• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Chết Dễ, Sống Khó

Đầu năm 2010, trên Web có tin:

Nhà Tranh đấu Dân chủ Cuba Orlando Zapata Tamayo tuyệt thực chết trong ngục tù Cuba. Người tù Tamayo tuyệt thực phản đối chế độ lao tù tàn độc của Cộng Cu. Ông bị bọn Cộng Cu kết án tù cấm cố 36 năm. Ông bắt đầu nhịn ăn ngày 3 Tháng 12, 2009, ông chết sau 85 ngày tuyệt thực.

Nguyen Manh ConTrước ông O.Z. Tamayo, Cuba đã có một Nhà Đấu tranh chống bạo quyền Cộng Cu tuyệt thực chết trong tù. Người đó là ông Pedro Luis Boitel. Ông Boitel chết trong tù ngày 25 Tháng 5, 1972 sau 53 ngày tuyệt thực.

Bọn Cộng Việt — tôi chắc bọn Cộng Cu cũng y hệt — bắt chước cách đối xử tàn bạo của bọn Cộng Nga với những người bị chúng giam tù mà tuyệt thực chống chúng. Trong ngục tù Cộng Sán — Cộng Sán, không phải Cộng Sản — Người Tù vừa nói ba tiếng:

Tôi tuyệt thực..!” là lập tức bị bọn Cai Tù giam riêng, chúng không cho người tù tuyệt thực uống nước. Đòi nước uống, chúng hỏi người tù:

– Không ăn còn đòi uống làm chi?

Ngày xưa Thực Dzân Pháp giam tù những nguồi yêu nước Việt Nam nhưng khi có ông tù nào tuyệt thực, chúng — bọn Cai Tù Pháp — thường xuống nước tìm mọi cách có khi năn nỉ ông Tù ăn lại. Nhưng bọn Cai Tù Cộng Việt thì tàn nhẫn và thản nhiên bắt người tù tuyệt thực phải chết. Chúng làm vậy để đe doạ những người tù khác:

– Thằng nào muốn chết khốn nạn như thằng này cứ việc tuyệt thực. Chúng ông sẵn sàng cho chúng mày chết khát luôn.

Tin người tù chính trị Cuba chết vì tuyệt thực trong tù làm tôi ngậm ngùi. Tôi nhớ Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn, Nhà Văn của Quốc Gia tôi — Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, quốc gia một thời vàng son nay đã bị diệt — Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn bị bọn Cộng Việt bắt tù Tháng Ba năm 1976. Năm 1979 ở Trại Tù Khổ Sai Xuyên Mộc, Nhà Văn đòi bọn Cai Tù trả tự do cho ông, không được, ông tuyệt thực phản đối. Bọn Cai Tù Xuyên Mộc giam riêng ông, không cho ông uống nước. Nhà Văn chết ở Trại Tù Xuyên Mộc. Tôi nghe nói năm 2000, anh Nguyễn Kiên Trung, con trai ông, đã đem nắm xương tàn của ông từ bìa rừng Xuyên Mộc về cải táng trong một nghĩa trang ở Lái Thiêu, mộ Nhà Văn ở bên cạnh mộ bà vợ của ông.

Dường như trong số cả trăm văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà bị bọn Bắc Cộng giam tù sau năm 1975 chỉ có một mình Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn tuyệt thực, ông bị bọn Cai Tù không cho uống nước đến chết thảm trong tù.

Đây là chuyện Nhà Yêu Nước Châu Thơ Đồng, Người Tù Chính Trị Việt Nam Thứ Nhất chết trong Tù vì Tuyệt Thực.

Năm Mậu Thân — 1908 — nhiều vụ dân nghèo ở miền Trung biểu tình đòi giảm thuế — chính quyền Thực Dân Pháp thẳng tay đàn áp phong trào này. Các ông khoa bảng Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Phan Thúc Duyện, Dương Bá Trác, Phan Khôi. Nguyễn Tiểu La, Châu Thơ Đồng, Trần Quí Cáp..bị Pháp bắt và kết tội là những người cầm đầu phong trào Dân Nghèo nổi dậy. Nhiều vị bị án tù khổ sai trên 10 năm, đày ra Côn Đảo.

Sống trên đảo ngục tù 12 năm nhưng không chết và trở về nước, năm 1939 Nhà Yêu Nước Huỳnh Thúc Kháng viết Hồi Ký “Thi Tù Tùng Thoại” ở Huế. Đây là tác phẩm Hồi Ký Tù Ngục đầu tiên của Văn Chương Tù Ngục Việt Nam. Hồi Ký được đăng trên Nhật Báo Tiếng Dân, báo in ở Huế, do ông Huỳnh Thức Kháng làm chủ nhiệm. Trong Hồi Ký này, tác giả Người Tù Yêu Nước Huỳnh Thúc Kháng kể lại chuyện Người Tù Yêu Nước Châu Thơ Đồng tuyệt thực chết trong tù:

Thi Tù Tùng Thoại. Hồi Ký Ngục Tù của Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng. Trích:

Châu Thơ Đồng tiên sanh, tên là Thượng Văn, người Minh Hương (Faifo), bạn thiết của Tiểu La tiên sanh. Nhà Châu quân ở giữa thành phố Faifo, là nơi thương khách qua lại, tiện đường giao thông, nhân sĩ Bắc Nam ra vào Quảng Nam thường ngụ tại nhà Châu quân, mà thơ từ khắp nơi gửi Tiểu La cũng do Châu quân nhận và chuyển đạt.

Cuộc Dân biến năm Mậu Thân xảy ra, Châu quân bị bắt hạ ngục. Ngay từ ngày thứ nhất vào ngục, Châu quân tuyệt thực.

Đầu tiên Châu quân bị giam ở ngục Faifo, rồi bị giao cho quan tỉnh tra xét. Quan Tây và Quan Nam hỏi cung, Châu quân đều nhận chịu một cách khẳng khái, không giấu giếm cũng không chối tránh.

Châu quân trả lời hỏi cung:

“Người nước Nam sang Nhật Bản và hạt dân xin giảm thuế do chính tôi chủ mưu, không ai khác dự vào cả.”

Toà án Nam triều kết án Châu quân tù khổ sai chung thân, đày đi ngục Lao Bảo. Kể từ khi Châu quân bị bắt đến ngày thành án là 20 ngày, ông không nuốt một hạt cơm vào bụng, mỗi ngày ông chỉ uống vài chén nước trà do người con đưa vào nhà ngục.

Nghe nói Châu quân bị bắt rồi nhịn đói trong tù, tôi sợ ông không thể sống được. Bỗng một ngày nọ, cửa phòng giam tôi mở ra, mấy người lính tập dẫn năm, sáu người tù vào phòng, rồi hai người dân phu khiêng vào cái võng, trong võng có người tù bị đau nằm liệt. Hỏi thì được biết những người tù này có án bị đày đi Lao Bảo, gửi giam tạm ở đây, đợi chiều lên xe hoả đi Huế. Lúc ấy có đường xe hoả chạy đường Faifo-Tourane.

Lính ra rồi, cửa phòng giam khoá lại, tôi đến bên người tù bệnh nằm trong góc phòng giam, thấy người ấy mặt đen như than, tay chân như ống quyển, hai mắt nhắm khít, trông không còn hình dạng người, hơi thở mong manh. Lòng tôi thương cảm, nhìn kỹ một chặp lâu mới nhận ra: người tù sắp chết này không phải là người xa lạ với tôi, ông là Châu Thơ Đồng tiên sanh. Ông gần chết vì đã tuyệt thực trên 20 ngày.

Tôi gọi:

– Châu tiên sanh! Châu tiên sanh! Ông nhìn biết tôi là ai không?

Nghe tôi gọi, Châu quân mở mắt nhìn tôi một chốc lâu rồi nói nhỏ:

– Mính Viên quân. Tôi làm cái dễ, anh em gắng gánh lấy sự khó.

Nói rồi ông nhắm mắt, nằm như thân cây khô.

Chiều hôm ấy Châu quân được đưa lên võng, khiêng ra nhà ga cùng mấy người bạn tù, lên xe hỏa ra Huế. Đến Huế thì Châu quân chết trong nhà lao Phủ Thưà.

Bị giam trong ngục mà nhịn ăn, từ Thánh Cam Địa Ấn Độ về sau có nhiều người làm theo, đã thành việc không lạ gì. Nhưng Châu quân tuyệt thực trước Cam Điạ và ông nhất định tuyệt thực đến chết, cao hơn Cam Địa một bậc.

Tôi có câu đối điếu Châu quân:

Nhân giai úy tử, quân độc bất tham sanh, bát xích tu mi, tu dĩ hà sơn dinh nhất bảo.

Thuỳ vi kỳ nan, quân nãi vi kỳ dị, nhất phần trách nhiệm, các tuơng tâm huyết cáo đồng bào.

Dịch tiếng Việt:

Cái chết ai không sợ, người lại không tham cái sống; tám thước mày râu, thẹn với non sông dành bữa gạo.

Phần khó ai dám đương, người bỗng lãnh ngay phần dễ, một thân gánh vác, buồn đem tâm huyết cáo bà con.

– – – – – – – – – – – –

CTHà Đông bàn loạn: Cái Chết ai không sợ, cái Sống ai không ham? Nhưng Người Yêu Nước Châu Thơ Đồng không sợ cái Chết, không ham cái Sống, ông cho Chết là việc Dễ mà Sống — Nhục, Nô Lê, Cúi đầu, Nâng Bi bọn Ác quyền — là Khó.

Cảm khái cách gì.

Tại sao những năm đầu Thế Kỷ 20 dân tộc tôi có nhiều nhà khoa bảng — Tiến Sĩ, Cử Nhân — Yêu Nuớc chống Pháp, coi thanh danh của Tổ Quốc, hạnh phúc của nhân dân trọng hơn mạng sống, hào hùng, cao thượng đến như thế, mà đến cuối Thế Kỷ 20 dân tôc Việt khốn khổ của tôi lại có nhiều tên khoa bảng — cũng Tiến Sĩ, cũng Cử Nhân — chỉ biết sướng thân mình, gục mặt ngửi đít bọn Cộng Ác Ôn hèn mạt đến như thế?

Câu Tiễn, một ông người nước Việt ở bên Tầu là Vua nước Việt cũng ở bên Tầu thời Đông Chu Liệt Quốc, từng coi “Chết Dzễ, Sống Khó.” Kể chuyện có đầu, có đuôi như sau:

Nước Việt ở bên nước Ngô. Viết rằng hai nước Việt Ngô thù nhau, dân Việt và dân Ngô oán hận nhau, muốn giết nhau là không đúng. Theo tôi, chuyện đúng là Vua Ngô muốn diệt Vua Việt để chiếm nước Việt, Vua Việt muốn diêt Vua Ngô để chiếm nước Ngô. Dân Việt, dân Ngô không ân oán gì nhau. Họ chỉ oán thù nhau sau khi Vua hai nước họ gây chiến tranh, tang tóc, làm cho họ phải chết thảm. Trong đời Việt Vương Câu Tiễn nước Việt bị nước Ngô đánh bại. Câu Tiễn phải đầu hàng. Ngô Vương Phù Sai bắt Câu Tiễn và vợ phải sang nước Ngô làm tù binh.

Việt Vương Câu Tiễn sẵn sàng chết, nhưng ông nghĩ ông tự tử là nước Việt sẽ tiêu vong, ông phải sống để phục quốc, để cứu dân tộc ông thoát cảnh làm nô lệ cho người. Ngày Vua và Hậu sang Ngô, quần thần tiễn Vua ở bến sông. Vua tôi cùng ràn rụa nước mắt.

Câu Tiễn ngửa mặt lên trời, than:

– Sự Chết ai là người không sợ, nhưng Ta đây không sợ Chết chút nào.

Nói xong, ra lệnh cho thuyền rời bến. Các quan khóc, sụp lậy. Câu Tiễn đi không nhìn lại.

Câu Tiễn không nói phần thứ hai của Lời Tạm Biệt Tổ Quốc và Nhân dân trên bến sông:

– Ta không sợ Chết nhưng ta phải Sống để cứu nước.

– – – – – – – – – – – –

Những ngày như lá, tháng như mây.. Sau cả năm, bẩy năm tù đày — tù giữ chuồng ngựa của Vua Ngô Phù Sai – Câu Tiễn trở về nước Việt, phục quốc, phá quân Ngô, giết Ngô Vương Phù Sai. Ai làm được như Việt Vuơng Câu Tiễn??

Nhiều người Việt thời tôi ca tụng Kinh Kha, cảm khái trước cảnh vua quan nước Yên đưa tiễn Kinh Kha sang Tần trên sông Dịch, mọi người bận đồ tang áo trắng, khăn sô, tất cả cùng khóc. Kinh Kha trên thuyền đi không nhìn lại. Ngàn năm nước Sông Dịch lạnh lùng trôi..

Tại sao người Việt thời tôi không ai ca tụng Câu Tiễn, không ai cảm khái trước lời than của Ông Vua Bại Trận Đầu Hàng:

“Sự Chết ai không sợ, Ta không sợ Chết chút nào..!”

Câu Tiễn anh hùng hơn Kinh Kha nhiều chứ. Kinh Kha không giết được Vua Tần, Câu Tiễn giết được Vua Ngô. Ông Vua Bại Trận Mất Nước nào trong Lịch Sử làm được như Việt Vương Câu Tiễn?

Trong Thế Kỷ 20 có nhiều người Việt kể, nhận tổ tiên mình trước ở nước Việt bên Tầu, nhưng không thấy ai nhận Câu Tiễn là một Ông Vua Ngày Xưa của dân tộc mình. Sao không nhận? Sao không đề cao? Việt Vuơng Câu Tiễn nếm phân rồi phục quốc. Đáng nhục là những thằng nếm phân rồi ngậm miệng, những thằng nếm phân kẻ thù rồi cứ gục mặt liếm phân, những thằng nếm phân kẻ thù mà hít hà “Thơm thởm thờm thơm..!”

Đại Tướng Tầu Hàn Tín khi còn nghèo hèn câu cá kiếm ăn còm ở chợ Hoài Âm, bị thằng du đãng Chợ đứng dzạng háng bắt phải luồn trôn. Không phải tự dưng mà tên du đãng bắt vị Đại Tướng tương lai phải lòn trôn nó. Nguyên do tại vì chàng thanh niên Hàn Tín đã nghèo, sức yếu nhưng lại đeo bên hông cây đoản kiếm. Tín mang kiếm để tỏ cái ý chí sẽ làm Tướng của chàng. Tên du đãng thấy ngứa mắt, bảo Tín:

– Mày có dám dùng kiếm đâm tao không? Nếu không dám thì luồn dưới háng tao mà đi.

Chàng thanh niên Hàn Tín không liều thí mạng với tên du đãng. Ông chịu lòn trôn nhưng rồi ông làm Đại Tướng. Mấy ai làm được như Câu Tiễn, như Hàn Tín??? Trong đời tôi, tôi chỉ thấy những tên nếm phân rồi gục mặt, những tên làm Tướng rồi lòn trôn.

Cảm khái cách gì!

– – – – – – – – – – – –

Việt Vương Câu Tiễn là người để lại cho đời thành ngữ “Nằm Gai, Nếm Mật.” Từ nước Ngô trở về nước, Vua đêm ngày không quên việc phục quốc. Sử Đông Chu Tầu ghi Vua nằm trên cái nệm gai nhọn, treo cái mật heo ở bên chỗ ngồi, thỉnh thoảng lại nếm vị đắng cuả mật. Vua làm vậy để không lúc nào quên nhục Mất Nước và Chí Phục Hận.

Đây là vài chuyện về Đời Tư của Việt Vương Câu tiễn ghi trong:

Đông Chu Liệt Quốc. Trích:

Câu Tiễn được lệnh gọi, vào thành, chờ gặp Phù Sai. Chầu chực ba ngày mà không được gặp. Bá Hi truyền lênh của Phù Sai, cho Câu Tiễn trở về Thạch Thất. Câu Tiễn hỏi tai sao có lệnh gọi mình vào triều, Bá Hi nói:

– Đại Vương nghe lời Ngũ Viên nên định gọi ông về triều để giết ông. May cho ông gặp lúc Đại Vương bị cảm hàn, không ngồi lên được, nên hoãn việc giết ông. Tôi có tâu với Đại Vương rằng “Muốn trừ hoạ phải làm phúc. Nay Vua Việt chầu chực ở cửa cung, chỉ chờ ngày bị giết, tấm lòng ta oán cảm động đến Trời. Đại Vương nên tha cho y về thạch thất, đến ngày Đại Vương bình phục, sẽ tính việc giết y hay tha y.” Đại Vương nghe lời tôi mà tha cho ông về nhà đá đấy.

Câu Tiễn trở về nhà đá, nơi Vua và Hậu, và Phạm Lãi ở, bên chuồng ngựa. Ba tháng nữa Phù Sai vẫn chưa khỏi bệnh, Câu Tiễn bảo Phạm Lãi bói một quẻ. Phạm Lãi gieo quẻ, nói:

– Phù Sai không chết, đến ngày Kỷ Tị thì bệnh giảm, ngày Nhâm Thân thì hết bệnh. Bây giờ Chuá Công cố xin vào thăm, khi được gặp Chuá Công cố tình nếm phân của y, nếm xong lậy mừng và nói ngày hết bệnh. Khi hết bệnh thật, Phù Sai sẽ cảm động mà tha cho Chúa Công về nước.

Câu Tiễn ưá nước mắt:

– Ta dẫu chẳng ra gì cũng là một ông vua, không lẽ chịu nhục mà nếm phân người ta.

– – – – – – – – – – – –

Phù Sai đang buồn bực, nghe tâu Câu Tiễn xin gặp mình mấy lần, thương tình, bèn cho vào. Câu Tiễn sụp lậy, tâu:

– Tù nhân tôi nghe nói long thể bất hoà, nên nát gan, héo ruột, chỉ mong được thấy Mặt Rồng..

Câu Tiễn nói chưa dứt lời thì Phù Sai buồn bụng, muốn đi tiêu, bèn xua tay ra lệnh cho Câu Tiễn đi ra, Câu Tiễn lại nói:

– Khi tiện thần ở Đông Hải có được vị y sư truyền cho cách xem phân mà biết được bệnh ra sao, ngày nào hết bệnh.

Câu Tiễn nói xong, chắp tay đứng bên cửa ngoài. Nội thị đưa cái thùng đến cạnh giường nằm, rồi vực Phù Sai ngồi vào thùng. Phù Sai đi tiêu xong, nội thị bưng thùng phân ra. Câu Tiễn mở nắp thùng, thò tay vào bốc phân rồi quì xuống mà nếm, nếm xong vào sụp lậy Phù Sai mà tâu:

– Tù nhân tôi xin chúc mừng Đại Vương. Bệnh Đại Vương đến ngày Kỷ Tị thì bớt, đến ngày Nhâm Thân thì khỏi hẳn.

– – – – – – – – – – – –

Câu Tiễn từ sau khi nếm phân, bị hôi miệng. Phạm Lãi biết có một thứ rau mọc ở quả núi phiá Bắc kinh đô, tên gọi là Rau Chấp. Rau ăn được nhưng có mùi hôi, bèn sai người đi hái Rau Chấp đem về, cho cả triều cùng ăn, để miệng ai cũng có mùi hôi. Về sau dân Việt Tầu Đông Chu gọi tên quả núi ấy là Chấp Sơn.

Câu Tiễn lo việc phục quốc và báo thù suốt ngày, suốt đêm. Đêm khi buồn ngủ thì thấy lá cỏ lục mà day vào mắt, chân lạnh muốn rụt lại thì dúng chân vào nước lạnh. Mùa đông thường ngồi gần đống băng, mùa hạ thường ngồi gần lò lửa. Xếp củi mà nằm lên trên, treo quả mật bên chỗ ngồi, thỉnh thoảng lại nếm mật đắng.

Câu Tiễn thấy nước Việt sau cơn suy bại, dân số xuống thấp, bèn ra lệnh con trai không được lấy vợ già, ông già không được lấy vợ trẻ. Con gái 17 tuổi chưa có chồng, con trai 20 tuổi không có vợ thì bắt tội cha mẹ. Đàn bà có thai được y sĩ đến tận nhà coi sóc sức khỏe, sinh con trai được thưởng bình rượu và con chó, sinh con gái được thưởng bình rượu và con lợn, ai sinh ba con được Nhà nước nuôi hộ hai, ai sinh hai con được quan nuôi cho một con.

Ngưng trích

CT Hà Đông bàn loạn:

Như dzậy Chương Trình Y Tế Bảo Vệ Nhân Dzân đã có từ 2.000 năm trước, ở nước Việt bên Tầu thời Đông Chu.

Năm 1952 khi vào sống ở Sài Gòn tôi mới biết Rau Dấp, đôi khi là Rau Dấp Cá — trong chuyện về đời tư Việt Vương Câu Tiễn thứ rau ấy có tên là Rau Chấp — tôi không ăn được Rau Dấp, lỡ có lá rau Dấp nào vào miệng, tôi phải nhả ra, năm xưa dzậy mà năm nay vẫn dzậy.

Người Việt Bắc Kỳ không ăn và không ăn được Rau Dấp. Nhưng tôi không biết ở Xứ Bắc Kỳ có thứ Rau Dấp đó không? Không phải vì người địa phang không ăn mà đồng đất xứ ấy không có thứ rau đó. Rau Chấp có từ 2.000 năm trước ở nước Việt bên Tầu, nếu rau qua nước Nam Việt thì rau phải đến Xứ Bắc Kỳ trước, người Bắc phải ăn Rau Dấp trước người Nam. Dzậy thì tại sao Rau Dấp không được người Việt miền Bắc ăn mà lại được người Việt miền Nam rất thích?

Viết thêm cho rõ: Tôi không biết Rau Dấp Cá ở nước tôi có phải là thứ Rau Chấp đời Việt Vương Câu Tiễn hay không. Tôi cho rằng chuyện ăn Rau Dấp hôi miệng là không đúng: ở Thế Kỷ 20 những nàng kiều nữ nước tôi ăn rau sống-rau thơm là thường có Rau Dấp, nhưng không chỉ miệng các nàng thơm mà toàn thân các nàng chỗ nào cũng thơm như múi mít!

Nhà Tù Lao Bảo, tôi nghe nói, ở tỉnh Sơn La xứ Bắc Kỳ. Sau năm 1945 Nhà Tù này bị bỏ hoang. Trước năm 1945 những ông Tù Yêu Nước Việt Nam nếu không bị Thực Dzân Pháp cho đi tù ở Côn Đảo xa tít mú ngoài biển Đông thì bị đưa lên trại tù Lao Bảo ở Sơn La, nơi đèo heo, gió hút. Đúng là đi tù xa nhà ngàn dzặm.

Ôi.. Sống, ơi ..Chết. Ôi Tù Tội, Lưu Đày.. Ôi Rau Dấp, Lá Mơ.. Ôi..Tù Tây, Tù Cộng..

Đến đây tạm chấm dzứt Chương Trình Văn Nghệ Ngục Tù của Ban Tùm Lum. !

Advertisements

10 Responses

  1. Tôi nghĩ hồi Pháp thuộc, trong các nhà tù chỉ có hai loại người : Những người phạm tội thực sự, như trộm ,cướp, giết người, và những người yêu nước, có chí cứu dân cứu nước, muốn chống lại bọn thực dân cướp nước. Thế nhưng khi việt cộng cướp được nước Việt, thì toàn dân đều đi tù. Nực cười nhất là chính bọn việt cộng cũng thường ” khoe ” thành tích đi tù của chúng nó, làm như đi tù là một cái gì đáng để bọn cộng chúng nó vênh vang. Tôi nhớ có một tên cộng, cỡ trung ương đảng ( tên nó là gì thì tôi không nhớ ), có nói một câu, đại ý như vầy: ” Trung ương Đảng ta chỉ có mấy chục đồng chí, mà thực dân Pháp cho đi tù, tổng cộng gần trăm năm !” Ra cái điều chúng nó phải đi tù tôi nhiều năm lắm. Hồi giặc cộng chưa chiếm được Saigon, nghe nói tù trăm năm thì cũng ghê thật. Nhưng khi giặc cướp được nước ta, thì nội trong đại gia đình tôi ( anh, chị, em, dâu, rể ) cũng được Booc Hù phát cho gần trăm năm tù !
    Sử gia Trần Gia Phụng có làm một con tính nhỏ, để biết thời gian dân ta bị cộng sản cầm tù sau khi mất nước. Ông Phụng tính phác như sau :
    1. Số người bị tù 3 tháng ( 1/4 năm ) là khoảng 500,000. người. Vậy khoảng thời gian bị tù là:
    1/4 năm x 500.000 ( người ) = 125.000 năm
    2. Số bị tù từ 2 đến 4 năm, tính trung bình là 3 năm
    3 năm x 200.000 ( người ) = 600.000 năm
    3. Số người bị tù it nhất 5 năm; chúng ta tính ra :
    5 năm x 240.000 ( người ) = 1.200.000 năm
    4. Số người b giữ đến năm 1983 ( sau 8 năm ) :
    8 năm x 60.000 ( người ) = 480.000 năm
    Tổng cộng số năm tù của cả 4 loại tù nói trên, ta có HAI TRIỆU BỐN TRĂM LẺ NĂM NGÀN NĂM ( 2,405,000. )
    [ Trích: Ải Nam Quan – Trần Gia Phụng- trang 126 – Nhà Xuất Bản Non Nước, Toronto )
    Cả nước đi tù như thế thì nghèo đến chết đói là đúng quá dzồi !

  2. Tin vui!!! Tin vui!!! Tin Vui!!!

    LINH MỤC NGUYỄN VĂN LÝ ĐƯỢC TRẢ TỰ DO!!!

    Chẳng tử tế gì, việt cộng chịu không thấu trước dư luận trong nước và thế giới, nhất là viễn ảnh bị bỏ lên CPC list lần nữa (danh sách các nước cần quan tâm) nên đã thả Linh mục Nguyễn văn Lý về Huế ngày hôm nay 3/15. Xin xem link dưới đây.

    http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vietnam-release-father-nguyen-van-ly-03152010083753.html

  3. Góp ý về nhà tù Lao Bảo. Công Tử Hà Đông viết:
    “Nhà Tù Lao Bảo, tôi nghe nói, ở tỉnh Sơn La xứ Bắc Kỳ”. Không đúng như vậy. Nhà Tù Lao Bảo ở tỉnh Quãng Trị.
    Trích từ trang web sau:
    http://thcs-laobao-huonghoa-quangtri.edu.vn/News/?ID=320
    “Nhà tù Lao Bảo hay còn gọi là Nhà đày Lao bảo nằm ở phía Tây Nam Đường 9, cạnh sông Sê Pôn, thuộc địa bàn thôn Duy Tân, thị trấn Lao Bảo; Cách thị trấn Khe Sanh – huyện ly huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị 22 km về hướng Tây. “

  4. Có bài viết này hay quá, bác nào chưa xem xin mời :

    http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=12256

    Hy vọng sẽ có hàng trăm ,hàng ngàn Lê Duy San khác nữa để bọn chồn lùi Cẩu Vô Liêm phải gục đầu nhục nhã. Xin cảm ơn LS Lê Duy San về ý chí chống cộng kiên định rõ ràng !

  5. Thưa Công Tử.

    Đọc bài Công Tử “cãm khái cách gì !”

    Tất cã các chế độ trên mặt đất đều có tính nhân bản trừ bọn cs.Tù nhân mà tuyệt thực là chết chắc vì chúng cho tuyệt uống luôn cho mau chết…. Đọc cái đoạn “Câu Tiển nếm phân,phục quốc… bọn việt tỵ nạn thân cộng về Vn nếm phân, ngữi đít vc về Mỹ khen thơm rối rít …”đã hết biết,cái bọn này không còn là con người nưã đâu Công Tử ơi ! nếu chúng còn biết nhục thì đã không ngữi đít… rồi khen rắm thơm….

    Người Nam VN ăn rau Dấp Cá thấy thơm ngon, dân Bắc di cư 54 đúng là hậu duệ của Câu Tiển, Phạm Lãi cho nên chê hôi…. Riêng Công Tử nhà ta thì chỉ thấy rau thơm một cách…”gián tiếp” phải nhờ mấy nàng kiều nữ Vn thế kỹ 20 ăn rau Dấp Cá cho thơm miệng, thơm thân mình để được Công Tử phán cho “thơm như múi mít”… Đọc đoạn này, thèm mấy múi mít thế kỹ 20 quá đại ca Công Tử ui !Cám ơn …ngài.

  6. Cùng bác Dũng Nguyễn , tui là dân Bắc kỳ di cư chính hiệu con nai vàng, vậy mờ hổng hiểu sao ,tui ăn dấp cá cứ thấy ngon thơm như các loại rau thơm khác đó bác. Chắc tại tui là Bắc kỳ….cục. Bà chủ (nhà) của tui Nam kỳ 100 phan ngàn mà lại không ăn được thế mới lọa đó bác. Bởi vậy chủ quan lấy ý ta mà bình chuyện người lắm khi sai sái cổ đó bác. Nhân tiện đây cũng sorry bác vì đã tưởng lầm bác là….vc ! Nên có làm 1 bài thơ Bút trè…tặng bác ,bác có lỡ đọc qua thì cười hì 1 tiếng cho qua luôn hé bác. Chúc bác và các bác phe ta luôn vui vẻ để…trong người luôn mạnh khỏe,va…mát mẻ . Thân.Bk54

    • Ồ tôi đây cũng vậy , BK di cư 54 mà ăn rau rấp cá và sầu riêng , thấy thỏm không thua rau kinh giới hay mít .Các con tôi Nam Kỳ rặt , bố Nam Kỳ đẻ ở Saigon mà không biết ăn 2 thứ này .

  7. Vô tình lạc vô trang mạng CAND của vc , thấy có bài này tên văn nô cs nâng bi liếm đít boóc hồ của chúng ghê quá nên xin phép CTHĐ và BT để copy lại mời các bác xem chơi :

    Sự khiêm tốn vĩ đại
    10:30, 22/01/2008

    Người thực tài, lại có văn hóa nữa bao giờ cũng khiêm tốn. Bậc chí nhân bao giờ cũng nhún nhường. Có thể lấy ví dụ dẫn chứng từ hai bức thư của hai người nổi tiếng.

    Bức thư thứ nhất là của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cụ Bùi Bằng Đoàn về việc thảo lời điếu cụ Nguyễn Văn Tố. Toàn văn bức thư như sau:

    Kính gửi cụ Bùi,

    Trưởng ban Thường trực Quốc hội
    Tôi muốn có một bài truy điệu cụ Tố. Nhưng nhờ người viết thì không biết nhờ ai. Tự viết lấy thì viết không được, vì xưa nay tôi chưa hề tập viết văn tế.
    Vậy tôi cứ bạo dạn thảo ra đây, trình cụ xem. Nếu có thể sửa được thì xin cụ sửa giùm. Nếu không thể sửa, thì ta làm văn xuôi vậy.
    Khi tôi thảo xong, đọc lại, nghe khá chướng tai. Vì đối với cụ, tôi không dám giấu dốt, nên cứ gửi để cụ xem.
    Mong kỳ hội đồng sau sẽ được gặp cụ. Kính chúc cụ mạnh khỏe và xin cụ chuyển lời tôi hỏi thăm cụ Phan và cụ Vi.
    Chào thân ái và quyết thắng
    Tháng 5 năm 1948
    Hồ Chí Minh
    (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5- NXB Chính trị Quốc gia-1995)

    Chỉ cần so sánh địa vị của Hồ Chí Minh với cụ Bùi Bằng Đoàn tại thời điểm viết bức thư, ta sẽ thấy đức khiêm tốn của Hồ Chí Minh quả là đáng để chúng ta học tập.

    Đáng trọng hơn nữa, đây là bức thư của tác giả “Nhật ký trong tù”. Lời lẽ trong bức thư nhún nhường, khiêm cung, mang tinh thần cầu thị. Đặc biệt là khả năng dám nhìn nhận, đánh giá đúng thực lực về một khía cạnh nào đó của mình.

    Hồ Chí Minh viết: “Tự viết lấy thì không viết được, vì xưa nay tôi chưa hề tập viết văn tế”. Đó là lời nói thẳng, nói thật, nói rõ ràng về hạn chế của mình mà không viện bất kỳ lý do nào để che giấu cái hạn chế ấy.

    Nhà thơ hiện nay có mấy ai đủ can đảm và bản lĩnh nhận xét về sản phẩm của mình như thế này: “Khi tôi thảo xong, đọc lại, nghe khá chướng tai”. Để hạ được câu tự nhận xét “nặng ký” ấy với một người địa vị, danh tiếng thấp hơn mình thì không chỉ phải là người thực sự cầu thị mà còn phải là người có tầm văn hóa, trên hết phải là người có bản lĩnh vững vàng, tin ở sự tiến bộ phía trước.

    Nhân gian tổng kết: “Văn mình vợ người”. Văn mình bao giờ cũng hay, cũng nhất. Thoát khỏi được sự cái tổng kết chết người ấy thật chẳng dễ nếu không có sự tỉnh táo, sáng suốt. Tiến thêm được một bước nữa, là phục người khác lại là điều khó khăn.

    Rõ ràng ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất kính phục cụ Bùi Bằng Đoàn. Đọc những câu chữ trên ta hiểu thêm rằng vì sao Hồ Chí Minh được gọi là danh nhân văn hóa thế giới.

    Bức thư thứ hai là của bậc chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu gửi cho nhà thơ Hàn Mặc Tử. Thư được viết năm 1932, sau khi Phan Bội Châu đọc được ba bài thơ của Hàn Mặc Tử đăng trên báo Thực Nghiệp:

    Kính thưa tác giả P.T tiên sinh,

    Tác giả cho tôi đọc ba bài thơ, tôi lấy làm hân hạnh cho “Mộng du thi xã” lắm. Xem trong thâm oán cao tình, thanh tân nhã điệu, tôi chỉ phàn nàn rằng, người oán quá cao, tất nhiên người họa phải ít, cho nên tôi chỉ tục điếu ba bài mà thôi, còn như nói rằng tôi nói thơ được với tác giả thì tôi không dám. Ôi! Hồn giao nghìn dặm, biết làm sao bắt tay nhau mà cười lớn một tiếng, mới là thỏa hồn thơ đó”.
    (Báo Tin Tức Sài Gòn số 9, ngày 24/2/1940)

    Phan Bội Châu sinh 1867, còn Hàn Mặc Tử sinh 1912, nghĩa là cụ Phan hơn Hàn Mặc Tử tới 47 tuổi, thế mà trong thư ta không thấy sự chênh lệch ấy, chỉ có thái độ lịch sự “kính thưa… tiên sinh… tôi lấy làm hân hạnh”, và một vẻ nhún nhường tràn đầy văn hóa “còn như nói rằng tôi nói thơ được với tác giả thì tôi không dám”.

    Nên nhớ Phan Bội Châu cũng là một bậc thi sĩ tài hoa, học cao hiểu rộng và thời điểm thư viết thì danh tiếng của ông trong xã hội nổi hơn Hàn Mặc Tử. Trước thái độ văn hóa và khiêm tốn ấy, quả thực chúng ta chỉ còn biết ngả mũ cúi chào.

    Xin mở ngoặc thêm chút nữa: Đối với bản thân thì cả hai đều khiêm tốn vậy, nhưng họ nhận xét về nhau thì lại không tiếc lời. Hồ Chí Minh đánh giá Phan Bội Châu là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng sả thân vì độc lập”.

    Trong khi đó Phan Bội Châu viết thư cho Hồ Chí Minh, lúc ấy còn gọi là Lý Thụy với tư cách vừa là người cùng chí hướng, vừa là bậc cha chú (vì cụ Phan là bạn của cụ Nguyễn Sinh Sắc) bày tỏ tinh thần tôn trọng hết mực: “…tôi cũng chẳng ngờ rằng rồi cháu lại giỏi đến thế này. Bây giờ tôi bì với cháu thì xấu hổ nhiều lắm… Cháu là người học rộng hiểu biết nhiều, hơn tôi không biết bao nhiêu…”.

    Qua thái độ từ hai bức thư trên ta còn thấy một điều nữa: uy quyền của văn chương, chữ nghĩa cũng thật là vòi vọi

    Nguyễn Bình Phương

    Anh văn nô này chỉ mới là bình phương chứ nếu anh là tam hay tứ thừa chắc anh nâng bi còn hung hơn nữa.
    Phần bàn loạn xin dành cho các bác. Còn Bk54 tui hết ý kiến , phi ní lô đia

  8. Cùng Bk54.

    Bà chủ nhà tui là Bk54 chính hiệu con nai vàng ngơ ngác của Công Tử Hà Đông và là dân Hố Nai chống việt cộng bẩm sinh không ăn được rau dấp cá, nếu trong món rau ghém có dấp cá là bà ngồi gắp ra cho bằng được…Bk54 ăn được dấp cá chả có gì lạ vì người miền Nam sống với Bắc Kỳ lâu ngày cũng đớp rau đay,rau muống và thịt chó như điên…Hơn nữa nếu có ở tù vc bị bỏ đói thì cái gì ăn được là ngon “hết xẩy”…

    Chuyện tôi bị mấy bác tặng nón cối, dép lốp bỏ qua đi nha (vì tui hỏng có nhận,mình “chả nợ gì nhau”)Tôi đọc văn mấy bác là tui biết “phe ta” rồi! Bắc Kỳ 54 thành viên của Vietland có phải là bác không ? Tui là TV Mike Nguyễn đây!Nếu phải thì nhận bà con nghe cha nội !…Tình thân.MN.

  9. Bác Tbui vậy là lucky quá xá. Tui như bác là cứ sầu riêng đông đá mua về chất trong tủ lạnh ăn dần…một mình mà hổng sợ bác trai nói bác tham ăn há.Tui thì hổng được…may như bác ,nhà tui rất là bình đẳng về…ăn uống. Món gì tui khoái là bà chủ nhà tui cũng khoái luôn, ngoại trừ rau dấp cá và cà pháo mắm tôm. Nhắc đến cà pháo mắm tôm khiến tôi nhớ đến bà cụ thân sinh ra tôi quá. Ngày chúng tôi còn bé ,bà cụ hay nấu canh rau đay ăn cùng cà pháo mắm tôm với tép rang mỡ. Chỉ thế thôi mà sao ngon lạ ngon lùng ,anh em tôi cứ thi nhau chan húp ,cắn cà rôm rốp, mồ hôi mồ kê nhễ nhại ,vậy mà sướng cách gì. Tuổi thơ hạnh phúc đã qua mất rồi các bác ơi.Nhiều khi muốn mình bé lại để được ăn những món dân dã do chính tay mẹ nấu như Canh dưa cải chua nấu thịt ba chỉ, cà bát nấu bung với thịt và đậu hủ chiên,cà chua(món này ăn tốn cơm lắm) vvv…hay chỉ đơn giản là đậu hủ chiên nóng dòn chấm mắm tôm chanh sủi bọt…nhưng mà làm sao được , tuy vậy vẫn cứ ước mơ. Cảm khái quá mấy bác.

    Các bác bắc kỳ chắc biết con mẽ(hay mẻ? ) để nấu mấy món canh chua của người bắc , cách làm ra sao. Ngày xưa mẹ tôi có làm , nhưng tôi còn bé quá chỉ biết ăn có để ý gì đâu. Lại nhớ ra một món nữa là nhộng non rang mỡ hành có bác nào biết hay không? Trong Nam tôi không thấy ai ăn ,có lẽ thịt cá ê hề nên 0 ai biết tới?

    Nhớ quá tuổi thơ ơi !!!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: