hà Đông.

Chính xác hơn tôi biết máy chữ trong Dinh Tổng Đốc Hà Đông. Năm ấy tôi học ở Trường Tự Đức gần ngay Dinh Tổng Đốc. Ông thân tôi có xe kéo riêng đưa đón ông đi làm, dù từ nhà ông đến Dinh Tổng Đốc nơi ông làm Thông Phán chỉ là 500 thước. Tôi tan trường lúc 5 giờ chiều, anh kéo xe nhà tôi đem xe đến truờng đón tôi, đưa tôi đến Dinh Tổng Đốc, tôi vào Dinh chơi đợi đến 6 giờ cùng về nhà với ông thân tôi.

Một chiều trong buy-rô của ông bố tôi, ông đang ngồi trước cái máy đánh chữ, ông bế tôi ngồi lên lòng ông, ông cho cái phong bì giấy vàng vào máy, ông gõ lách tách mấy cái, tôi thấy hiện lên trên phong bì dòng chữ

À Monsieur Duong Trong Hai

Máy đánh chữ trước năm 1960 không có dzấu Hỏi, Ngã. .

Hai mươi năm sau buổi chiều ấy tôi có cái máy đánh chữ đầu tiên của tôi ở Sài Gòn.

Người viết truyện nhà nghề viết bằng máy đánh chữ có nhiều cái lợi:

– Trang viết rõ, ngay, sáng,

– Trang viết có cỡ, như từ đầu trang xuống cuối trang 20 dòng là trang nào cũng đúng 20 dòng, từ đầu dòng đến cuối dòng 12 chữ là dòng nào cũng 12 chữ. Viết bằng bút người viết có thể viết trang 20 dòng, trang 18 dòng, chữ viết to nhỏ không y một cỡ.

– Anh em thợ sắp chữ nhà in sắp chữ theo bản đánh máy dễ hơn là theo bản viết bằng bút.

– Viết bằng bút người viết chỉ có 1 bản, đem đến toà soạn giao cho nhà in là không còn cách nào kiểm lại xem mình đã viết gì trong truyện mấy ngày trước đó.

– Người thợ viết viết bằng máy chữ giữ được một bản để bán cho nhà xuất bản.

– Viết bằng bút người viết có thể ngồi gù lưng, nghẹo cổ, để một chân lên ghế, dùng một tay, viết bằng máy chữ người viết phải luôn luôn ngồi thẳng, viết đỡ hại thân xác hơn.

– Viết bằng máy chữ có tiếng động nghe vui tai, tôi gọi là “chantante”: Tách.. tách.. tách.. keng — rẹt.. tách.. tách..

– Người thợ viết có thể dễ dàng mang máy đánh chữ portatil theo mình đến toà báo. Xách bàn máy vào tòa soạn, ngồi lách tách gõ truyện, tác phong có vẻ ký giả chuyên nghiệp, hiện đại, hữu hiệu và lịch sự.

Tôi viết truyện bằng máy đánh chữ từ năm 1967 dzài.. dzài.. Những ngày như lá tháng như mây.. Ngày 30 Tháng Tư Đen Hơn Lá Đa Ca Dao, Nhọ Hơn Mõm Chó Mực cùng với Già Hồ Cả Đọi Râu Đoi Mấy Sợi Còi vào Sài Gòn, cái máy chữ Brother của tôi bị xếp xó. Năm 1977 khi bọn Công An Thành Hồ đến nhà tôi bắt tôi đi tù, chúng tịch thu, chúng ôm đi cái máy chữ Brother của tôi, chúng coi đó là tang vật giúp tôi phạm tội — trong Lệnh Bắt có câu: “Bắt khẩn cấp, lục xét, tịch thu tang vật..” — cái máy chữ giúp tôi viết những bài tố cáo những tội ác chúng làm với đồng bào tôi, phơi bầy những ngu xuẩn của chúng và gửi những bài viết “phản động” bằng cái máy chữ đó ra nước ngoài.

Mất máy chữ, đi tù Cộng 2 năm lần thứ nhất, khi từ ngục tù Số 4 Phan đăng Lưu trở về mái nhà xưa dzột nát và vòng tay của người vợ gầy, tôi lại viết bằng bút. Trong cái gác lửng căn nhà tối nơi vợ chồng tôi sống líu ríu bên nhau 20 năm ở Cư Xá Tự Do Ngã Ba Ông Tạ, trước Hồ Tắm Cộng Hòa, tôi viết tập “Thơ Chữ Hán Nguyễn Du.” Trong tập này tôi dịch khoảng 50 bài Thơ Chữ Hán của Nguyễn Du cùng lời bình loạn của tôi, tôi gửi tác phẩm này sang Paris và tác phẩm được Nhà Xuất Bản Nam Á ở Paris xuất bản năm 1983.

Năm 2003, đúng 20 năm sau, tôi mới đến được Paris. Nhà Xuất Bản Nam Á không còn quyển Thơ Chữ Hán Nguyễn Du nào của tác giả Dương Hồng Ngọc. Đây là Thư của ông bạn Mai Trung Ngọc, Chủ Nhà Xuất Bản Nam Á, gửi tôi:

Paris, ngày 21/03/ 2003,

Yêu kính gửi anh Hoàng Hải Thủy,

Sau khi tiếp chuyện điện thoại viễn liên với anh, Ngọc đã cố tìm lại ấn phẩm Thơ Chữ Hán Nguyễn Du của anh. Tác phẩm này tuyệt bản đã lâu. Việc tìm lại dấu tích một quyển sách được in từ 20 năm trước là việc không dễ làm. Nhưng sau cùng Ngọc đã hài lòng tìm được, và chắc anh còn vui hơn Ngọc, vì anh thấy lại đứa con tinh thần của anh được thai nghén trong trong giai đoạn cuộc sống cực kỳ chấn động của nạn hồng thủy ở quê hương ta.

Tưởng cũng nên kể vài chuyện liên quan tới ấn phẩm này hồi 1982-1983 ở Paris. Hồi đó Ngọc phụ trách việc xuất bản các ấn phẩm Việt ngữ cho Institut de l’Asie du Sud-Est, do ông Letourneau, (Cựu Tổng trưởng, nay đã chết,) là Chủ tịch, và ông Gustave Meillon (nay cũng đã chết) là Giám đốc. Cơ sở SudAsie của Ngọc lúc đó chỉ lo ấn loát, họa hoằn mới xuất bản. Ở thời điểm này, Ngọc đang cùng các anh Trần Tam Tiệp (Đạo Cù) , Hoàng Anh Tuấn (Thợ Đấu), Nguyễn Ang Ca (Thằng Ca), Nguyễn Hữu Nghĩa (Tư Quê) và Trần Trung Quân (Con Muỗi Làng Tôi), làm tờ “Con Ong Tỵ Nạn” ở Paris. Một hôm, Trần Tam Tiệp tuyên bố có một việc hết sức hấp dẫn. Anh khoe ra 2 quyển vở học trò 98 trang mác “Xe Xích-lô Máy” đầy chữ viết tay đều đặn rất đẹp, đó là bản thảo tác phẩm Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, gửi từ VN qua, của Hoàng Hải Thủy phải dấu tên, ký bút hiệu Dương Hồng Ngọc, vì lý do anh còn kẹt lại ở Thành Hồ (chữ của anh) với muôn vàn khó khăn chồng chất, không chỉ cho riêng anh và các nhà văn Sài Gòn cũ mà với toàn thể dân miền Nam VN. Tập này qua được Paris không phải dễ, nếu không được cô Nhạn, 1 nhân viên Bưu Điện VN, với tấm lòng nhân ái và yêu mến văn nghệ cao độ, vẫn thường giúp Trần Tam Tiệp trong công việc gửi thuốc Tây về VN cứu trợ các văn hữu gặp khó khăn, cô Nhạn đã gửi tác phẩm này qua Paris. Xin gửi một bông hồng đến cô Nhạn, vì việc này mà cô bị bắt, bị tù đến 4 năm.

Sau đó đến việc ký kết hợp đồng xuất bản do anh TT Tiệp đại diện tác giả. Trần Tam Tiệp viết lời Tựa, Nguyễn Tất Nhiên (Nhà thơ, đã chết ở Orange Countay, CA) lo việc đánh chữ. Vì SudAsie hồi đó cũng chỉ có Compo-Sphère IBM như các ông Hồ Anh (báo Văn Nghệ TP), và ông Võ Văn Ái (báo Quê Mẹ) nên phải bỏ dấu bằng tay. Như anh thấy đó, NT Nhiên cố công nhưng nhiều chữ vẫn còn thiếu dấu. Đánh máy xong anh Tiệp giữ lại bản viết tay. Sau vì anh Tiệp bị tai nạn đứt mạch máu não, nằm nhà thương, phải ngồi xe lăn, nói khó khăn, lại cũng vì phải đổi chỗ ở mấy lần nên bản ấy thất lạc đâu, anh Tiệp không biết.

Bản photocopie anh đang có trong tay được chụp từ maquette để in của SudAsie Ngọc tìm lại được, in, đóng tập gửi sang cho anh. Hình tưởng ra những cảm khái của anh khi thấy được những dòng chữ lưu lạc đã hơn 20 năm, Ngọc vui lây, bõ công lục tìm.

( .. .. .. )

Vài lời thăm anh. Cũng nhân mới là Mùa Xuân, Ngọc chúc anh chị được nhiều sức khoẻ, mọi việc như ý trong năm Quý Mùi này.

Yêu kính

Mai Trung Ngọc

– – – – – – – – – – –

Lá thư Mai Trung Ngọc Paris viết năm 2003, gửi trong tập Thơ Chữ Hán Nguyễn Du. Mới như hôm qua đây mà đã 7 mùa tuyết trắng.

Cảm khái cách gì.

Ngậm ngùi tưởng nhớ những người bạn đã ra đi. Trong những ông bạn tôi kể trong Tiệc Chia Tay Tiền Tuyến 1967 những ông này nay không còn nữa:

Trung Tá Lê Đình Thạch, Đại Úy Phạm Huấn, các anh Vũ Công Uẩn, Boxeur Bắc Kỳ Nhà Nghề trước năm 1945, Trung Uý Huy Vân, nghe nói anh Huy Vân chết trong tù ở miền Bắc, Hoàng Anh Tuấn. Tôi cũng nghe nói Thượng Sĩ Viêm Hồng đã qua đời ở Sài Gòn.

Những ông này còn sống: Đại Tá Vũ Quang hiện ở Minnesota, Kỳ Hoa, Trung Tá Phạm Xuân Ninh – Hà Thượng Nhân ở San José, Kỳ Hoa, Trung Tá Phan Lạc Phúc ở Sydney, Úc, Hĩm Đinh Hiển ở Cali, Trung Tá Văn Quang ở Sài Gòn

Những ông bạn tôi ở Paris 1983 ra đi nhiều hơn. Nay không còn nữa những ông Thợ Đấu Hoàng Anh Tuấn, Thằng Ca Nguyễn Ang Ca, Đạo Cù Trần Tam Tiệp, Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên.

Tập Thơ Chữ Hán Nguyễn Du của tôi được viết trong 2 quyển vở học trò, mỗi quyển 98 trang, tôi viết hai mặt giấy. Như vậy là gần 200 trang viết tay. Tôi kể lời thư của bạn Mai Trung Ngục: Bản thảo viết tay, chữ đều đặn, rất đẹp. với niềm kiêu hãnh. Tôi vốn không có hoa tay, chữ vẫn viết xấu, nhưng năm 1982, sau 7 năm không được viết — bằng máy chữ — tôi đã viết bằng bút Bic — bút từ Pháp gửi về — những chữ rất đẹp. Năm ấy, khi đọc lại những trang Thơ Chữ Hán Nguyễn Du trước khi nhờ cô Nhạn gửi đi, tôi ngạc nhiên thấy chữ tôi viết rất — không thể nói là rất đẹp nhưng rất được, chữ tròn, nét rõ, gọn, sạch, hỏi ngã đâu ra đấy. Tiếng gọi đúng nhất là chữ dễ thương, hiền hậu.

Cô Nguyễn Thị Nhạn bị bắt, ra toà cùng anh em chúng tôi, bị án 4 năm tù khổ sai. Hiện cô sống ở Sài Gòn.

– – – – – – – – – – –

Những ngày như lá, tháng như mây lại theo nhau qua. Năm 1995 bánh xe tị nạn đưa tôi đến Xứ Kỳ Hoa làm cuộc lưu đầy, tôi lại được viết truyện, tôi lại có cái hạnh phúc được VIẾT. Với tôi, VIẾT LÀ HẠNH PHÚC. Những ngày đầu mới đến Kỳ Hoa tôi không có máy chữ — Kỳ Hoa thiếu gì máy đánh chữ, nhưng thứ máy chữ tôi cần là thứ máy đánh chữ có dấu chữ Việt, cái gì Kỳ Hoa cũng có nhưng cái máy chữ dấu tiếng Việt “sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng” thì Kỳ Hoa không có. May sao tôi mượn được cái máy chữ Olympia có dấu chữ Việt của ông bạn Anh Ngọc. Năm 1995 toàn bang Virginia is for Lovers chỉ có một cái máy đánh chữ có dấu chữ Việt, cái máy chữ quí hiếm ấy của Anh Ngọc, mang từ Sài Gòn sang. Anh Ngọc cho tôi mượn cái máy chữ Olympia ấy. Rồi tôi gọi phone về cho con tôi ở Sài Gòn, bảo cháu đi tìm mua gửi ngay sang Kỳ Hoa cho tôi cái máy chữ. Máy chữ con tôi gửi qua biển sang Kỳ Hoa cho tôi cũng là máy hiệu Olympia, không những chỉ Olympia suông, máy còn có tên là Olympya Traveler, thứ máy chữ portatif có dấu chữ Việt tôi thấy là đẹp nhất trần đời. Giá cái máy chữ Olympia Traveler mới 90% năm 1995 ở Sài Gòn là 100 USD: Một trăm Đô Mỹ.

Nhưng việc viết bài bằng máy chữ để đăng báo ở Kỳ Hoa năm 2000 không còn được các nhà báo chấp nhận. Nhà báo phải đưa bản viết bằng máy chữ cho chuyên viên đánh lại bằng máy computer, tốn tiền, mất công, lích kích, lỗi cả đống, tiền trả công cho người đánh máy computer nhiều hơn tiền nhà báo trả nhuận bút cho người viết bài. Do phải mướn người đánh máy computer bài viết bằng máy chữ nhà báo phải trả hai lần tiền, tiền bài thành quá cao. Muốn bài tôi viết được đăng, tôi bị bắt buộc phải đổi từ viết bằng máy chữ sang viết bằng computer. Viết xong gửi ngay cho nhà báo, chỉ cần nhấn một nhấn trên Con Chuột là toàn bài bay đi, bay đến toà báo, bất kể toà báo ở tận đâu xa, kể cả ở mặt bên kia Địa Cầu, bài đi và đến trong nháy mắt, trong một sát-na, trong ½o sát-na, y chang, không sai một dấu chấm, phết, hỏi ngã đâu ra đấy, bài viết được lấy ra đăng báo ngay, y boong. Nếu bài có lỗi chính tả, văn phạm, đó là lỗi của người viết.

Tôi lừng khừng không chịu đổi. Tôi viết bằng máy chữ quen rồi. Tôi thương, tôi quí cái máy chữ của tôi, máy Olympia Traveler. Tôi có thói quen cái gì đã vừa ý là dzùng hoài, không thay, không bỏ, như nhờ một ông Phó Koáp hớt tóc, nhờ một ông Phó Chũi may quần áo, sống với một người đàn bà.

Với tôi máy chữ Olympia Traveler là Máy Chữ Đẹp Nhất thế giới, Đẹp Nhất muôn đời Máy Chữ. Những năm 1970 nếu bạn để cái máy chữ Olympia Traveler bên em Kiều Nữ 25 Xuân Xanh Thơm Như Múi Mít, bạn hỏi tôi chọn ký gì?

Tôi chọn Olympia Traveler.

Hôm nay 10 mùa lá đổ sau ngày tôi phụ tình, tôi đoạn tình Olympia, tôi vẫn giữ Olympia trong closet căn phòng của tôi ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Đã bao nhiêu ngày đêm tôi với Olympia mải mê sống bên nhau. Olympia từ Sài Gòn cờ máu bay qua biển đến xứ người này với tôi. Khi tôi viết nửa đêm, gần sáng, vợ tôi ngủ, Olympia thức với tôi, Nàng cùng viết với tôi, Nàng nỉ non khuyến khích tôi:

– Cố lên anh. Tí nữa thôi. Tí nữa! Sắp xong dzồi..

Nàng không phụ tôi, làm sao tôi phụ Nàng cho đành. Người ta sống ở đời phải có tình, có nghĩa. Loài chó còn có tình, có nghĩa. Nữa tôi là người. Chỉ có bọn đảng viên Cộng sản, và bọn Việt Kiều Nâng Bi CS, là không có tình, có nghĩa thôi.

Muời mùa thu lá bay tôi không một lần chạm hai ngón tay trỏ vào Olympia, nhưng tôi vẫn nhớ thương, vẫn quí Nàng.

Năm 1995 ở Kỳ Hoa, đọc báo Mỹ tôi thấy một số ông chuyên viên viết truyện người Mỹ không chịu bỏ viết bằng máy chữ, các ông không chịu viết bằng máy computer, các ông lập Hội Những Người Viết Yêu Máy Chữ. Tôi đọc bản tin mà cảm khái cách gì. Ở đời này đâu phải chỉ có mình tôi là người viết truyện bằng máy chữ yêu thương cái máy chữ tình nhân của tôi, không phải chỉ có mình tôi là người viết nhất định không chịu bỏ máy chữ.

Tôi nhất quyết không chịu chuyển sang viết bằng computer. Nhất quyết. Nhưng rồi ..than ôi.. Cuối cùng tôi cũng phải làm nhị quyết, tôi phải đoạn tuyệt tình duyên với Nàng Olympia, tôi bùi ngùi cho Nàng dzô nằm dài ngày trong một xó closet. Rồi tôi cũng phải phụ Nàng, tôi phải viết bằng computer.

Viết bằng computer sướng hơn viết bằng máy chữ. Sướng lắm lận. Sướng như là ..sướng..Nhưng chuyện về những cái hay của computer không phải là đề tài của bài Viết ở Rừng Phong hôm nay. Tôi có mặc cảm phạm tội khi tôi bỏ máy chữ để dùng máy computer, tôi xoay ra ghét những cái gọi là WEB, WEBSITE, NET, E-MAIL, INTERNET do máy computer sinh ra. Tôi nhất định không gửi bài đăng trên Web, tôi không xem những bài thiên hạ đăng trên các Website.

Nhưng tôi lỗi thời rồi. Cuộc sống và loài người đã bỏ rơi tôi. Xa lắc.! Tịt mù! Năm tôi 30 tuổi — năm 1960 — ông bố tôi, các ông chú, ông cậu tôi lỗi thời, những ông Lê Văn Trương, Lê Tràng Kiều, Đàm Quang Thiện, Tam Lang, Trọng Lang, Phạm Cao Củng, Á Nam Trần Tuấn Khải, Vi Huyền Đắc lỗi thời. Nay tôi Bẩy Bó — năm 2000 — tôi lỗi thời. Thời này là thời COMPUTER-WEBSITE-E-MAIL. Thời này ai không dùng Computer, ai không chơi Internet, ai không mò xem Website là người ấy thiệt. Tôi không chịu Web, Net nhưng Web, Net vẫn cứ đến với tôi. Không chán, vẫn yêu, tôi vẫn phải bỏ Olympia, không ưa tôi vẫn phải ngày ngày mở computer.

Tôi thán phục và biết ơn ông Việt Nam nào năm xưa đã chế ra Bộ Dzấu Chữ Việt Sắc Huyền gắn vào máy đánh chữ.

Tôi cám ơn ông bạn nào trong tòa soạn Nhật báo Tiền Tuyến năm xưa đã có ý tặng cho người ký giả ra đi cái máy đánh chữ.

Phấn hồng tặng Giai nhân.
Bảo kiếm tặng Hiệp sĩ.

Máy đánh chữ — nay, 2010 là máy computer — tặng người Viết Nhà Nghề.

Không còn gì đúng hơn.

Cảm khái cách gì.

Đến đây tạm chấm dzứt Chương Trình Văn Nghệ Tạp Lục của Ban Tùm Lum.

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG

– – – – – – – – – – –

Rừng Phong, 4 giờ chiều Ngày 29 Tháng Hai 2010.

Kính gửi quí vị đọc những dòng chữ này ở chín phương trời hải ngoại.

Vị nào có quyển:

* Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, tác giả Duơng Hồng Ngọc, Nam Á xuất bản Paris 1983, xin cho tôi.

* Tắm Mát Ngọn Sông Đào, Nhà Xuất Bản Lá Bối ấn hành ở Paris năm 1983, cho tôi xin.

Tôi cám ơn.

Advertisements

3 Responses

  1. Bố Già bị buộc phải bỏ nàng Olympia, dẫu có yêu dấu đến đâu cũng chỉ là một vật vô tri vô giác, mà còn cảm thấy đau khổ, huống chi bọn trẻ chúng tôi bị buộc ngưng đọc văn chương VNCH và thay thế bằng thứ văn học giải phóng thổ tả sau tháng tư đen hơn mõm chó ?
    Cái gì cũng có thể bị tụt hậu và lỗi thời theo thời gian và sự tiến hóa, kể cả trình độ kỹ thuật của văn nghệ sĩ, nhưng văn chương thật, văn nghệ thật và văn nghệ sĩ thật sống mãi, dù có bị vùi dập, cấm đoán đến đâu đi nữa!
    Cám ơn CTHĐ đã can đảm cho nàng Olympia gài số de, để bọn hậu sinh chúng tôi tiếp tục được đọc văn của Bố Già!

  2. Hoài cổ hình như là bệnh chung của nhiều người ( lý do eBay vẫn còn sống lai rai đến giờ này (?), nhất là người Việt ở hải ngoại. Vào thập niên 80s, gần như tất cả những cửa hàng sách báo, băng nhạc tại hải ngoại đều bầy bán những cuốn truyện cũ được in lại từ những tác phẩm văn học thời trước 75.

    Lúc đó, tôi cũng đã từng mất cả ngày ở những tiệm bán sách cũ khu Bolsa để tìm kiếm, lục lọi mua lại những cuốn truyện ưa thích ngày xưa. Thường là về tay không, nhưng cũng có những khi may mắn tìm ra được những hàng hiếm như Đi Tìm Người Yêu (The Citadel – A. J. Cronin), Người Yêu Người Giết (Le Deuxième Souffle – José Giovanni) mà nhà văn Hoàng Hải Thủy đã phóng tác. Thỉnh thoảng tôi vẫn lấy xuống từ tủ sách đọc lại vài chương, chỉ để hoài niệm thôi, chứ cốt truyện của những cuốn này thì tôi gần như đã thuộc làu rồi.

    Số phận của nàng Olympia hình như có phần hẩm hiu hơn, lâu lâu mới được CTHĐ mở closet nghía cho một cái, nhưng tình nghĩa hơn chục năm gắn bó dù sao cũng đã được CTHĐ đền bù bằng bài viết này rồi!

    Biết đâu một chục năm sau, CT cũng sẽ viết một bài tương tự như “Vĩnh Biệt Em Dell” để tiễn đưa cái computer mà CT đang dùng vào trong closet nằm cạnh em Olympia? Bởi vì bấy giờ với cái Voice-to-Text software của nhà Nuance, CT chỉ cần vừa ung dung thưởng thức ly trà buổi sáng, vừa thong thả đọc những lời mình muốn Viết Ở Rừng Phong lên cái iPod, và sau khi chấm dứt chương trình của ban Tùm Lum chỉ cần bấm cái nút Send là bài viết của CT đã chuẩn bị ngồi chễm chệ trên tờ nhật báo Sàigòn nhỏ rồi!!

  3. Báo Tiền Tuyến có bán hay chỉ phát miễn phí cho lính hả bác? Nếu bán thì mấy đồng 1 tờ, có rẻ hơn báo tư nhân như Hòa Bình, Chính Luận …? Kính bác.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: