• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Như Chuyện Thần Tiên

 

Tôi phóng tác Như Chuyện Thần Tiên đăng trên Nhật Báo Sóng Thần năm 1972. Năm ấy Kim Dung đã viết xong truyện Lộc Ðỉnh Ký và ngừng viết. Nhật báo Sài Gòn mất nguồn câu khách tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung. Một trong số những người đọc Như Chuyện Thần Tiên là Tú Kếu Trần Ðức Uyển. Gặp tôi, anh nói:

— Hết truyện Kim Dung rồi. Nay đọc Như Chuyện Thần Tiên của mày vậy.

Một bạn đọc trẻ hơn tôi khoảng 10 tuổi, những năm 1972, 1973, anh khoảng 30 tuổi, nói với tôi:

— Tình tiết trong đoạn Diễm Lan bị chìm xuống biển, Hoàng Chương một mình trở lên du thuyền, vào cabin, ngửi thấy toàn mùi Diễm Lan. Rất đúng. Năm vợ em nó giận em, nó bỏ em, em lên Pleiku tìm nó. Em vào phòng nó. Lúc đó không có nó trong phòng, em ngửi thấy toàn mùi nó.

Tôi phóng tác Như Chuyện Thần Tiên, tác giả Mỹ Charles Williams, nhưng theo bản dịch tiếng Pháp. Tôi quên tên tiếng Pháp của truyện. Khi truyện được xuất bản, tôi biết tên truyện tiếng Mỹ nên tôi để “Nguyên bản Scorpion Reef.” Thiếu chữ “The.” Truyện in từng ngày trên nhật báo, năm ấy Sài Gòn chưa có computer, nhà xuất bản phải cho sắp chữ lại nên truyện có nhiều lỗi. Mới đây tôi ngạc nhiên khi đọc thấy trong Như Chuyện Thần Tiên có chuyện “Khổng Minh sang Ðông Ngô đấu lý với Lữ Bố.”

Tôi mở quyển Như Chuyện Thần Tiên, bản in Tháng 9 năm 1973 tôi hiện có ra xem: trang 210 có đoạn nhân vật ác tên là Khôi nói về Khổng Minh:

Như Chuyện Thần Tiên. Trích:

Như Gia Cát Khổng Minh, sư phụ tôi, khi sang Ðông Ngô dụ cho Ðông Ngô đánh Tào Tháo, là một nhà biện sĩ chứ không còn là mưu sĩ. Nếu không chịu nổi những lời chất cây gẫy cành, làm sao sư phụ tôi thuyết phục được Tôn Quyền, đánh đổ được lập luận chủ bại của bọn Lử Bố.”

Trong mấy dòng trên có hai lỗi “Chết cây gẫy cành,” thành ra “Chất cây gẫy cành,” và Tử Bố – Trương Chiêu – thành “Lử Bố.” Không “Lữ Bố” mà là “Lử Bố.”

Bốn mươi năm xưa có quá nhiều những lỗi như thế trong các tiểu thuyết phóng tác của tôi. Tôi xin quí vị độc giả tha lỗi.

Như Chuyện Thần Tiên là một trong hai tiểu thuyết tôi phóng tác có nhiều người đọc. Trước Như Chuyện Thần Tiên là truyện Kiều Giang, nguyên bản Jane Eyre của Nữ sĩ Charlotte Bronte.

Tôi cám ơn bạn Phương Lê, và bạn Bắc Thần, đã đưa Như Chuyện Thần Tiên lên màn hình này.

Ðọc lại truyện mình viết 40 năm xưa.. Cảm khái cách gì.

HOÀNG HẢI THỦY

Rừng Phong. Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích.
Ngày 28 Tháng Tư 2010.

Như Chuyện Thần Tiên

Nguyên tác: The Scorpion Reef

o O o

Quang cảnh hiện ra trước mắt những người thủy thủ từ chiếc xuồng máy lên du thuyền tuy không có gì lạ lùng nhưng vẫn làm họ rùng mình, sợ hãi. Không khí và cảnh vật trong chiếc du thuyền đang trôi bềnh bồng trên mặt biển xanh này có bao trùm một vẻ gì quái đản, rùng rợn. Ông Phó Trưởng tàu và hai người thủy thủ sững sờ nhìn nhau. Họ như không cả tin tưởng ở mắt nhìn của họ.

Du thuyền không có người. Không có lấy một người. Cảnh trong lòng thuyền vẫn bình yên, không có qua một dấu vết nào của sự xáo trộn náo động đã qua. Cũng không thấy có dấu vết gì trong du thuyền chứng tỏ ở đây trong những ngày qua đã có một chứng bệnh kinh khủng làm chết hết những người sống trên du thuyền. Không có người sống mà cũng không thấy có xác chết trong du thuyền.

Và mặt biển thật lặng. Từ nhiều ngày nay, biển vẫn lặng, vẫn đẹp như hôm nay. Những mảnh buồm trắng của chiếc du thuyền quí phái ôm gió chiều đưa thuyền lướt ôm trên mặt nước xanh, bánh lái của du thuyền được gài hướng theo mũi thuyền đi về hướng Nam về quần đảo Phi Luật Tân. Tuy trên du thuyền lúc này không thấy có qua một người nào mà mọi vật trên du thuyền vẫn trật tự, sạch sẽ gần như hòan toàn. Du thuyền được bỏ hoang giống hệt như trường hợp chiếc tàu tên là Marie Céleste từ bao lâu nay vẫn được gọi là “con tàu ma” và làm cho những người liên can đến hàng hải thắc mắc. Tàu Marie-Céleste được tìm thấy trôi dạt trên mặt biển mà trên tàu không có qua một người nào.

Sau phút ngạc nhiên, ông Phó Trưởng Tàu ra hiệu cho hai thuỷ thủ theo ông đi tìm trong du thuyền. Lòng du thuyền thật xinh thật ra cũng chẳng có nhiều chỗ để những người lên tàu phải tìm kiếm lâu la. Họ chỉ cần nhìn qua là biết ngay trên thuyền không có người ẩn nấp. Phòng máy của du thuyền sạch và ngăn nắp, gọn gàng như trước đó vài tiếng đồng hồ có tay người dọn dẹp. Phòng ngủ của du thuyền ở dưới cũng sạch như li như lai. Hai giường ngủ được trải nệm trắng đàng hoàng. Tủ lạnh đựng lương thực của thuyền còn đầy ních thực phẩm. Bồn nước ngọt của thuyền cũng vậy. Những người bí mật nào đó từng sống trên du thuyền này mới chỉ dùng hết hai phần mười số lương thực và nước ngọt dự trữ của họ. Trong tủ áo, những người lên du thuyền tìm thấy vài chiếc quần jeans, vài cái áo mưa để sẵn để dùng tới trong những ngày biển động và trời mưa. Trên một tay ghế có vắt một chiếc soutien-gorge, loại áo tắm biển gọi là bikini của đàn bà. Trong bầu không khí đặc biệt của chiếc du thuyền bằng gỗ có máy và có cả buồm gồm mùi verninồng nồng và mùi nước biển, mùi ét-xăng, những kẻ lên thuyền còn ngửi thấy phảng phất một thứ mùi quyến rũ, dị kỳ nữa. Đó là mùi của đàn bà, làm bằng mùi da thịt, mùi tóc đàn bà trẻ, nồng nhựa sống và nước hoa.

Bàn ăn của chiếc du thuyền không người này không bày sẵn những dĩa thức ăn như trên chiếc Marie-Céleste khi được người khác tìm thấy, nhưng cũng thấy có hai ly cà phê bằng nhựa. Một ly còn gần đầy cà phê.

Ông Phó Thuyền Trưởng Tàu, một thủy thủ già gần nửa đời trôi dạt trên các đại dương tuy từng chứng kiến nhiều tai nạn kỳ lạ trên biển, nhưng cũng chưa từng bao giờ tưởng tượng có ngày mình lại gặp một chiếc du thuyền lênh đênh giữa biển mà không có người lái. Tất phải có người đưa chiếc du thuyền này từ một hải cảng nào đó tới đây chứ ? Du thuyền, cũng như tàu buôn, không thể một mình tự đi ra khơi. Chỉ có điều cần tìm, cần biết là những người trên thuyền này đã… ra sao, còn sống hay đã chết mà thôi. Cũng có thể là có một chiếc tàu nào khác đã tới bắt hết những người trên du thuyền này đi. Ông Phó thuyền trưởng tàu bước tới dàn bếp gaz mới tinh ở cuối phòng. Trên bếp còn đặt siêu nước pha cà phê. Ông đặt tay lên siêu nước và thấy còn nóng. Điều đó cho ông biết chắc chưa đầy một tiếng đồng hồ trước đây thuyền này còn có người.

Rời dàn bếp ông đi qua chiếc bàn nhỏ, nơi còn trải mấy tấm bản đồ và có một quyển sách dày bià cứng. Nghĩ rằng đây là quyển Nhật Trình của du thuyền, ông mở ra đọc vài trang đầu rồi lật nhanh đến trang cuối. Nét chữ viết bằng mực đen trên những trang Nhật Trình của du thuyền là nét chữ đàn ông, bay bướm, lả lướt nhưng cũng quắc thước, cương nghị. Người thủy thủ già chú ý đọc những dòng chữ cuối cùng của trang Nhật Trình và ngẩn ngơ lắc đầu. Trong gần bốn mươi năm trong nghề, chưa bao giờ ông được đọc một trang Nhật Trình kỳ lạ đến như thế…

… những vùng sâu thẳm màu xanh thẩm, những ánh bạc huyền diệu sáng lên, tắt đi như mời gọi. Tiếng gọi thiêng liêng từ đáy đại dương làm tôi rung động từng tế bào… Say… Say…

Trước khi gập quyển sách lại, ông Phó Trưởng Tàu nhặt một vật nhỏ dài bằng hai đầu ngón tay. Vật ấy nằm giữa hay trang giấy: một sợi tóc đàn bà, dài mượt, đen nhánh. Ông nhìn ngây sợi tóc và tưởng tượng đến người đàn bà nào đó đã sống trên du thuyền này.

— Ông sếp… Ông coi này…

Tiếng một thủy thủ vang lên sau lưng làm ông Phó Trưởng tàu quay lại. Người thủy thủ đưa ra trước mặt ông một cái sắc da anh vừa tìm thấy ở dưới một chiếc giường. Sắc đựng đầy giấy bạc đô-la xanh, những tờ giấy 20, 50, và 100.

— Trong này có tới 100.000 đôn là ít…

Nét mừng rỡ hiện rõ trên mặt người thủy thủ:

— Tìm được số tiền đô la này, mình sẽ có tiền thưởng cũng lớn lắm, xếp ơi.

Theo luật hàng hải quốc tế, ai tìm được những chiếc tàu bị đắm hay những đồ vật giá trị trôi dạt trên biển đều phải nộp cho những toà án hàng hải nhưng sau đó đều được hưởng tiền thưởng tùy theo trị giá những thứ tìm lại được.

Ông phó tàu lắc đầu:

— Bộ chú mày muốn lấy tiền thưởng ngay lập tức hay sao đây ? Còn đợi đưa ra toà án hàng hải nữa chứ ? Còn lâu lắm mới được cầm tiền thưởng. Đừng vội vàng… Vả lại, ở đây cũng đâu có quán rượu, có gái mà chú mày cần tiền ?

Ông cầm lấy cái sắc đầy tiền trong hai bàn tay đưa lên của người thủy thủ và đóng khoá lại. Một tay ông cầm cái sắc, tay kia ông cầm quyển sổ Nhật Trình và ra hiệu cho hai thủy thủ trở lên boong.

Ông chỉ tay lên cột buồm:

— Các chú có biết cái này là cái chi không ? Đó là cái buồm. Ngày xưa, khi chưa có máy móc người ta vẫn dùng cái buồm nay để đi biển và người ta vẫn vượt những đại dương băng băng. Hai chú ở lại đây trổ tài hạ buồm xuống và quấn nó lại. Còn tôi vì không muốn đứng đây sét nét mấy chú tôi trở về tàu trước. Tôi sẽ nộp ngay ông Thuyền Trưởng cặp bạc này, các chú yên trí là tiền thưởng của các chú, nếu có ngày các chú được hưởng sẽ không bị ai lấy trộm mất nửa đồng. Tôi sẽ bảo ném dây và các chú ràng du thuyền này vào với tàu mình.

Cách đó vài trăm thước, trên mặt biển lặng sóng, ông Thuyền trưởng chiếc tàu chở hàng tuy là tàu Việt Nam nhưng mang cờ hiệu tàu Panama, đứng trong ánh nắng chiều vàng nhìn người phụ tá của ông đi một mình trở lại trên chiếc xuồng máy nhỏ. Ông cũng nhìn thấy hai người thủy thủ ở lại trên du thuyền đang hạ buồm của du thuyền xuống. Biết trước những việc phải làm ông cho mệnh lệnh dây ràng sang cho du thuyền.

Khởi hành từ Đà Nẵng chở cá khô và mắm sang Mã Lai, họ trông thấy chiếc du thuyền này trước đó nửa tiếng đồng hồ và đã tránh sang bên phải hai độ để tàu khỏi chạm vào du thuyền. Ông Phó thuyền trưởng chiếu ống nhòm nhìn sang du thuyền và nhận thấy trên boong du thuyền, cả trong phòng máy của du thuyền, không có qua một bóng người nào. Ông cũng nhận ra thấy tai lái của du thuyền được gài cứng để du thuyền chỉ một hướng theo gío đi thẳng về Nam. Nhưng tình trạng này cũng không làm ai ngạc nhiên. Ở những vùng duyên hải, họ thường gặp những du thuyền loại này. Chủ nhân, hoặc ít nhất những người trên loại du thuyền này toàn là những ông bà nhà giàu chán sống đầy đủ trên bãi đất nên đua nhau lênh đênh trên mặt biển chơi. Có khi trên du thuyền chỉ có mỗi một người. Vào những ngày biển êm và trời đẹp như hôm nay, và vào giờ này chủ nhân của du thuyền có thể đang bận rộn nấu ăn bữa chiều trong căn bếp nhỏ dưới lòng du thuyền. Nhưng khi tàu hú còi gọi ba lần mà vẫn không thấy ai hiện trên boong du thuyền, ông Phó đã báo động với ông Chánh. Chiếc tàu hàng sau khi làm một đường vòng kính bán nguyệt, đã chặn đường gió của du thuyền, làm cho cánh buồm đang căng gió của du thuyền chùng xuống mà vẫn không thấy bóng người trên du thuyền. Hai ông Chánh, Phó tàu hàng bỗng cảm thấy lo âu, sợ sợ như sắp phải chứng kiến một tai nạn. Họ cho máy chạy giựt lùi để giữ cho tàu ngang với du thuyền, sau đó một chiếc xuồng được thả xuống biển, do ông Phó tàu lên xuồng cùng với hai thủy thủ để sang du thuyền xem có chuyện gì lạ xảy ra bên đó.

Tình Nữ, Đà Nẵng Việt Nam. Đó là hàng chữ đọc thấy trên nền trắng mát của thân du thuyền. Tình Nữ ? Tên thuyền thơ mộng dữ. Ông Chánh đứng nhìn sang du thuyền và sự tò mò của ông càng tăng khi ống thấy người phụ tá của ông một mình trở lại tàu. Người nào đó trên du thuyền mang tên Tình Nữ kia chắc là đau nặng nằm liệt dưới ca bin ? Ông cũng thắc mắc không hiểu trong trường hợp nào một chiếc du thuyền mỏng manh như thế này, loại du thuyền được chế tạo với mục đích đưa người ta đi chơi ở ven biển, lại đi xa bến của nó là Đà Nẵng đến tận đây ?

Ông Phó bước lên khoang, tay xách cái sắc da và quyển sổ. Ông Chánh hỏi trước:

— Ở bên ấy họ đau hay là chết mất cả rồi ?

— Biến mất. Không có qua một người nào bên đó cả.

Ông Phó trả lời bằng vẻ mặt và giọng nói của kẻ vừa nhìn thấy ma mà vẫn còn nghi ngờ :

— Họ tan biến đi trong không khí. Vụ này y hệt vụ tàu ma Marie Céleste vậy. Thật lạ lùng.

Ông nói tiếp bằng một giọng chen lẫn xúc động :

— Theo nhận xét của tôi, họ phải là hai người trên du thuyền, một người đàn ông và một người đàn bà. Lạ nhất là trước đây một tiếng đồng hồ, còn có ít nhất là một người trên thuyền.

— Chờ ràng dây xong, mình trở sang đó xem xét kỹ một lần nữa. Ông có thấy gì lạ trong sổ Nhật Trình của họ không ?

— Toàn ghi những chuyện lẩm cẩm gần như không dính líu gì tới cuộc hải hành…

Ông Phó tàu đưa cuốn Nhật Trình cho ông Chánh và mở cái sắc :

— Ông coi cái này hấp dẫn hơn này… Toàn đô la xanh. Nếu những người nào đó trên du thuyền có gặp trở ngại, chắc chắn không phải là vì họ thiếu tiền…

Ông Chánh nhìn những sấp giấy bạc màu xanh nằm trong lòng sắc với vẻ khả nghi của người nhìn những tờ bạc giả. Ông cầm vài tờ lên xem kỹ hơn, nhưng không, đó là giấy bạc thật. Toàn là đô la thật của Hoa Kỳ. Đôi lông mày rậm của ông nhíu lại. Như vầy là nghĩa lý gì ? Ông cầm cuốn sổ Nhật Trình đi vào phòng làm việc của ông. Ông Phó xách túi bạc vào theo.

Ông Chánh ngồi vào bàn, đặt quyển sổ bìa cứng lên bàn và lật tìm những trang cuối. Những dòng chữ bay bướm nhảy múa dưới mắt ông :

— Tình yêu… tình yêu… tình yêu như cái chết…

Người Trưởng tầu càng thắc mắc và khó hiểu hơn. Câu cuối cùng của tập Nhật Trình này giống như câu cuối của một quyển tiểu thuyết tình nào đó ông đã đọc ngày xưa. Ông còn nhớ mang máng đó là chuyện của hai người trẻ tuổi yêu nhau tha thiết nhưng định mệnh tàn nhẫn làm cho một người chết vì tai nạn, người yêu còn sống tự ý đi vào cái chết với niềm tin chắc rằng sau khi chết, ở trong cái chết, họ sẽ gặp lại nhau…

Ông lật ngược và đọc nhanh những trang cuối của tập Nhật Trình. Xong, ông từ từ gấp cuốn sổ lại và đi trở ra đứng trên khung cửa sổ nhìn về phiá chiếc du thuyền.

Vài phút yên lặng trôi qua, ông Chánh từ từ nói:

— Khi nào các thủy thủ trở về tàu, ông lại ra lệnh cho tàu mình tiếp tục đi, ông Phó…

Ông Phó ngạc nhiên:

— Mình không quay trở lại sao ông ?

— Quay trở lại làm chi ? Đem du thuyền trở về Đà Nẵng ư? Hay quay lại để tìm xem có xác người nổi quanh đây không ư ? Vô ích. Chúng ta cứ đi. Chúng ta đem tàu này sang Manila cũng được…

— Nhưng thưa ông… chắc chắn phải có người ở quanh đây. Khi tôi lên du thuyền, ấm nước dùng để pha cà phê của họ vẫn còn nóng, cà phê còn trong ly. Du thuyền chỉ chạy có 2 hải lý 1 giờ. Tôi chắc chắn họ chưa bỏ thuyền được lâu. Nếu chúng ta quay trở lại, thế nào cũng tìm thấy họ.

Ông Chánh lắc đầu:

— Không. Chúng ta sẽ không tìm thấy gì đâu. Ông tin tôi đi.

Mặt trời đỏ ối xuống trên biển làm cả mặt biển có màu vàng. Tuy không quay trở lại hẳn đất liền nhưng con tàu chở hàng cũng chạy vòng trở lại và đánh một vòng tròn năm cây số quanh chỗ họ bắt được du thuyền Tình Nữ. Họ đặt một thủy thủ canh chừng trên cao với ống nhòm cực mạnh. Thủy thủ này có nhiệm vụ chiếu ống nhòm nhìn quanh và báo động khi thấy một vật gì lạ có thể nghi là người trôi trên biển. Họ là những thủy thủ nhà nghề và họ biết biển cả đòi hỏi những gì ở họ. Nhưng công lao tìm kiếm của họ đều vô ích. Họ không tìm thấy gì hết, không nhìn thấy gì ngoài những vùng nước bạc mênh mông như sa mạc, màu nước mỗi lúc một thẫm dần cùng với mặt rời lặn xuống…

Khi đêm xuống hẳn, họ ngừng cuộc tìm kiếm để tiếp tục cuộc đi, ông Chánh mở chiếc cặp da trước mặt hai viên sĩ quan của tàu và cùng đếm số tiền Mỹ Kim tìm thấy trên du thuyền. Số tiền lên tới 98,000 Mỹ kim. Tiền được bỏ vào sắc và đặt trong kép sắt của tàu, khoá kín.

Khi ông Chánh làm xong bản báo cáo trường hợp tìm thấy chiếc du thuyền mang tên Tình Nữ bên trên không có người và ghi vụ này trong sổ Nhật Trình của tàu, kim đồng hồ chỉ mười một giờ đêm. Ông Chánh trở vào giường ngủ với quyển Nhật Trình kỳ lạ cuả chiếc du thuyền Tình Nữ. Ông nằm đọc quyển Nhật Trình này để suy nghĩ, để cố tìm ra những sự gì bí mật, rùng rợn hay huyền diệu đã xảy ra trên du thuyền.

Ngọn đèn đọc sách ở đầu chiếc giường nhỏ thủy thủ được bật lên. Ông Chánh mở quyển sổ và thấy một sợi tóc nằm ngang trang giấy. Ông nhẹ hai ngón tay cầm sợi tóc lên soi vào ánh đèn. Sợi tóc đàn bà, dài và đen nhánh mịn và mượt. Ngay cả giờ đây, khi rời xa da thịt, sợi tóc như vẫn còn sống. Đúng như lời ông Phó nói : trên du thuyền phải có hai người, một người đàn ông, và một người đàn bà. Sợi tóc này cho ông Chánh biết rằng ít nhất người đàn bà trên du thuyền đó phải là một người đàn bà đẹp, quyến rũ, đa tình nữa. Ông chợt nhớ đến cái tên Tình Nữ của du thuyền. Đem một người đàn bà đa tình như người đàn bà có sợi tóc này trong lòng chiếc du thuyền nào cũng phải được đặt tên là Tình Nữ. Nếu ông còn trẻ, nếu ông lênh đênh một mình với một người đàn bà đẹp, đa tình trên chiếc du thuyền đó, ông cũng phải đặt tên thuyền là Tình Nữ.

Ông Chánh cảm thấy hơi hối tiếc. Hồi nãy, ông đã ở lại trên chiếc tàu chứ không chịu cùng sang du thuyền với ông Phó để kiểm soát lại thật kỹ du thuyền lần thứ hai. Nếu ông qua đó, có thể ông sẽ tìm thấy những dấu vết gì đó mà ông Phó của ông không tìm thấy. Ông vẫn tin ở sự sáng suốt của người phụ tá của ông nhưng trong một vụ ly kỳ như vụ mất tích có màu sắc tình ái huyền bí này, người đi tìm dấu vết không chỉ cứ sáng suốt là đủ. Mà còn cần nhiều tưởng tượng nữa. Phải là người biết yêu thương, từng yêu đương, từng sung sướng, và đau đớn vì tình yêu mới nhìn thấy tình yêu ở nơi có tình yêu, hoặc ở nơi từng có tình yêu mà nay đã vắng những người từng yêu nhau ở đó.

Ông Chánh tự tin rằng nếu ông lên du thuyền, lên ngay lúc mới tìm thấy du thuyền kia sáng mai thì muộn mất rồi, những dấu vết trên đó có thể đã bị những thủy thủ lên đó trước ông làm mất ; ông có thể đóan biết được một số những sự việc đã xảy ra đưa đến sự mất tích của tất cả mọi người trên thuyền. Chắc chắn đã có một tấn thảm kịch xảy ra trên đó, và thảm kịch chắc chắn cũng mới xảy ra chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ trước khi tàu ông gặp du thuyền. Và cũng đúng như lời ông Phó nói : chắc chắn trước đó một giờ đồng hồ còn phải cóí t nhất là một người trên du thuyền, bằng cớ không thể chối cãi được là ấm nước pha cà phê trên bếp còn nóng, cà phê còn trong ly.

Và giờ này, trong lòng chiếc du thuyền trống, tràn đầy bóng tối, không một người, đang được keó theo con tàu này trên biển kia, biết đâu lại chẳng nhẹ nhàng di chuyển những bóng ma ? Biết đâu linh hồn của kẻ chết chẳng còn vương vấn nơi đó… ?

Người thủy thủ già cố gắng gạt những hình ảnh tưởng tượng ra khỏi óc để chú ý vào việc đọc tập Nhật Trình Tình Nữ…

Advertisements

2 Responses

  1. Em vừa sửa lại phần mở đầu của Như Chuyện Thần Tiên. Mời các bác vào đọc.

    Ngoài cuốn này ra Charles Williams còn có 3 cuốn khác tựa đề là Aground, Dead Calm (đã có phim), và And The Deep Blue Sea, giới văn sĩ noir gọi chung là Blue-Water Noir. Bác nào đọc được tiếng Anh thì có thể tìm trên eBay. Giá cả chênh lệch quá nhiều em không hiểu tại sao nữa.

  2. Kính Bố Già CTHĐ,

    Xin CTHĐ chớ quá lời ! Được đóng góp tí công lao để dựng lại màn ảnh chiếu lên một cuốn phim độc đáo mà Bố Già đã thực hiện, đã làm tôi vinh dự và sung sướng lắm rồi!

    Hồi nhỏ, mỗi lần được thầy giáo sai ôm phụ tập vở mang về nhà cho thầy chấm đìểm, lúc nào tôi cũng cảm thấy “sướng rên mé đìu hiu” vì được thầy tin tưởng. Cảm giác được giao cho “gõ” quyển tiểu thuyết này cũng tương tợ như thế.

    Đọc lại “Như chuyện thần tiên”, tôi như sống lại trong một thiên đường nhỏ của quãng đời niên thiếu năm nào.

    Một lần nữa, cám ơn Bố Già đã ban cho bọn nhóc chúng tôi cái thiên đường ảo đầy phiêu lưu và tình tứ này. Nó đã nhiều lần làm tôi tạm quên đi cái địa ngục có thật đã đày đọa tuổi trẻ chúng tôi ở VN vào cuối thập niên 70.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: