• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Xin Hãy Nở Hương

Buồn như người lính vừa thua trận // Gục đầu, buông súng, khóc cho đời

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Xa nửa địa cầu thương nhớ mãi
Ơi những tàn xương ở cố hương

Sống ở Mỹ, ăn gạo Thái, nhớ, nghĩ, nói, kể, và ân hận, tiếc thương toàn chuyện Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà bị tiêu vong. Ðã ba mươi nhăm năm rồi còn gì? Sao không quên đi mà sống? Sao cứ nhớ mãi, cứ nhắc hoài? Bao nhiêu người mất nước đâu phải mình anh, người ta có nhớ thương đâu? Trở thành công dân cường quốc Số Một Thế Giới, người ta ăn mừng, người ta chúc mừng nhau không còn là dân Việt nữa, người ta hớn hở vì người ta đã là “A-mơ-ri-cân si-ti-zhân”, người ta nói: “Công-grê-tu-lê-shơn..!”

Anh về Bình Định mất cha. Phú Yên mất mẹ, Khánh Hòa mất em *

Nhưng đâu có phải hai triệu người Việt lưu vong, lưu đầy ở bốn phương trời hải ngoại đều quên nước cũ, quên hận cũ, quên những người Việt đã chết vì nước, chết vì bị bọn Ác Cộng giết, đâu phải tất cả người Việt hiện sống ở ngoài nước Việt đều hãnh diện được làm công dân những nước khác! Cũng còn nhiều người mỗi năm Ngày Ba Mươi Tháng Tư đến vẫn thấy đau nhói trong tim, vẫn thấy mình là người lính vừa thua trận, nằm giữa sa trường nát gió mưa, nhắm mắt không quên đời chiến sĩ, làm thân cây cỏ nát ven bờ, vẫn đêm đêm bàng hoàng, đau đớn nghe từ đáy hồn thương tích, vẳng tiếng kèn truy điệu nước xưa..

Hôm nay ba mươi nhăm năm trước, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu – vị Tổng Thống thứ hai và là Tổng Thống Cuối Cùng – của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, bỏ chức, bỏ nước, cùng thê tử, thủ hạ, chạy ra ngoại quốc, mở màn cho cuộc bỏ chạy tán loạn “vĩ đại” nhất lịch sử dân tộc.

Tôi – CTHÐ – viết “ Tổng Thống thứ hai, Tổng Thống cuối cùng của Quốc Gia VNCH” là để nói mà không phải nói ra: Hai ông “Tổng Thống” sau TT. NV Thiêu là TT Trần Văn Hương và TT Dương Văn Minh không đúng nghĩa là Tổng Thống.

Nói theo ngôn từ Tầøu Cộng, cuộc bỏ chạy của quân dân Quốc Gia VNCH Tháng Tư năm 1975 là cuộc bỏ chạy cả nước. Cả nước bỏ chạy cũng vậy. Ngày nào đi lính đánh Cộng sản dân Việt còn hò nhau: “Một.. Hai.. Ba.. Chúng ta đi lính cả làng..”.Nếu tôi nhớ đúng Nhạc sĩ Canh Thân là tác giả bài ca này.

Trong cuộc bỏ chạy cỡ quốc gia này không có ..một.. hai.. ba.. gì cả, mạnh mạng nào mạng ấy chạy; chạy từ ông Tổng Thống đến ông Tống thư văn, chạy từ ông Ðại tướng đến ông Binh nhì..! Chúng ta bỏ chạy cả nước. Bỏ chạy tán loạn và khiếp đảm đến như thế, ta còn mặt mũi nào ngước mặt lên nhìn thẳng vào mặt ai!

Chuyện cũ kể thêm buồn, nhưng cứ phải kể. Năm 1992 ở Sài Gòn, thành phố thủ đô Quốc Gia VNCH bị bọn xâm lược đổi tên là Thành Hồ một số anh em chúng tôi gặp nhau trong tiệc cưới con trai Thanh Thương Hoàng. Năm ấy anh em chúng tôi còn sống ở Sài Gòn và tối đó đến dự tiệc cưới là Mặc Thu Lưu Ðức Sinh. Như Phong Lê văn Tiến, Tú Kếu Trần Ðức Uyển, Văn Quang, Dạ Lan, Thái Thủy, Uyên Thao, Vương Ðức Lệ, Nguyễn đình Toàn, Hồ Nam, Vân Sơn, Cao Nguyên Lang, Nguyễn Thụy Long, Chóe Nguyễn Hải Chí, Thế Phong, Hoàng Hương Trang vv. Và nhiều anh chị em nữa tôi không nhớ tên.

Năm ấy – 1992 – đời sống của anh em chúng tôi ở Sài Gòn cờ máu không còn đói rách, cơ cực quá đỗi như những năm 1980, đi ăn cưới con cháu nhiều người trong chúng tôi bận com-lê, vét tông, anh nào lè phè lắm cũng có cái ca-vát, nhiều người đi xế Honda. Trong tiệc tôi gặp ông Nhữ văn Úy.

Bạn ta còn nhớ ông Ký giả rồi Dân Biểu Nhữ văn Úy chứ? Quên ai thì quên ta khó quên ông dân biểu thước mốt này. Ông Thổ Hành Tôn bỏ nước chạy lấy người thoát thân trước Ngày 30 Tháng Tư 75. Nghe nói khi mới sang đảo Guam ông là một trong số những kẻ đầu têu ra chuyện đòi trở về nước, nhưng trong số người trở về trên tầu Việt Nam Thương Tín năm xưa ấy lại không có ông. Ông sống nhờ ở Pháp và năm 1992 ông trở về “làm thương mại” ở Thành Hồ. Tôi hỏi ông;

— Anh này đã chạy được rồi còn về đây làm gì đây?

Không trả lời câu hỏi của tôi, Nhữ Văn Úy nói:

— Anh mà chạy được như tôi anh cũng chạy khác gì tôi..

Héng nói đúng. Tôi chạy không được, không phải tôi không muốn chạy, không phải tôi muốn ở lại chịu đau khổ với nhân dân, tôi nói với Héng:

— Ðúng. Nhưng nếu tôi chạy được như anh, tôi không trở về như anh..

Không để cho tôi nói đến câu thứ ba, Héng phú lỉnh luôn.

Những ngày Tháng Ba, Tháng Tư đen hơn mõm chó năm 1975 tôi là nhân viên Sở Thông Tin Hoa Kỳ – tiếng Mỹ là Iu-dzít: USIS – tôi ở trong ban biên tập tờ Triển Vọng, tạp chí của USIS. Năm 1972, sau khi ký hòa ước với Việt Cộng để rút quân Mỹ ra khỏi chiến trường Việt Nam, chánh phủ Hoa Kỳ dẹp bỏ hai cơ sở truyền thông từng tuyên truyền chống Cộng Sản là Ðài Phát Thanh Tiếng Nói Tự Do và tờ Tạp Chí Thế Giới Tự Do; họ mở đài phát thanh mới là Ðài Mẹ Việt Nam; tờ Tiếng Nói Tự Do được thay bằng tờ Triển Vọng. Tạp chí Triển Vọng không tuyên truyền chiến tranh chống Cộng, báo chỉ có những bài quảng bá văn minh, văn hóa, kỹ thuật Hoa Kỳ và lối sống của dân Hoa Kỳ.

Trong những ngày dầu sôi, lửa bỏng giữa Tháng Tư 1975, lúc này tất cả những nhân viên Mỹ trong USIS đã về nước hết, nhân viên USIS ở lại Sài Gòn chỉ còn bốn người: Giám Ðốc, Phó Giám Ðốc, Trưởng Phòng Nhân Viên, Trưởng Phòng An Ninh. Giám Ðốc USIS Alan Carter – ông này hiện còn sống, vẫn làm việc trong chính phủ Mỹ – từ ngày 20 Tháng Tư 1975 mỗi chiều sau khi đi họp bên Tòa Ðại Sứ về, Giám Ðốc Carter thường hội họp một số nhân viên USIS để phổ biến tình hình. Trong một buổi họp ấy nhân viên Việt USIS hỏi ông về việc chính phủ Mỹ có đưa nhân viên Việt USIS đi khỏi nước hay không, Giám Ðốc Carter trả lời:

— Vấn đề ấy chưa được đặt ra. Lúc này Việt Nam Cộng Hoà như cái nhà có nguy cơ sụp đổ, nhiều người đang ra sức chống giữ cho nhà không bị đổ. Nay nếu chúng tôi đưa tay vào kéo các anh ra khỏi nhà, những người kia sẽ buông tay, nhà sẽ đổ luôn.

Chúng tôi gặng hỏi:

— Nhưng khi Việt Cộng sắp vào Sài Gòn, các ông có đưa chúng tôi đi không?

Carter vẫn tránh né:

— Tôi không thể trả lời câu hỏi đó. Bởi vì nếu tôi nói khi Sài Gòn sắp mất, khi ViXi sắp vào Sài Gòn, chúng tôi sẽ đưa các anh đi, các anh sẽ nói với vợ con các anh là người Mỹ sẽ đưa nhân viên Sở Mỹ đi. Việc đó sẽ gây tai hại.

Một chiều lúc 5 giờ, đi họp bên Tòa Ðại Sứ về, Carter cho gọi chúng tôi đến phòng họp. Tôi thấy ông có vẻ xúc động, ông đứng lên để nói:

— Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ quyết định đưa các anh, các chị và gia đình đi ra khỏi nước. Các anh, chị ghi những quy định này để nói cho đồng nghiệp của các anh, các chị biết: các anh, chị được đem đi vợ, chồng, cha mẹ chồng, cha mẹ vợ, các con anh, chị. Con trai phải dưới 17 tuổi, con gái phải dưới 21 tuổi mới được đi theo bố mẹ..

Tối hôm đó ông Thiệu và gia đình đi khỏi Việt Nam. Ngày 25 Tháng Tư chuyến di tản nhân viên USIS thứ nhất lên xe buýt vào phi trường Tân Sơn Nhất. Mỗi ngày USIS chỉ một lần đưa nhân viên vào Tân Sơn Nhất. Người đi được Giám Ðốc Carter chọn trong danh sách. Chỉ có chưa đầy ba phần mười nhân viên USIS đi thoát, vì chuyến đầu đi ngày 25-4, đến chiều ngày 28-4 phi trường Tân Sơn Nhất bị đánh bom, những chuyến phi cơ từ Guam bay sang nửa đường đã quay về và ngừng đến VN luôn, cuộc di tản bằng hàng không đứt ngang.

Ngày 29-4-75.. Sài Gòn náo loạn như tổ kiến vỡ, phi cơ trực thăng Mỹ bay vần vũ trên trời Sài Gòn từ trưa qua suốt đêm đến sáng hôm sau: Ngày 30 Tháng Tư:

Ðùng đùng gió giục, mây vần
Trực thăng trong cõi hồng trần như bay..

Mãi sau tôi mới biết Tòa Ðại Sứ Mỹ dự định đưa nhân viên Việt đi từ từ và đều đều cho đến ngày 15 Tháng Năm mới chấm dứt cuộc di tản, nhưng quân Bắc Việt Cộng vào Sài Gòn quá nhanh. Lại thêm chính phủ Vũ văn Mẫu yêu cầu:

“Tất cả người Mỹ phải đi khỏi Việt Nam trong 24 giờ đồng hồ..”

Ðại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin phải cuốn cờ lên trực thăng. Những ngày đêm tuyệt vọng kéo dài..

Sau đó khi nghe một anh bạn USIS nói: “Mỹ nó không có ý đưa bọn mình đi”, tôi nghĩ dù đi được hay không tôi vẫn cám ơn Giám Ðốc Alan Carter. Trong một cuộc họp giữa ông và chúng tôi vào chiều 23-4 hay 24-4-75, tôi hỏi Carter:

— Các ông ra điều kiện con trai chúng tôi phải dưới 17 tuổi, con gái chúng tôi phải dưới 21 tuổi mới được đi theo chúng tôi. Ða số chúng tôi có con trai trên 17 tuổi, phải bỏ con chúng tôi lại, làm sao chúng tôi đi được?

Carter nói:

— Những điều kiên đó là do chính phủ của các anh đưa ra, không phải do chúng tôi. Chúng tôi muốn thực hiện một cuộc di tản đại qui mô, chúng tôi phải làm theo pháp luật. Nhưng.. anh nói con trai anh 16 tuổi mà tôi nhìn đó như ông này – Carter nhìn ông bạn đồng nghiệp của tôi – tôi cũng không biết, tôi không phải là nhà nhân diện học, tôi chỉ biết anh nói với tôi con anh nó 16 tuổi; anh nói con gái anh 19 tuổi mà tôi thấy nó như bà bạn đồng nghiệp của anh đây, tôi cũng không biết, tôi chỉ biết anh nói với tôi con gái anh nó 19 tuổi..

Ba mươi nhăm Tháng Tư đến, Tháng Tư đi, biết bao vật đổi, sao dời, bao nhiêu dâu biển, tôi vẫn không quên lời nói của Giám Ðốc USIS Alan Carter chiều xưa ấy, tôi vẫn nhớ nét mặt của ông khi ông nhìn tôi, tôi thấy rõ ông muốn thầm nói với tôi:

— Sao anh ngu quá. Anh cứ khai trên danh sách con trai anh nó 16 tuổi là chúng tôi để nó đi theo anh, chúng tôi có đòi anh chứng minh con anh nó 16 tuổi đâu.

o O o

Nhưng thôi, tôi không kể chuyện ta bỏ nước chạy lấy người nữa. Tôi nghĩ đây là lần cuối cùng tôi viết về Ngày Ba Mươi Tháng Tư 1975. Sang năm, Tháng Tư năm 2011, tôi muốn viết những chuyện gì khác chuyện Tháng Tư 1975.

Hôm nay, nhớ lại, trái tim đau nhói, niềm tủi nhục vẫn không nguôi, tôi thấy tôi phải viết thêm:

Tôi viết “tất cả quân dân ta bỏ chạy trong Tháng Tư 1975” là không đúng. Trên các mặt trận tháng ấy, năm ấy, nhiều chiến sĩ của ta vẫn chiến đấu trong vô vọng, vẫn anh dũng đứng thẳng trước quân địch; nhiều người lấy cái chết đền nợ nước. Chiến sĩ ta chết trên khắp nước, đến ba, bốn giờ chiều Ngày Ba Mươi Tháng Tư 1975 vẫn còn những chiến sĩ ta anh dũng chết trên những đường phố Sài Gòn.

Nhưng đốn mạt là bọn năm, ba tên Sài Gòn, vào lúc 2 giờ chiều Ngày 30-Tháng Tư, chạy đến Ðài Phát Thanh phừng phưng ghi-ta mèo mửa ca hát chào mừng quân Cộng Sản xâm lăng vào Sài Gòn. Ðây là những tên mà người dân Sài Gòn bị chiếm đóng gọi là bọn “Cách Mạng Ba Mươi”. Bọn ca hát ở Ðài Phát thanh Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà chào mừng bọn Cộng sản xâm lăng lúc 2 giờ chiều ngày 30 Tháng Tư 1975 là những tên Cách Mạng Ba Mươi thứ nhất ló mặt ở Sài Gòn sau khi quân Bắc Việt Cộng kéo vào Sài Gòn. Bọn Cách Mạng Ba Mươi là những tên xun xoe bám đít bọn Cộng Sản. Nhân dân Việt Nam Cộng Hòa thù và khinh những tên Cách Mạng Ba Mươi. Nhân dân có câu:

Công an, bộ đội còn tha
Ba Mươi giết hết, lột da đóng giày.

Sụp đổ tan tành, tủi nhục, tù tội, đói khổ, bị cướp đoạt hết, sống trong đen tối, tuyệt vọng, người dân VNCH vẫn mơ có ngày quân ta trở về, vẫn ước ao ngày ta lại làm chủ đất nước, ngày ấy ta có thể tha chết cho những tên công an, bộ đội cộng sản bị ta bắt sống nhưng ta sẽ không tha chết cho những thằng Cách Mạng Ba Mươi – những thằng vẫn ở trong phe ta, những thằng khi thấy ta thua, ta ngã, chạy ra vẫy đuôi chào đón bọn chủ mới.

Ôi… giấc mơ quân ta trở về, ta lại làm chủ đất nước, đất nước lại của ta, khi ấy dù Thiệu, dù Kỳ, dù Khánh.., dù ai cũng được, cũng vẫn hơn. Dù gì cũng được, miễn là phe ta.. Than ôi.. Giấc mơ ấy không bao giờ đến. Bọn Cộng Sản vẫn làm chủ Sài Gòn, bọn Cách Mạng Ba Mươi vẫn nhơn nhơn sống và vẫy đuôi ở Sài Gòn của ta..

Ta chỉ có thể lột da bọn Cách Mạng Ba Mươi trong những giấc mơ sầu muộn..

o O o

Năm năm cứ đến ngày oan trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Thôi thế Em về yên Xóm Cỏ
Cây đời đã cỗi gốc yêu đương
Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió
Cho đống xương tàn được nở hương…

Một đời ba, bốn phen dâu bể
Mười điều trông thấy chín đau thương
Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương
Nước mất, quân tan, thân chiến bại
Sống nhờ y thực ở tha phương

Vèo trông lá rụng đầy đường
Kỳ Hoa Ðất Trích đoạn trường thế thôi.
Huống chi ta đã không còn trẻ
Tự thưở tan hàng ở cố hương.
Tháng Tư..! Ta lặng nhìn sông núi
Sông núi người dưng trắng khói sương.
Quê ta xa mãi bên kia biển
Chỉ thấy tơi bời mây trắng vương.

Ta đau người lính vừa thua trận
Nát gió mưa nằm giữa sa trường
Vẫn nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu Thiên Ðường.
Ðất đá tim ta nhiều ngấn lệ
Em có bao giờ Em khóc thương?

Hồ trường..
Lò cừ nung nấu sự đời
Bức tranh vân cẩu vẽ người tha hương
Vỗ gươm mà khóc
Nghiêng bầu mà gọi
Kỳ Hoa mang mang… ơi người mất nước..
Rừng Phong cùng ta cạn mấy hồ trường.
Hồ trường.. Hồ trường..
Ta biết rót về đâu?
Ðông phương ngàn dậm thẳm
Mây nước một mầu sương
Tây phương trời đẹp lắm
Có người mất nước như điên, như cuồng…

Hỡi ơi… bạn tác ngoài trôi dạt
Chẳng đọc Thơ Ta cũng đoạn trường!

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Xa nửa địa cầu thương nhớ mãi
Xương có tàn xin hãy nở hương.

CÔNG TỬ HÀ ÐÔNG

——————————————————————-

* Ca dao: Anh về Bình Ðịnh thăm cha,
Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em.

Advertisements

One Response

  1. Cảm ơn nhà văn Hoàng Hải thuỷ đã đăng một số bài viết về ngày 30/4/75 Xin được bày tỏ lòng tri ân từ một độc giả lâu năm cũa tác giả Mong tác giả nhiều sức khoẻ để được độc giả còn được đọc nhiều bài viết trên cả tuyệt vời cũa ông

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: