• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Quan Ta, Quan Tây

Nhà văn Vũ Trọng Phụng năm ông 20 tuổi và tác phẩm "Vẽ Nhọ, Bôi Hề"

Những năm từ 1930 đến 1939, ở Hà Nội, Nhà Văn Vũ Trọng Phụng có thái độ khinh bỉ và gần như công khai chửi rủa giới quan lại A Nam trong tiểu thuyết Giông Tố, tác phẩm tôi nghĩ là nổi tiếng nhất và giá trị nhất của ông. Dưới ngòi bút của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng, “bọn” tri phủ, tri huyện, tuần phủ, tổng đốc An Nam – hằm bà lằng síu oắt, tất cả – không có một anh nào ra hồn người, một lũ tệ lậu, ti tiện. Chuyện ly kỳ là cũng ông Nhà Văn A Nam Vũ Trọng Phụng chửi quan lại An Nam tận mạng ấy lại mô tả những anh Công Sứ Tây Bảo Hộ – những anh quan lại Phú Lang Sa ở Đông Dương – bằng những lời lẽ gần như ca tụng.

Trên những trang tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng những Công sứ Tây, y sĩ Tây trong Giông Tố, Vỡ Đê, Lục Sì đều có tư cách, học thức, lương tâm, thiện chí, lễ độ, đáng kính.

Đây là một đoạn viết về một viên Tri Huyện An Nam trong Giông Tố.

Tóm tắt: Gái Quê Thị Mịch bị Trọc Phú Nghị Hách hiếp dâm trên xe ô tô, đám hương lý làng Quỳnh Thôn, làng quê của Thị Mịch, muốn gia đình Thị Mịch lên huyện nộp đơn kiện Nghị Hách. Trong lúc họ bàn bạc xem họ có nên kiện không, và kiện thì có thể sẽ thắng hay sẽ không ăn thua gì, có người nói về “tư cách và thành tích” ông Tri Huyện của huyện họ. Mời quí vị đọc:

GIÔNG TỐ. Trích:

Lúc ấy có một ông ra vẻ thạo đời, từ chỗ ngồi nghển cổ nói lên:

− Dám chắc thể nào cũng xử hòa là cùng.

Tức thì cái bè đảng ông Chánh Hội nhao nhao lên hỏi vặn cái người táo tợn ấy. Trước những câu hỏi vặn, người kia điềm nhiên cãi:

− Thì các cụ phải cho tôi nói mới được chứ! Ai cũng hỏi, cũng bắt trả lời một lúc thì tôi còn biết trả lời ai và không trả lời ai? Tôi cho rằng vụ kiện này chỉ đến hòa là cùng, là vì tôi đã được biết ông Huyện, từ khi tôi còn bán kẹo ở huyện Lô. Một phần vì lẽ cái làng này vừa rồi bị cái họa truyền đơn cờ đỏ nên lý dịch của làng đã là có lỗi to với Nhà Nước. Hai nữa là vì quan đến nhậm huyện Lô mới có sáu tháng mà trong huyện có đến tám, chín nhà giàu bị cướp vu cho là tòng đảng, rồi thì quan tậu ngay xe ô tô. Úi chà, quan ăn của cả con mẹ mò cua một con cá quả ấy. Một mớ rau diếp quan cũng không từ. Một hôm có một con mẹ nhà quê vào huyện nộp một cái phạt vi cảnh, lúc cởi ruột tượng đã để rơi xuống đất mất một hào… Thế mà nó lúi húi cúi xuống tìm thì quan quát mắng nó, sai lính đuổi cổ nó ra. Đến khi con mẹ ấy bị đuổi ra được mươi phút rồi, quan Huyện mới cúi xuống nhặt đồng hào ở dưới đế giầy của ngài, thì ra lúc đồng hào rơi thì lăn ngay gần chân quan nên quan dận ngay giầy lên che đi cho con mẹ ấy không trông thấy.*

Cả làng đương hãi hùng kinh ngạc lắng tai nghe cái chuyện không thể tưởng tượng được ấy thì bỗng có người thốt ra một câu: “Đ. mẹ kiếp!!!” Dư luận sôi nổi một hồi rồi một ông cụ quát phải im cả để cái người tò mò ấy kể nốt những câu chuyện có duyên của quan Huyện.

Người kia nói tiếp:

− Ngay trước cửa huyện Lô có một thằng chủ hàng cơm, thì quan lại là cánh hẩu của thằng cha ấy. Mỗi khi nó thấy một người nào có vẻ ngơ ngác như muốn vào huyện thì nó lập tức gọi vào hàng, nháy người ấy mấy cái mà bảo rằng nếu không có hai bao chè thì lính nó sẽ vụt cho mấy roi và đuổi cổ ra. Người kia cố nhiên phải bỏ đồng bạc ra lấy hai bao chè mang vào huyện. Sau lúc ấy thì thằng bếp nhà quan huyện đã lẻn ra cửa sau huyện đường, bưng một cái liễn trong có hai bao chè để trả anh chủ hàng cơm. Quan ông đã thế, quan bà cũng chả kém mấy tí. Cả cái chợ huyện Lô đã phải khổ sở vì quan bà. Thúng gạo đáng giá năm hào thì bà lớn chỉ trả có ba. Con gà đáng hai hào chỉ trả có một. Hôm quan đổi đi, mấy cái xe ô-tô chở đồ đi trước. Đến lúc chính xe quan ra thì có một số đông dân cứ ném đá theo xe và chửi rủa quan! Bây giờ về vùng này, nghĩa là cái dân cả vùng này đến ngày xấu số. Ta còn ngu gì mà tin cái ngọn đèn trời ấy. Vì thế mà tôi dám nói quyết rằng về vụ này may ra thì hoà, mà không khéo thì có khi cả làng cùng ông Đồ sẽ bị thua!

Câu nói ấy khiến cho ngần ấy người nhao nhao lên. Vì chưng dân quê có cái chứng nói chuyện mà như cãi nhau nên người ta tưởng đến vỡ mất phòng hội đồng làng.

Ngưng trích Giông Tố.

Trên đây là một đoạn trong truyện dài Giông Tố đăng trên tờ Hà Nội Báo khoảng năm 1935, 1936, đoạn truyện trên không có trong những bản in Giông Tố được xuất bản sau khi truyện đăng hết trên Hà Nội Báo. Giông Tố được tái bản nhiều lần. Những bản tái bản sau bị nhà xuất bản bỏ đi một số đoạn, có thể vì những nhà xuất bản thấy tác giả viết quá đáng nên tự bỏ đi.

Không cần phải là người sống trong thời Thực Dân Pháp lập chính phủ bảo hộ dân Đông Dương, ta cũng biết dân đen ở những thành phố Bắc Kỳ thời ấy – thời Nghị Hách hiếp dâm Thị Mịch trong tiểu thuyết Giông Tố – khoảng năm 1932, 1935 – khi bị phạt vi cảnh, tức bị phạt vì những tội vớ vẩn như đái bậy ngoài đường, xả rác ra đường, chạy xe đạp không đèn ban đêm, phải nộp phạt ở Sở Cẩm – theo tiếng Commisariat – tức ở Ty Phú-lít. Dân các làng quê phải nộp tiền phạt cho ông Lý Trưởng. Mụ đàn bà mò cua, bắt ốc là hạng người nghèo nhất làng, nghèo mạt rệp tức nghèo đến nỗi con rệp cũng không sống nhớ được, nếu bị phạt vi cảnh, không vào đến bàn giấy quan Huyện sở tại để nộp tiền phạt. Nhà Văn nổi tiếng viết chị đàn bà mò cua ở làng quê vào tận bàn giấy quan Tri huyện để nộp phạt là kỳ cục hết nước nói.

Những ông Tri Huyện, Tri Phủ An Nam những năm 1935 không ti tiện đến cái độ ăn chặn một hào – đồng 10 xu – của dân, không tệ đến độ đòi dân đen mỗi lần nộp đơn kiện cáo gì đó ở huyện, ở phủ là phải nộp theo 2 bao chè, tức bao trà. Dân nộp đơn cho đám nho lại ở huyện, đám nho lại này xét đơn trước, nho lại đưa đơn lên quan, dân không đưa đơn đến thẳng bàn giấy Tri Huyện.

Tuổi đời Bẩy Bó, sống những ngày cuối đời ở quê người, đọc lại những tiểu thuyết của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng từng làm tôi mê mẩn những năm tuổi đời tôi Một Bó Lẻ Vài Que, tôi ngạc nhiên, và tôi thắc mắc khi thấy Nhà Văn viết nhiều chuyện kỳ cục quá đỗi, những chuyện nhỏ thôi, như chuyện người đàn bà nghèo mạt làng quê vào bàn giấy ông Tri Huyện để nộp tiền phạt vi cảnh: vi phạm cảnh cáo.. Chuyện nhỏ nhưng nhiều chuyện nhỏ họp lại thành tác phẩm tiểu thuyết lớn. Ngu đến như tôi cũng không viết những chuyện sai, vô lý đến như thế,

Nhà Văn Vũ Trọng Phụng tả quan lại An Nam ti tiện, đáng khinh thật là tởm, nhưng ông tả bọn Quan Lại Tây Thuộc Địa thời ấy khác hẳn.

Đây là đoạn Nhà Văn Vũ Trọng Phụng viết về anh già Công sứ Pháp:

Giông Tố. Chương IV. Trích:

Người bồi chạy lên gác một lúc rồi xuống bảo với Nghị Hách:

“Cụ lớn cho phép, quan cứ lên.”

Khi Nghị Hách vào phòng thì quan công sứ đương ngồi làm việc ở bàn giấy, bên cạnh một cái lò sưởi đầy những củi và đỏ rực những lửa.

Quan là một người đã cao tuổi, ở thuộc địa đã trên ba mươi năm, đã được lòng dân không phải vì một chính sách giả dối, không phải vì những bài diễn văn kêu vang và rỗng tuyếch, không phải vì đã đem những giọt nước mắt cá sấu ra huyễn hoặc, lừa dối dân ngu nhưng chính bởi quan là một bậc hiền nhân quân tử ít có ở đời. Ngoài những giờ bận việc cai trị, quan thường đọc sách, viết văn. Vì rất giỏi chữ Hán, quan đã xuất bản được một quyển sách khảo cứu về cách dùng binh của Trần Hưng Đạo. Do những lẽ đó, quan công sứ nói tiếng A Nam cũng thạo và cũng dễ nghe.

Cái lòng nhân từ của quan thì hầu như thành một câu cách ngôn đã truyền tụng. Những người trí thức, cả những nhà viết báo rất hoài nghi, cũng phải nhận ngài là người hiếm có, sống ở thuộc địa đã hơn nửa đời người, mà vẫn giữ được những quan niệm về sự tự do cá nhân rất rộng rãi, vẫn biểu lộ được cái tình thần đáng trọng của hàng trí thức nước Pháp, chứ không nhiễm phải tính nết của phái thực dân cai trị bằng dùi khui.

Một buổi kia, có việc ra Nhà Giây Thép, quan cứ cuốc bộ mà lử khử đi như những người Tây thuờng. Qua một phố nọ, có một trường tư thục, một lũ trẻ em đùa nghịch đá bóng làm cho quả bóng trúng đánh bốp một cái vào ngực quan. Một vết bùn to tướng in ngay vào ve áo, chỗ có một cái cuống mề-đay Bắc Đẩu. Quan vào trường. Viên đốc học trường tư sợ tái mặt như mọi người phải lo sợ trong một trường hợp như thế. Nhưng mà quan công sứ cứ khoan thai cầm khăn mặt bông phủi áo, rưả tay vào chậu nước rồi ôn tồn bảo viên đốc:

“Ông phải bảo học trò của ông, ra cái bãi cỏ ở cạnh chợ mà đá bóng, chứ thể thao ở giữa phố như thế thì rồi có những tai nạn xe cộ xẩy ra.” Thế rồi quan lại đi, nét mặt vẫn hiền hậu, như không có việc gì xẩy ra cả.

Một lần khác, xe hơi của quan vừa ở thủ đô về, người tài xế đương lái vòng để vào sân Toà Sứ, thì có một mụ nhà quê tay cầm một lá đơn đến quì ngay trước xe. Mấy anh lính khố xanh toan giơ cao cái roi mây thì quan công sứ ra hiệu ngăn lại, hỏi:

“Đơn kêu của bà có rõ ràng không?”

Người đàn bà kêu lải nhải một hồi thì quan truyền:

“Thôi, cứ về, rồi quan sẽ xét xử.”

Nguyên do đó là một mụ đi mò cua, bắt ốc, bị làng bắt vạ vì chưa hết tang chồng mà đã có mang. Theo như trong đơn thì mụ đã bị một bọn bô lão trong làng, lôi những hủ tục ra để hành hạ mụ, chứ thật ra mụ đã hết tang từ vài tháng trước khi có mang. Ấy thế là quan viết thư trả lời cái mụ mò cua ấy rằng:

Thưa bà, bản chức đã xét đơn của bà rồi. Nếu bà còn có tang ông ấy thì theo Luật Gia Long, có chửa như vậy là có lỗi. Còn nếu bà đã đoạn tang rồi thì không ai được phép bắt vạ bà, nếu bà viện được đủ chứng cớ là đã hết tang thì cứ lên Tòa mà trình bày, bản chức sẽ trị tội những kẻ những lạm.”

Một bức thư của vị quan đầu tỉnh mà lại có cái luận điệu lễ phép với một mụ mò cua đến bực ấy, đã làm cho các quan Tổng đốc, Bố chánh, Tri phủ phải nhăn mặt lại. Rồi bọn bô lão trong làng sợ hãi đến hêt vía mà đền lại cái vạ. Hai chuyện này đủ là chứng cớ rằng quan Công sứ tỉnh có Nghị Hách làm dân biểu hồi ấy, là người dễ dàng biết bao nhiêu.

Đêm nay, ngồi làm việc, hai chân quan đi giày da đen, cổ quan quấn một cái khăn quàng dầy sụ, lông chiên tua tủa bịt đến cả cằm. Bộ râu bạc ba chòm và cái trán hói đến bóng lộn của quan khiến ngài có vẻ đường bệ oai nghiêm lắm.

Nghị Hách, mặc lòng đang bận bộ áo trào vào ngày đại tiệc, cũng chắp tay vái dài, lưng cúi thật khom, mà rằng:

“Bẩm lậy cụ lớn ạ.”

Quan Công sứ đặt bút xuống bàn, giơ tay đón:

“Chào ông Nghị. Ông đến thăm tôi hay có việc gì can hệ? Ông Nghị ngồi đây. Tôi đương viết một bài triết lý về Đông phương cho một tờ báo ở Ba-lê đây. Ông Nghị có rét không? Tôi bây giờ yếu lắm, không có sức chống rét nữa. Ông Nghị uống nước chè hay uống rượu mạnh nhé?”

“Bẩm vâng, con xin phép hầu cụ lớn một cốc. Cám ơn cụ lớn lắm.”

“À, thế ông Nghị có việc gì cần tôi giúp đấy chứ?”

“Bẩm cụ lớn, không ạ. Bẩm chúng con thấy cụ lớn cũng dễ dàng, lại hay tiếp người bản xứ, cho nên con sang thăm và hầu chuyện, và xem cụ lớn có điều gì chỉ bảo không, thế thôi ạ.”

Quan Công sứ bấm cái chuông điện. Người bồi ló vào:

“Đem cho tôi khay rượu Anis lên nhé. Bà lớn đi nghỉ chưa? Này bồi, hôm nay mày để con Toby cắn chết mất một con gà sống thiến, như thế là tôi không bằng lòng đâu. Nó là chó săn thì lúc nào cũng phải xích nó lại. Nếu mày cứ quên lời tôi bảo thì rồi tôi sẽ nói với bà lớn không thưởng cho mày nhiều tiền tiêu Tết nữa.”

Người bồi chịu qưở rồi lẳng lặng quay ra. Năm phút sau đem một cái khay có một chai, hai cốc, lặng lẽ để ở bàn. Chờ khi người bồi xuống rồi, Nghị Hách mới nói:

“Bẩn cụ lớn, thế cụ lớn bà độ này vẫn mạnh khoẻ chứ ạ?”

Quan Công sứ gật gù mà rằng:

“Ồ..ồ..! Vợ tôi yếu lắm, ông Nghị ạ. Vợ tôi cứ muốn đòi về nghỉ ở Nice. Có lẽ ít lâu nữa tôi phải để vợ tôi về nghỉ một mình, sáu tháng, rồi lại sang.”

“Bẩm cụ lớn, như vậy thì tốn kém nhiều tiền lắm.”

“Chính thế đấy, ông Nghị ạ. Bây giờ ai cũng nên tiết kiệm. Phủ Toàn Quyền đã có tờ thông tư cho các quan phải dè dặt chi tiêu theo chính sách tiết kiệm. Vì rằng cái nạn khủng hoảng kinh tế mỗi ngày một nặng thêm.”

“Bẩm do đó mà mới có những việc như ở Hà Tĩnh, Nghệ An vừa rồi, chắc cụ lớn có để ý.”

Quan Công sứ uống một hớp rượu rồi nói rằng:

“Phải, giữa lúc kinh tế này, cái nghề trị dân thật là khó khăn.”

“Bẩm như cụ lớn đã cai trị tỉnh nào thì quyết không bao giờ dân lại như thế. Cụ lớn thương dân lắm.”

“Dân họ cũng hiểu cho tôi đấy chứ?”

“Bẩm vâng. Lòng thương dân của cụ lớn thì không ai là không cảm phục. Nhưng mà còn những tay phiến loạn chúng xúi giục.”

“Vừa rồi, xen-đầm ở đây phải bắt bớ mấy vụ là vì có mấy tay ở nơi khác lại, trốn tránh ở đây mà thôi, chứ tôi tin rằng dưới quyền cai trị của tôi, không một ai làm loạn cả.”

“Bẩn cụ lớn, cái ấy thì đã đành. Nhưng mà có nhiều cái người ta không thể ngờ trước được.”

Quan Công sứ gật gù hồi lâu mà rằng:

“Chính phủ bảo hộ lo thế nào cho cho dân khỏi đói thì không sợ gì nữa.”

“Bẩm cụ lớn, chính thế đấy ạ. Nhưng bọn nghiệp chủ chúng con dạo này, thật lấy làm khổ vì cái phong trào cộng sản. Trong cái mỏ ở Quảng Yên của con, vưà rồi suýt nữa thì có nạn phu đình công. Mà ngay ở đồn điền của con trong tỉnh này thì nông dân, ít lâu nay, con thấy họ bắt đầu trở nên bướng bỉnh lắm.”

“Tôi vẫn biết thế. Nhưng cái đó không hề gì. Nếu ông Nghị cũng biết đãi nông dân và tá điền cho phải chăng, thì không bao giờ phải lo ngại gì nữa. Tôi quyết rằng dân dưới quyền tôi, họ không đói khổ thì không khi nào họ lại làm xằng.”

“Bẩm cụ lớn, vậy mà con thấy rằng phong trào ấy đã bắt đầu lan tới tỉnh ta.”

Quan Công sứ giật nẩy mình lên, trợn mắt hỏi:

“Đã lan tới tỉnh ta, ông bảo?”

“Bẩm cụ lớn, hình như thế.”

“Có cái gì là chứng cớ không?”

“Bẩm, toàn dân tỉnh này đã bắt đầu nói xấu và vu oan cho con. Bẩm cụ lớn, chắc là họ nhắm mắt nghe theo bọn phiến loạn chúng mớm nhời mà thôi. Họ vu cho con là giết người, là hiếp tróc đàn bà, con gái, là bóp hầu, bóp cổ bọn dân nghèo, thôi thì đủ những tội ác. Họ hết sức gieo cái mầm thù ghét người giầu có cho lan rộng trong đám công dân. Kể ngay bọn tá điền làm ruộng trong đồn điền của con thì chúng cũng bắt đầu đòi tăng lương, ấy là lương con phát cho chúng cũng đã cao lắm. Bẩm cụ lớn, con thấy rằng cái phong trào ấy sắp lan tới tỉnh ta. Vậy, con xin lấy tư cách một người dân biểu mà trình báo để cụ lớn tiện đường cai trị cho tỉnh yên ổn.”

“Ông Nghị đã làm phải lắm, ông Nghị nhận đây những lời khen của tôi nhé. Ông Nghị cứ yên tâm, chính phủ bảo hộ bao giờ cũng có trách nhiệm giữ cuộc trị an, bảo toàn tính mệnh và tài sản cho dân, trừng trị những kẻ phiến loạn.”

“Bẩm lậy cụ lớn, con ngồi cũng đã lâu, vậy xin phép cáo từ, để cụ lớn làm việc.”

“Phải, chào ông Nghị. Chúc ông Nghị ngủ ngon.”

Nghị Hách bước xuống thang còn nghe tiếng quan công sứ mắng người bồi:

“Sao mày không chất củi vào? Tôi còn làm việc khuya, mày lười như thế tôi không bằng lòng tí nào cả.”

Ngưng trích Giông Tố.

Công Tử Hà Đông bàn loạn: Theo tôi, những Công sứ Pháp ở 3 nước Đông Dương Việt – Miên – Lào được Pháp bảo hộ là những viên chức hành chính, họ thi hành chính sách của chính phủ Pháp. Toàn Quyền Pháp ở Đông Dương có thể một năm đọc hai, ba diễn văn, công bố chính sách của Nhà Nước nhưng những anh Công sứ thì không có diễn văn, diễn vẹo chi cả.

* Quan là một người đã cao tuổi, ở thuộc địa đã trên ba mươi năm, đã được lòng dân không phải vì một chính sách giả dối, không phải vì những bài diễn văn kêu vang và rỗng tuyếch, không phải vì đã đem những giọt nước mắt cá sấu ra huyễn hoặc, lừa dối dân ngu nhưng chính bởi quan là một bậc hiền nhân quân tử ít có ở đời.*

Bốc thơm một anh Công sứ Pháp ở Xứ Bắc Kỳ những năm 1930 bằng những lời như thế là sai, sai 500/100, không phải chỉ là bốc quá đáng.

Nhà Văn Vũ Trọng Phụng viết bốc thơm bọn Quan Tây trong gần như tất cả những tiểu thuyết của ông, tôi lấy làm lạ về chuyện đã 80 năm qua từ ngày tiểu thuyết Giông Tố của Vũ Trọng Phụng có mặt ở đời, không có nhà phê bình, phê lọ, phê chum, phê vại nào thấy và chỉ ra cái tật bốc thơm Quan Tây kỳ quái ấy.

Những trường tư ở xứ Bắc Kỳ, từ năm 1920 đến năm 1945 – năm chính quyền Bảo Hộ Pháp ở Đông Dương bị người Nhật lật đổ – không có “Đốc học”, chỉ có Hiệu trưởng.

Bảo bọn học trò nhỏ mang trái bóng ra bãi cỏ bên chợ mà đá là súi dại chúng nó, là không biết gì về những cái gọi là bãi cỏ cạnh chợ, những bãi cỏ này đầy mảnh chai bể, mảnh sành, phân chó, trẻ nhỏ chân đất đá bóng ở những bãi này chỉ có mà bỏ mẹ.

Tôi không thể hiểu đuợc tại sao Nhà Văn Vũ Trọng Phụng lại có thể viết chuyện chị đàn bà làng quê An Nam đến cổng Dinh Công Sứ Pháp quì dâng thư xin Quan can thiệp. Chị đàn bà mò cua, bắt ốc là hạng dân nghèo mạt rệp ở làng quê Bắc Kỳ xưa. Đám kỳ mục kỳ nát trong làng dù có đói rượu thịt hay ti tiện đến mấy cũng không “bắt vạ” chị mò cua bắt ốc trong làng vì tội chị này có thai trước khi đoạn tang chồng. Tục lệ “bắt vạ” người trong làng phạm tội, thường là “tội chửa hoang.” tiếng là để giữ dìn phong hoá, luân lý nhưng thực ra là bắt người phạm tội phải chi rượu thịt để đám kỳ mục ăn nhậu. Nhà giầu có con gái chửa hoang bị “làng” vào nhà bắt heo, có khi bắt cả bò, phạt tiền. Heo để mổ thịt, tiền để mua rượu cho các cụ trong dân nhậu nhẹt. Người đàn ông can tội làm cho cô gái chửa hoang cũng bị làng bắt vạ nhưng không bị phạt nặng như cô gái.

Trò “bắt vạ” là trò vặt trong lũy tre xanh, nơi có ao tù, nước đọng, con gái toét mắt, đàn bà lông quặm ở mắt. Nếu can phạm, hay nạn nhân có vì oan ức mà kêu xin quan quyền can thiệp, việc kêu oan chỉ cao lắm là đến huyện, đến phủ là được giải quyết, hoặc cho “chìm suồng”, không bao giờ đến Dinh Tổng Đốc – Tỉnh Truởng những năm 1950-1975 – việc dân An Nam làng quê kêu oan lại càng không bao giờ lên đến Quan Công Sứ Pháp. Đó là chưa nói đến chuyện Đơn kêu oan viết bằng thứ chữ gì? Ai viết đơn cho chị mò cua? Cổng Dinh Tổng Đốc, cổng Dinh Công Sứ Pháp, không phải là chỗ bọn dân ngu cu đen có thể đứng chờ Quan ra tiếp, hay chờ Quan về dinh, dân đen không thể đứng đó cả giờ đồng hồ. Chị đàn bà váy đụp, đi chân đất mà đứng ở cổng Dinh Quan Tổng Đốc thôi, đừng nói gì đến đứng trước cổng Dinh Quan Công Sứ Pháp, lính canh nó quất roi mây cho chị quắn đít, nó cho chị đi chỗ khác liền một khi.

Tác giả Giông Tố viết những chuyện vô lý như thế tôi đã lấy làm lạ, tôi càng lạ hơn khi tôi thấy trong bao nhiêu năm, không một nhà phê bình nào chỉ ra sự vô lý của những chuyện ấy.

* Ngoài những giờ bận việc cai trị, quan thường đọc sách, viết văn. Vì rất giỏi chữ Hán, quan đã xuất bản được một quyển sách khảo cứu về cách dùng binh của Trần Hưng Đạo. Do những lẽ đó, quan công sứ nói tiếng A Nam cũng thạo và cũng dễ nghe.*

Nghị Hách, tất nhiên, không nói được tiếng Tây. Y chỉ có thể nói được tiếng Tây Bồi, tiếng Tây Bồi của Nghị Hách không thể nói chuyện chính chị, chính em, đình công, đòi tăng tiền công với Công Sứ Pháp. Tác giả cho lão Công Sứ Pháp biết chữ Hán, viết khảo luận về Binh Thư Yếu Lược của Trần Hưng Đạo Vương, nói được tiếng An Nam, nên lão nói chuyện tiếng Việt vanh vách được với chị mò cua, ba hoa chít chòe được với Nghị Hách. Khi nói tiếng Việt với Nghị Hách tác giả cho lão Công sứ nói tiếng Việt quá giỏi, khi cho lão Công sứ nói với anh bồi, tác giả cố ý cho lão dùng không đúng những tiếng “Mày tao, anh tôi.” Lão Công sứ có thể gọi anh bồi là “mày”, nhưng khi dùng “mày” thì lão biết lão có thể xưng “tao”. Nếu lão xưng “tôi”, lão phải biết lão phải gọi anh bồi là “anh.”

Không có ông chủ nào “mắng” anh bồi của mình trước mặt khách như tác giả Giông Tố tả. Kể cả những ông chủ ngươi An Nam thiếu lễ độ nhất. Chủ nhà “mắng” người làm công – đày tớ – của mình trước mặt khách thường là để “mắng” khách một cách gián tiếp. Lão Công sứ tiếp Nghị Hách lúc 8, 9 giờ tối tại tư dinh đã là chuyện không có – Công sứ thường tiếp khách ở công sở – tiếp ở phòng làm việc chứ không ở tư dinh. Và có Nghị Hách ngồi đấy, lão xoen xoét mắng anh bồi của lão:

Này bồi, hôm nay mày để con Toby cắn chết mất một con gà sống thiến, như thế là tôi không bằng lòng đâu. Nó là chó săn thì lúc nào cũng phải xích nó lại. Nếu mày cứ quên lời tôi bảo thì rồi tôi sẽ nói với bà lớn không thưởng cho mày nhiều tiền tiêu Tết nữa.”

Công sứ Tây gọi bồi là “ mày”, xưng “tôi”, mà biết nói “gà sống thiến!” Quá cỡ thợ mộc. Fi-ní lô đia.

Quan Công sứ gật gù mà rằng..
Quan Công sứ gật gù hồi lâu..

Nếu Quan Công sứ Giông Tố không bị bệnh Parkinson thì Quan “gật gù” hơi nhiều.

Ở trong nhà dù trời lạnh mấy cũng không ai quấn khăn foulard ở cổ.

“Chính thế đấy, ông Nghị ạ. Bây giờ ai cũng nên tiết kiệm. Phủ Toàn Quyền đã có tờ thông tư cho các quan phải dè dặt chi tiêu theo chính sách tiết kiệm. Vì rằng cái nạn khủng hoảng kinh tế mỗi ngày một nặng thêm.”

Một trong những nguyên nhân gây ra nạn khủng hoảng kinh tế là sản phẩm, hàng hoá không có người mua, sản xuất, kinh doanh ngừng trệ, tiền và sản phẩm không lưu chuyển, người thợ không có việc làm, người dân không có tiền mua. Cứu vãn kinh tế bằng cách hô hào dân chúng tiết kiệm, không chi, không mua, là biện pháp chắc chắn nhất đưa kinh tế từ ngáp ngáp đến chết thẳng cẳng.

Tôi sẽ viết thêm về Nhà Văn Vũ Trọng Phụng và tiểu thuyết Giông Tố.

.

________________________________________________

* Ruột tượng: y phục phụ nữ Bắc Kỳ miền quê xưa thường có cái bao lưng, hay dây thắt lưng, trong lòng bao lưng ấy có thể để được cái túi nhỏ bằng vải, đựng tiền, bao lưng vì thế có chỗ phồng lên như ruột con voi, nên gọi là “ ruột tượng”. Tiếng xưa, bị mất trong ngôn ngữ Bắc Kỳ từ năm 1950. Nay – 2000 – nhiều người Việt không biết “ruột tượng” là cái gì.

Advertisements

10 Responses

  1. Phê bình nhà văn lớn Vũ Trọng Phụng của chúng ta được như cụ Công Tử Hà Đông thì quả là bậc thượng thừa. Hậu sinh đọc chuyện thời Pháp thuộc thì ù ù, cạc cạc, tin như sấm vì có biết thời ấy mần răng đâu mà lần. Nhưng cái vụ ông Vũ “ca” các quan Tây lên tới chín tầng mây thì thật là khó hiểu. Dân ta ai mà chả “căm ghết” Tây thực dân, thế mà đọc Vũ Trọng Phụng mô tả họ như là bọn dân chi phụ mẫu ngay thẳng “liêm chính, chí công” thì lại “hồ hởi” mà “cho qua”, gần 80 năm mà các bậc thức giả, ngủ giả đều quáng gà hết. Riêng mình cũng đọc, cũng học Vũ Trọng Phụng mà cũng….! Thật xấu hổ. Nên càng đọc càng phục CTHĐ tiên sinh: người đầu tiên trong văn học sử soi được những hạt sạn rõ như ban ngày mà không ai thấy trong văn của Vũ Trọng Phụng!

  2. Hoàn toàn đồng ý với độc giả $Hill. Độc giả tầm thương như tôi , khi đọc truyện, thường dễ bị lôi cuốn xem câu chuyện tiến triển và kết thúc ra sao; cho nên có mắt như mù, không hề nhìn thấy những cái vô lý tầy quầy, những ngớ ngẩn chình ình. Được cái an ủi là có vô số người như mình !

  3. Xin được copy ý của hai bác $Hiln và Giang Anh để post lên làm ý kiến của mình. Hà hà, chúng ta người trần mắt thịt thì chỉ tới đó mà thôi các bác.

  4. Mời các bác đọc bài này , rồi phát bịnh luôn :

    http://baotoquoc.com/2010/03/23/nghi-v%E1%BB%81-hi%E1%BB%87n-t%C6%B0%E1%BB%A3ng-le-th%E1%BB%8B-cong-nhan/#comment-11012

    Ngọn lửa đã tắt chỉ còn lại chút tàn le lói? Phải vậy chăng? Ôi buồn 5 phút!!!!!

  5. Riêng tôi, từ khi đọc Giông tố là không còn muốn đọc bất cứ truyện nào của Vũ Trọng Phụng nữa.

    Đọc nó mà tức còn hơn bị bồ nhí đá nữa. Hơn nữa, mình lại là thằng dốt văn chương chữ nghĩa, nên chỉ biết tức chứ không biết chê như Công tử.

    Đọc bài này xong, mà lòng mình thấy sảng khoái lạ thường. Trước kia, hai ông bạn tôi là Khùng và Đồ Ngu thường chén thù chén tạc về họ Vũ. Nhân đó chửi việt cộng loạn cào cào cả lên rằng : Vũ Trọng Phụng mà được vào hàng sách giáo khoa để dạy cho con nít sao ? v.v..

    Xưa mình đã khoái, nhưng nay khoái còn gấp mấy.

    Cám ơn Công tử rất nhiều. Công tử đã ra tay vén làn mây mờ cho đời đỡ thong manh.

  6. Kính thưa đại sư ca Công Tử Hà Đông!

    Đọc phản hồi của các bạn tui cũng đồng tình,đồng cãm 100/100…Bởi vì tụi “em” là người phàm (phu),mắt thịt cho nên đọc bài này của Công Tử chúng em được “sáng mắt,sáng nòng”…

    Năm ngoái Công Tử có viết bài kể chuyện tên “đại tớ” Vũ Lăng Vũ trọng Khanh từ “bên hông Hà Nội” phóng qua Mỹ nhận vu vơ là con rơi con rớt của Vũ trọng Phụng…Lú đó tui hơi bị …bất bình vì tưởng VTP là người “soang” và tên cóc cắn Vũ Loang thấy người “soang” bắt quoàng làm họ…

    Nay đọc bài “Quan ta,quan tây” của Công Tử tui hơi bị “hoang mang”…hỏng chừng thằng cóc cắn là con ông cắn cóc thiệt đó Công Tử ui !…Vì chỉ có những ông cha cắn cóc mới đẻ ra mấy thằng cóc cắn…Gõ xong,đoạn này tui lại càng “cần phiêu xịt” hỏng biết nhà văn nhớn VTP cắn cóc hay bị cóc cắn….

    Cùng Bk54 qua những bài bạn trích từ Vietland.net và báo Tổ Quốc tui nghi bạn là nick Bac Ky 54 thành viên của VL…nghe rõ hong ? Trả lời !MN.

  7. Bác DN hỏi thì tôi xin trả lời bác rõ. Bác Bắc Kỳ 54(viết rời và có huê đình huỳnh)và tui Backy54(viết dính xà nẹo và không có dấu) là hai “em” hoàn toàn khác nhau . Mổi em một vẻ mười phân vẹn mười. Chả là tôi vô tình vào Vietland chơi ,đâu biết là đã có một bác tên Bắc Kỳ 54 nên lỡ dại có ý kiến ý cò với ngài nuật sư vô liêm sỉ ,ký tên Backy54.Thế là lập tức có bài đính chánh của Bắc Kỳ 54 để bàn dân thiên hạ đừng tưởng lầm hai người là một,làm tui đọc mà mắc cười quá xá. Lầm thế nào được mà lầm ,tôi Backy54 nói ra mắc cỡ ,văn thì ngắt nga ngắt ngứ như gà phải tóc có đâu được hùng dũng sang sãng như tiếng chuông kêu của bác Bắc Kỳ 54. Như ngọn đèn dầu so với vầng thái dương vậy.Tuy nhiên, Để tỏ lòng khâm phục ,Backy54 vẫn cảm ơn bài viết của bác âý đàng hoàng, vui vẻ cả. Vài hàng để bác rõ ,kẽo về sau mang tiếng thấy sang bắt quàng làm họ thì quê lắm. Sau cùng xin hỏi nhỏ bác ,hổng phải là Bắc Kỳ 54 thì bác có nhận bà con không? Thân ,Bk54

  8. Chữ “MN” ở cuối bài post của bác là gì vậy??? Có thể cho biết không??

  9. Hỏi nhỏ,trả lời …bự.
    Tui là dân miền tây gốc “con cá gô,bỏ trong gổ,nhảy gồ gồ”,sinh ra cái thời Bắckỳ vào Nam xẽ kinh trồng lúa nên những địa danh Kinh A,B…Kinh 8.Kinh9 với những người đàn bà đội khăn “mõ quạ” và nhuộm răng đen “thùi lùi” gần 60 năm vẫn còn lãng vãng trong đầu.
    Hồi còn nhi đồng,khi đi học gặp đứa “Béc kỳ ăn cá gô cây” nào là theo đuôi bọn “thứ 3 học trò” theo chọc ghẹo tới nơi,tới chốn…Gần đến tuổi tri thiên mệnh thì “đời bổng dưng vui” vì vớ được một em “bắc kỳ nho nhỏ” về làm “áp trại phu nhân”,từ đó tui phải đi cày 2,3 jobs và bị em “Bắc kỳ nho nhỏ”…đì gần chết để trả thù dân tộc,vì tui “lỡ dại” kể cho em nghe thời “khi xưa ta bé…bang,bang”… và cũng từ đó tui mới hiểu tại sao bà con Tỵ Nạn vc mình có câu “nhất Bắc Kỳ,nhì Mỹ đen”…Và “để rồi từ đó,ta yêu em không ngại ngần,để rồi từ đó sao bước chân như gần hơn…(nhạc Diệu Hương)” và tui yêu hết thảy những gì “dính dấp và liên quan” đến Bắc Kỳ 54 và (lại và nữa) câu trả lời “có nhận bà con hong?” của Backy 54 là “còn chưa mau mà say yes,yes,yes….”
    Trên cõi đời ô trọc…lóc này có 2 người làm cho tui…iêu Bắc Kỳ 54 đó là “em nho nhỏ” của tui và đại sư ca Công Tử Hà Đông,viết ở rừng Phong,bên hông Hà Nội…Ai đọc văn Công Tử là PHẢI khoái ổng,mà hể “phái” ổng là PHẢI “phái” luôn những gì thuộc về ổng như Bắc VN (phản nghĩa với bắc vc) Bắc 54,sư tử Hà Đông,thuyền trường 1 tàu ,anh em cùng vợ v..v..
    Còn chưa mau mà nấu nồi chè nhận bà con…hỡi Bắc Kỳ yêu…quấu.

  10. Gõ xong mới thấy còn chưa trả lời “bà con bên vợ” Backy54 …chử MN là cái “nick” tui xài bên Vietland,nếu bác là Bắc Kỳ “kia” sẽ nhận ra ngay…không nhận ra là đúng 5 chăm phần chăm là 2 Bắc kỳ này không phải là anh em cùng…..vợ…hà hà.Have a beautiful Sunday….Thân.DN.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: