• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Thị Mịch Nằm Nghiêng

Nghị Hách, trong phim Giông Tố thực hiện năm 2000 ở Hà Nội

Từ năm 2000 khi “lại được tự do” Viết ở Kỳ Hoa – Viết Vung Vít, Viết Vung Tí Mẹt, Viết theo kiểu Muốn Viết gì thì Viết – tôi muốn làm theo Nhà Văn Trương Tửu:

Chỉ viết những gì chưa ai viết.

Viết để cho người đọc phải suy nghĩ, tranh luận.

Tất nhiên tôi muốn như thế nhưng tôi có viết được như thế không là chuyện khác. Khác không phải 100/100 mà 1.000.000/100. Có nhiều chuyện tôi tưởng chưa ai viết nhưng thật ra đã có người viết rồi mà tôi không biết.

Mới đây, có ông Nguyễn Văn Lục, phê tôi hai chuyện:

Hoàng Hải Thủy là người mù tịt về Văn Học.

HHThủy đem tiểu thuyết Giông Tố của Vũ Trọng Phng ra phê bình tầm bậy, tầm bạ.

Tôi trích đăng vài đoạn tôi viết về Giông Tố mời quí vị đọc.

Trong Chương Ba Giông Tố có một chuyện được người đọc Giông Tố ngày xưa gọi là chuyện “Táo Tầu Nghị Hách.”

Trích:

Cô Kiểm lại đứng cạnh cô Lễ, khẽ hỏi:

— Thế nào, mấy hôm nay em có được sạch sẽ không?

Cô Lễ len lét thưa:

— Dạ, sạch sẽ lắm ạ.

— Thế có nhớ hộp táo Tầu đấy hay là không?

Tôi mù tịt về chuyện Táo Tầu này, tôi chỉ nghe nói, hay đọc được ở đâu đấy, về chuyện Táo Tầu như sau — như thị ngã văn — tôi kể lại mà không bảo đảm trúng trật, tức không bảo đảm chuyện kể là đúng, cũng không bảo đảm chuyện là sai: những anh Tầu già có tiền, đa dâm, tham dâm, muốn tẩm bổ để có sức hưởng sự đời, nghĩ ra cách dùng những em trinh nữ khỏe mạnh, đút những quả táo Tầu khô vào âm hộ các em, rồi làm cho các em bị kích thích dục tình, nước dâm — tinh khí — của các em chẩy ra, những trái táo Tầu khô hút thứ nước dâm này, mấy anh già lấy những trái táo ấy ra hầm — tiềm — với gà ác, với gân hươu nai, với thuốc bắc, để ăn. Mấy anh cho đó là món ăn đại bổ. Không biết món Táo Tầu làm như thế có bổ âm, bổ dương gì không, chỉ biết trong Giông Tố có chuyện Nghị Hách Táo Tầu như ta vừa đọc. Tác giả chỉ tả thoáng qua, thiếu phần chi tiết: Nghị Hách chọn em Lễ là em chắc mới được tuyển, hãy còn mộc mạc, chân quê, trẻ và khỏe mạnh, để om táo Tầu. Tôi không nhớ trong bản Giông Tố tôi đọc năm 1940 đoạn Táo Tầu Nghị Hách có được viết dài hơn, kỹ hơn hay chỉ vắn tắt có mấy dòng như thế. Trong những bản Giông Tố tái bản sau 1954 rất nhiều đoạn bị người ta bỏ ngang xương.

Tôi thấy – có thể không đúng – tiểu thuyết Việt Nam không có “truyện khiêu dâm,” hội họa Việt Nam, cổ như kim, không có “tranh khiêu dâm” – “khiêu dâm” theo nghĩa Porno của người Âu Mỹ — tức tả, vẽ toàn chuyện, toàn cảnh đàn ông-đàn bà làm tình — những năm 1935, 1940 tiểu thuyết như Giông Tố được kể là chuyện tả chân rất bạo. Vì Giông Tố, Vũ Trọng Phụng bị một số người cùng thời đả kích, kết tội “viết khiêu dâm“. Ðáng kể nhất là bài viết đăng trên tuần báo Ngày Nay của nhóm Tự Lực Văn Ðoàn. Tôi trích đăng ở đây bài viết ấy để bạn đọc “rộng đường dư luận”.

Ý kiến một người đọc: Dâm hay không Dâm? Người viết Nhất Chi Mai, tuần báo Ngày Nay số 15, trang 137, ra ngày 21 Tháng 3, 1937:

Tôi không phải là một nhà phê bình chuyên môn, hay một văn sĩ thuộc về một văn phái nào. Tôi chỉ là một người đọc báo giản dị đem giãi bày cái cảm tưởng của tôi, khi đọc văn của ông Vũ Trọng Phụng.

Tính tôi ưa hòa bình, không muốn gây gổ với ai. Vậy mà tôi phải lên tiếng. Tôi phải chỉ trích những cái khốn nạn, lầy lụa của những đoạn văn mà bọn văn sĩ nửa mùa về hùa nhau cho là kiệt tác, là đúng sự thật, là can đảm.

Và tôi tin rằng trong các bạn độc giả, có nhiều người có lương tri, biết phán đoán, phân biệt, không bị những danh từ rỗng tuyếch nó lừa dối, không cắm đầu theo làn sóng chuộng lạ như một đàn cừu.

*

Nhà văn Vũ Trọng Phụng, tác giả thiên phóng sự Lục Xì ở báo Tương Lai tự nhận mình là nhà văn xã hội chưa đủ, còn viết một bức thư ngỏ để dạy người ta một bài học xã hội, luân lý và để có dịp lòe độc giả bằng cái học vấn “sơ học” của mình.

Nhưng mục đích bài này không phải để vạch cái hành tung đáng ngờ của nhà văn xã hội Vũ Trọng Phụng mà chính là để vạch những cái bẩn thỉu, nhơ nhớp, dơ dáy của văn ông ta.

Muốn tự bào chữa cho mình, nhà văn đó mới viết bướng câu này:

“Thưa không! Cái gì đã bẩn thỉu đến nôn ọe như thế thì không có tính chất khiêu dâm đâu ngài ạ!”

Khó tin lắm! Những lối tả Thị Mịch trong khi chửa nằm nghiêng để hiến ái tình cho bạn, hay con sen vạch quần để hở đùi non cho con chủ nhà trông thấy mà không còn gọi là khiêu dâm thì còn gọi là gì nữa?

Trong văn Vũ Trọng Phụng còn nhiều chỗ nhơ nhớp hay những câu sống sượng, trần truồng như thế này.

Không ai có quyền cấm nhà văn Vũ Trọng Phụng dùng những chữ bẩn thỉu để tả những cảnh bẩn thỉu. Nhưng trong khi viết những câu văn mà mình cho là khoái trá, tưởng cũng nên nghĩ đến độc giả một chút.

Nhà văn Vũ Trọng Phụng lại hô lớn lên rằng: Nhân loại đã tiến hóa rồi!

Tuồng như nhân loại đã tiến hóa ở chỗ nói tục, dùng những danh từ bẩn thỉu, uế tạp và ở chỗ đầy rẫy những chuyện hiếp dâm, làm đĩ, ăn cắp và bịp bạc.

Nếu nhân loại tiến hóa ở chỗ đó thì cũng đáng buồn cho nhân loại. May sao cái nhân loại đó chỉ là cái nhân loại riêng của nhà văn Vũ Trọng Phụng thôi.

Ðối với nhà văn xã hội kỳ quặc này, thì những người biết thận trọng lời nói, biết đắn đo, dè dặt ngòi bút, khi viết văn, đều là những đồ “vô học thức” có “tính e thẹn của quân bồi săm” (!)

Kết luận, tôi phải nói cái cảm tưởng của tôi khi đọc văn Vũ Trọng Phụng. Ðọc xong một đoạn văn, tôi thấy trong lòng phẫn uất, khó chịu, tức tối. Không phải phẫn uất, khó chịu vì cái vết thương xã hội tả trong câu văn, mà chính vì cảm thấy một tư tưởng hắc ám, căm hờn, nhỏ nhen ẩn trong đó.

Ðành rằng nhà văn có cái thiên chức nêu những cái thống khổ của nhân loại, vạch những cái xấu xa của nhân loại, nhưng bao giờ cũng phải có một ý nghĩ cao thượng, một tư tưởng vị tha, một lòng tín ngưỡng ở sự tiến hóa, mong cho nhân loại ra khỏi nơi u ám và một ngày một hay hơn, một sung sướng hơn lên.

Ðọc văn Vũ Trọng Phụng thực không bao giờ tôi thấy một tia hy vọng, một tư tưởng lạc quan. Ðọc xong, ta phải tưởng tượng nhân gian là một nơi địa ngục và chung quanh mình toàn những kẻ giết người, làm đĩ, ăn tục, nói càn, một thế giới khốn nạn vô cùng.

Phải chăng đó là tấm gương phản chiếu tính tình, tư tưởng của nhà văn, một nhà văn nhìn thế gian qua cặp kính đen, có một bộ óc cũng đen và một nguồn văn càng đen hơn nữa.

NGÀY NAY Số 15, trg 137, ngày 21-3-1937.

Bạn vừa đọc một bài đăng trên tuần báo Ngày Nay, ấn hành ở Hà Nội năm 1937. Hơn năm mươi năm đã qua trên đất nước chúng ta kể từ ngày ấy, rất có thể người viết Nhất Chi Mai * là ông Nhất Linh, hay ông Khái Hưng, ông Hoàng Ðạo. Tôi nghi giọng văn và bút pháp ấy không phải là văn và bút pháp của độc giả. Các ông Vũ Trọng Phụng, Nhất Linh, Khái Hưng, Vũ Bằng..vv.., những tên tuổi có liên can đến tiểu thuyết Giông Tố, hôm nay — 2005 — đều đã qua đời. Tôi liêu lạc ở xứ người, đọc lại tác phẩm của các ông — những tiểu thuyết làm tôi say mê những năm tôi mới mười tuổi, những tiểu thuyết mở hé cho tôi thấy mơ hồ một bầu trời tuyệt đẹp mà người viết tiểu thuyết tạo thành, một vũ trụ nho nhỏ mà người viết tiểu thuyết sáng tạo ra và làm chủ, những tiểu thuyết đã mở lối cho tôi đi vào con đường viết tiểu thuyết suốt một đời tôi — tôi thấy ngậm ngùi.

Tôi thương ông Vũ Trọng Phụng. Tiểu thuyết Giông Tố của ông là một tác phẩm giá trị. Dù Giông Tố có mang trong nó nhiều lỗi vặt như tôi đã kể, Giông Tố là một tác phẩm tiểu thuyết có một không hai trong kho châu ngọc tiểu thuyết của ta, tôi nghĩ thế. Không có tác phẩm tiểu thuyết nào giống với Giông Tố, hay sánh được Giông Tố. Từ năm 1937 là năm Giông Tố được viết theo lối tiểu thuyết feuilleton đến nay — 2005 — đã 65 năm, bài báo tôi vừa đọc già gần bằng tôi, tôi thấy chưa có tác phẩm tiểu thuyết nào có giá trị về sáng tác ngang với, Giông Tố, đừng nói là hay hơn, Giông Tố.

Trong xã hội ta có những Thị Mịch bụng chửa ba tháng nằm nghiêng cho đàn ông chơi không? Bạn trả lời có hay không có? Ở thành thị có những em làm công đêm ngủ cố ý để hở vú, hở đùi non, hở luôn cả đùi già, cho ông chủ hay cho con trai chủ nhà thấy không?* Bạn trả lời không hay có? Nếu có thì tại sao lại cấm không cho người viết tiểu thuyết viết những chuyện ấy? Tại sao lại bắt người viết tiểu thuyết phải là một nhà đạo đức, một nhà luân lý trong tác phẩm tiểu thuyết? Trình bày bộ mặt thật bẩn thỉu của con người cho con người thấy, để con người ghê tởm chính mình, để con người thấy mình bẩn thỉu, để con người tự sửa đổi cho được là người tốt hơn, ít nhất cũng làm cho con người thấy mình bẩn mà không dám huyênh hoang phét lác.., theo tôi, là một việc làm nhân đạo hơn, tốt hơn, có ích hơn, so với việc viết ra những tiểu thuyết trong đó các nhân vật đều trong sạch, đều sống đẹp, nhưng đó là những con người không có thật, những truyện tình thơ mộng nhưng không thể có thật ở đời. Tôi dành quyền bạn lựa chọn: trong hai cách viết ấy, giữa hai loại tiểu thuyết ấy, cách viết nào, loại tiểu thuyết nào có giá trị hơn, đáng quí hơn?

Bức thư ký tên Nhất Chi Mai cho tôi thấy thái độ kiêu kỳ của các ông Tự Lực Văn Ðoàn, các ông khinh mạn những người viết cùng thời không ở trong nhóm các ông, những tác giả không viết những tiểu thuyết giống tiểu thuyết của các ông, các ông gọi họ là “đám văn sĩ nửa mùa“. Chỉ thiếu có chuyện các ông tự nhận các ông là loại “văn sĩ trọn mùa“, và việc công khai tuyên bố tiểu thuyết như tiểu thuyết của các ông mới là tiểu thuyết! Việc bắt người khác phải viết theo ý mình là việc đáng ghét. Trong những tài liệu tôi có về Vũ Trọng Phụng, thấy có nói đến chuyện khi bị đả kích là viết văn khiêu dâm, Vũ Trọng Phụng đã viết nhiều bài trả lời, luận điệu đanh thép, biện luận văn ông không phải là văn khiêu dâm, làm cho những người đả kích ông phải im miệng. Rất tiếc tôi không tìm được những bài bút chiến ấy của tác giả Giông Tố.

Trong Giông Tố Vũ Trọng Phụng tả những cảnh dâm dục — sơ sơ thôi, so với bây giờ thì những cảnh đó, những lời tả đó không đi đến đâu cả — điều đáng kể là tiểu thuyết của ông làm cho ta khinh ghét bọn trọc phú gian tham và tham dâm mà Nghị Hách là đại diện, ông làm ta thấy thương hại Mịch, Long, ông bà Ðồ Uẩn, thương cả con gái Nghị Hách là Tuyết, làm ta có cảm tình với ông già Hải Vân và Tú Anh; ông làm cho ta khinh ghét những cái xấu, những người xấu, ông làm cho ta yêu mến, kính trọng những người tốt, ông làm ta thương xót những người không may trong đời. Như vậy Giông Tố có giá trị đạo đức, có sức mạnh bảo vệ cái Ðẹp, có công đả phá cái Xấu, Giông Tố có Luân lý lắm chứ!

o O o

Sơ lược truyện Giông Tố:

Chuyện xẩy ra ở xứ Bắc Kỳ năm 1930. Nghị Hách, dân biểu, chủ mỏ, chủ đồn điền, đa dâm, cưỡng hiếp Thị Mịch, một em thôn nữ, trên xe ô-tô của y trong đêm y từ đồn điền của y, trên đuờng về Hà Nội. Thị Mịch có chồng chưa cưới là Long. Long làm thư ký trong trường tư thục của Tú Anh. Tú Anh là con trai Nghị Hách.. Tú Anh làm mọi cách để ông bố Nghị Hách phải lấy Thị Mịch làm vợ bé, có cưới hỏi đàng hoàng.

Ðể đền bù việc Long bị mất vợ chưa cưới là Thị Mịch, Tú Anh gả Tuyết, em gái Tú Anh, cho Long. Nhân vật Khoá Hiền xuất hiện. Khóa Hiền nguyên là bạn công nhân nhà máy với Nghị Hách 20 năm xưa. Khoá Hiền bị Nghị Hách – năm xưa là Cai Hách – hãm hại bằng cách đem một số sản phẩm của nhà máy bỏ lén vào rương của Khoá Hiền, vu cho Khoá Hiền tội trộm đồ. Khoá Hiền bị bắt, đi tù. Cai Hách lấy vợ Khoá Hiền, đẻ ra đưá con trai, vợ Khoá Hiền chết. Ðứa con, là Long, được đưa vào Viện Mồ Côi. Khoá Hiền ra tù, trở thành “nhà cách mạng vô sản.” Khi Long sắp làm đám cưới với Tuyết, “Nhà cách mạng” Khoá Hiền trở lại gặp Nghị Hách, bịp Nghị Hách với chuyện dùng khoa Ðịa Lý để mồ, đề mả cho Nghị Hách, lấy của Nghị Hách khoản tiền làm “quĩ cho Ðảng.”

Cai Hách hại bạn để lấy vợ bạn, “Nhà cách mạng” Khoá Hiền cũng không hơn gì Cai Hách. Khoá Hiền ra tù, nhân năm ấy Cai Hách đi làm ăn xa, Khoá Hiền lấy vợ Nghị Hách, đẻ ra Tú Anh. Nghị Hách cứ tưởng Tú Anh là con y.

Long là con Nghị Hách, với Tuyết là anh em cùng bố khác mẹ, Tú Anh là anh cùng mẹ khác bố với Tuyết. Long lấy Tuyết làm vợ, Long thông dâm với Thị Mịch, cuối cùng Long tự tử chết.

Tôi xúc động khi đọc đoạn tả đêm mưa bão Tú Anh đưa tiễn Khoá Hiền xuống thuyền đi ra nước ngoài. Lúc này Khoá Hiền đã cho Tú Anh biết ông là bố của Tú Anh. Mời quí vị đọc đoạn truyện ấy:

GIÔNG TỐ. CHƯƠNG XXX

Qua tỉnh lỵ Quảng Yên chừng 20 cây số, xe bắt đầu chạy chậm, và cứ thẳng tiến trên con đường thuộc địa đi Tiên Yên. Những luồng gió mạnh mẽ nặng nề và những hạt mưa to ào ào hắt vào bốn bề cửa kính. Lắm lúc qua một chặng đường úng thủy bánh xe lại làm tung lên những cây nước cao ba thước ra hai bên vệ đường. Cơn giông tố phũ phàng bẻ những cành cây mục rồi để rơi dưới mặt đường ngổn ngang. Cả trời đất úng sũng, trắng xóa những nước là nước.

Ngồi bên trong cái xe hơi hòm vun vút nuốt đường, cạnh một ông già kỳ quặc mà mỗi hành vi, ngôn ngữ đều biểu hiện một sự bí mật, lại đã có chứng cớ hiển nhiên là bố mình, Tú Anh thấy mình bàng hoàng sống một giấc mộng say sưa.

Chàng đương ngồi ôm đầu trong phòng giấy nghe tiếng mưa gào, gió thét của cảnh trời sầu, đất thảm mà ôn lại tấn kịch ghê gớm dưới Hải Phòng mà tự đặt ra bao nhiêu câu hỏi về người bố đột ngột ấy thì có ba tiếng gõ cửa. Rồi ông già vào với bộ mặt thản nhiên, khó hiểu mà bảo chàng:

“Con ơi, cha đi đây! Con có muốn tiễn biệt cha thì xuống đánh xe đi với cha..”

Ấy thế rồi… cuộc hành trình. Ông già ngồi vào cầm lái xe, và lành nghề như một người đã sống vì nghề lái ô-tô hàng đã vài chục năm rồi vậy. Trong quãng đường dài từ Hà Nội qua Hải Phòng, rồi đi thẳng về mạn Móng Cáy, đà xe chạy cứ thay từ 60 đến 100 cây số một giờ, hai bố con chưa nói được câu nào với nhau. Ðã nhiều lần Tú Anh muốn hỏi, song động cơ nổ ầm ầm, lại thêm mưa gào, gió thét quanh xe, nếu có trò chuyện cũng khó nghe cho hiểu.

Trước mặt có một vệt đen sì… Nhoi lên trên vệt ấy là một cái chòi cao.. Ðồn! Xe dừng chậm ông già thay đèn pha ra đèn cốt để ung dung lẳng lặng qua đồn một cách nghiêm trang, bệ vệ, ý chừng sợ bọn lính gác nghi hoặc gì chăng. Khỏi địa phận của đồn, xe lại phóng nước đại. Ðộ mười phút sau thì trời đất mở ta một vòm bao la, bát ngát, bên trái là đồng ruộng và làng mạc, bên phải là bể, bể với hàng dẫy núi đá và những cồn cát chập chùng. Những cái bóng đen sì có hình thể của những cái roi tiên cắm ngược là những cây phi lao. Dù là giữa đêm khuya, nhờ có ánh sáng của nước mưa, người ta cũng nhìn rõ được những vật ở ngoài cái vòng ánh sáng của đèn xe. Thì ra xe đã qua khu vực Hạ Long nhiều đường đất lắm.

Tú Anh chưa dám hỏi ông bố định dắt mình đi đến đầu trời, cuối đất nào, thì ông già hãm xe. Cách ba thước trước mặt là một dẫy nhà trong đó có một tòa nhà gạch lối cổ, còn thì là những mái gianh xiêu vẹo. Trông ra xa nữa, một con đường nhỏ dắt đến một dẫy cồn đá, có một cây đa um tùm nhoi lên trên. Dưới cồn đá là bến thuyền có vài chiếc thuyền nhỏ của dân chài lưới. Chung quanh cây đa có vài quán chợ, ý chừng là chợ tôm cá của dân miền duyên hải.

Ông già cho xe quay mũi lại, để lọt hẳn vào vệ đường, rồi bảo Tú Anh bước xuống, đến đấm cửa tòa nhà gạch. Một người đàn ông vặn to đèn lên, ra mở cửa, rồi ba người cùng vào. Ðối với ông già, chủ nhân có vẻ kính cẩn đến như sợ hãi. Tú Anh thấy trên giá áo có bộ quần áo và mũ lính xen-đầm thì cũng hơi ngạc nhiên. Ðã đến lúc chàng phải hỏi:

– Thưa cha, bố con ta biệt nhau ở đây?

Ông già gật đầu:

– Phải. Một giờ đồng hồ nữa cha xuống thuyền. Hai giờ đồng hồ nữa cha đã lênh đênh giữa mặt biển. Bố con mình chỉ còn có một lúc trò chuyện mà thôi. Mà có lẽ không bao giờ.., không bao giờ cha con ta lại gặp nhau nữa!

Nói đến đây, ông già ngừng lại, nét mặt rầu rĩ, cố giữ hai giọt lệ cho khỏi chẩy xuống đôi má. Lặng lẽ, người chủ nhà lấy ở tủ áo ra, đem lại để trên bàn một bộ quần áo khách, với một gói giấy nhật trình. Gói nhỏ ấy va vào mặt bàn làm một tiếng cạch nặng nề, khiến ông già phải ngửng mặt lên. Ông đứng dậy, cởi bỏ bộ quần áo vải vàng, lấy bộ quần áo Trung Quốc mặc vào, thì trông đã ra vẻ một ông già Tầu ngay. Ông vừa thay hình, đổi dạng vừa nói:

– Cha đã muốn về ở với con một hôm, song sợ nguy hiểm đành phải để đến phút cuối cùng mới lại tìm con, và mượn xe con đi cho đúng giờ hẹn. Sở dĩ thế là bần cùng. Sáu giờ sáng mai cha lên một cù lao nhỏ thuộc Hải Nam. Rồi cha sẽ lên một chiếc tầu chở than và đá bọt của khách để đến Hương Cảng. Từ Hương Cảng cha sẽ đường hoàng lên tầu Tây mà về Thượng Hải rồi đi Lữ Thuận, đến đó thì không còn lo sợ gì nữa. Con là người hay đọc các báo chí, sách vở cực tả, hẳn nghe cha nói thế con cũng đủ hiểu cha làm những công việc gì rồi.

Ngoan ngoãn và kính cẩn, sự kiêu căng vì có người bố ấy lộ ra nét mặt, Tú Anh khẽ đáp:

– Thưa vâng.

Ông già ra mở cửa sổ, nhìn mưa gió năm phút, rồi đóng cửa quay vào, hỏi trống không:

– Không biết bọn ấy đã từ Hòn Vẹo, Cát Bà về đây đón ta chưa?

Người chủ nhà khẽ nói:

– Chắc phải theo đúng lệnh nhưng vì bão nên đến chậm.

– Cứ theo chiều gió này, mưa này, thì ta đoán có bão to ở giữa biển Trung Hoa, cách Hải Phòng độ chừng 180 hải lý. Ðến nửa đêm có lẽ gió sẽ đổi, sẽ thổi ở vĩ tuyến bắc 19 độ, và kinh tuyến đông 113 độ, ngang qua cù lao Hải Nam rồi tiến về phương tây bắc tây. Làm thế nào biết cho đích xác?

Người chủ nhà thưa:

– Bẩm để tôi ra đồn xem đài thiên văn Phú Liễn thông báo ra sao.

– Ừ.. Có thì biên vào giấy, đem về đây cho tôi, mau lên.

Người chủ nhà vội lấy cái áo đi mưa khoác vào rồi đi ngay. Khi gian phòng chỉ còn hai người, Tú Anh khẽ hỏi:

– Người lính xen-đầm này mà lại cũng là..?

Ông già gật đầu và thêm:

– Phải, anh ta chịu trách nhiệm về trình độ tiến hóa của anh em phu mỏ. Từ nay trở đi, cái đảng ấy sẽ kín hơn ngày xưa. Từ nay trở đi sẽ không có những vụ bạo động vô ích.***

– Cha về từ bao giờ?

– Ðã hai tháng. Công việc của cha là hòa giải hai đảng, điều đình cho đảng quốc gia hợp nhất với đảng quốc tế mới…, vì phái quốc gia cũ lấy tiền của Ðức với Nhật là hai đế quốc, như vậy thì là sẽ diễn cái trò hề diệt chủng tái nô mà thôi.***

Ông già ngừng lại, mở gói giấy, trong đó là một khẩu súng lục. Ông mở ổ đạn, xem xét máy móc, lại đậy lại, bỏ túi, rồi nói:

– Con có một khối óc không, con có một quả tim không?

Tú Anh đáp:

– Con cũng may mà cũng lại là người biết nghĩ, cũng có một lý tưởng…

– Quốc gia hay quốc tế?

– Thưa cha, quốc gia.

Ông bố trừng mắt mắng:

– Ðồ ngu!

Tú Anh cúi đầu chịu qưở, không đáp. Ông bố tiếp:

– Ta không được coi nước Pháp là kẻ thù mà để chịu bàn tay bí mật của phái quân nhân Nhật nó thực hiện cái chương trình Liên Á bằng những khẩu hiệu như “Á Ðông về tay người Á Ðông!” Cái chế độ của thuộc địa Pháp làm khổ dân ta là chính sách của mấy nhà tư bản, vua dầu hỏa, vua mỏ, vua ô tô, vua nhà băng, nhưng đó không phải là toàn thể nhân dân nước Pháp! Ta có thể hy vọng vào cái nước Pháp bình dân của Rousseau, Danton, Robespierre, Blum, Moutet! Rồi những người ấy sẽ có thế lực làm cho ta đỡ khổ! Mặc dầu bây giờ họ chưa có địa vị gì cả. Ta không được coi nước Pháp là kẻ thù riêng, trái lại, ta có kẻ thù chung trong bọn đồng chủng của ta, cái phái tọa hưởng kỳ thành vẫn bóc lột cái phái lao động, thí dụ thằng Nghị Hách là một. Nhưng tư tưởng quốc gia của con vừa hẹp hòi, vừa bất đạt. Phân biệt biên thùy với nòi giống là đồ ngu xuẩn, con nên đổi quan niệm đi và nên coi những người Pháp nghèo khổ là bạn thân, và bọn trọc phú A Nam là kẻ tử thù.

( .. .. .. )

Tú Anh rền rĩ nói:

– Cha ơi… Con muốn đi theo cha lắm. Con không thể sống ở cái đất này nữa. Khi cha làm cho con biết cái bí mật đời con là khác máu, tanh lòng với lão Nghị, thì con thấy đỡ nhục nhã, nhưng mà… giời ơi, còn mẹ con! Con đau khổ… Không thể..

Tú Anh lại khóc. Ông già nghiêm nghị ưỡn ngực lên, mắng:

– Nam nhi gì mà khóc lóc như đàn bà thế? Phải có can đảm, nên để tâm trí vào lý tưởng của mình thì cái khổ ấy mấy lúc mà quên? Cha đã lấy danh dự mà cam đoan với Nghị Hách rằng con sẽ ăn ở với lão như trước, lẽ nào con lại bán rẻ cái danh dự của cha đi thế! Vả lại xã hội cũng cần có những người như con. Ðã có học thức, nhân phẩm, lại có một lý tưởng mà thờ, con sẽ cố gắng làm những việc hữu ích cho dân chúng trong vòng pháp luật, thì làm gì không trở nên người hữu ích? Con nên quay về sống với xã hội như cũ, coi như trong đời con không có sự gì xẩy ra cả. Như thế là cha bằng lòng lắm rồi. Nếu con cũng như trăm nghìn kẻ khác, có tim, có óc, mà ích kỷ, mà tham sinh, úy tử, mà rồi cứu cánh là một cuộc đời trưởng giả, sống như chó, như lợn, vì kim tiền, vì ái tình, vì vật chất, vì hư danh, thì mới đáng lo cho giống nòi.

– Con xin chôn vào ruột những lời phán bảo của cha.

– Một vài năm nữa, nếu có lệnh cử cha về điều tra nước nhà lần nữa, thì cha sẽ lại đi kiếm con. Mà nếu không thì ắt là một người nào khác. Người ấy sẽ đến tìm con, nói ba câu về cha, thì con nên sẵn lòng hy sinh một chút tài sản của Nghị Hách đi, thế là được rồi, thế là cũng theo đuổi cái chí hướng của cha rồi.

– Bao giờ con lại quên được điều ấy.

– Tốt lắm. Cha vất vả lắm, con ạ. Nửa đời người tù tội rồi. Một năm tù ở nước nhà, vì Nghị Hách, ba năm tù ở Phúc Kiến, năm năm tù ở Mãn Châu, chín năm giời trốn tránh, gối đất, nằm sương…

……..

Ngoài đường hình như có tiếng người đi đến. Chủ nhà thổi ngọn đèn tắt phụt, ba người cùng mở cửa nhìn ra. Một chú khách cắm đầu chạy lại. Người chủ nhà reo:

– Thuyền đến đón rồi.

Ông già ra thềm đứng, chú khách trông thấy rõ nhờ một cái chớp nhoáng thì vội dừng lại chào theo kiểu nhà binh. Ông già giới thiệu cho con:

– Anh em đồng chí thuộc chi bộ Phúc Kiến.

Rồi ông đội mũ, khoác cái áo cao-su đen lên vai. Người lính và Tú Anh cũng mặc áo tơi vào, vì giờ xuống thuyền đã đến. Ðoạn ba người theo người khách đi thẳng ra chỗ cồn đá có cây đa.

Một chiếc hải thuyền khổng lồ có hai cánh buồm nâu, bên trên có sáu người khách nữa, đã đỗ ở chỗ có mấy mỏm đá nhỏ. Thấy ông già đến, những thủy thủ lẳng lặng chào theo kiểu nhà binh. Ông già dừng chân hỏi vài câu bằng tiếng Tàu, bọn thủy thủ líu lo đáp lại.

Ông già quay lại, dơ tay ra bắt tay con.

Tú Anh quên vũng nước dưới chân, quì xuống hôn hai tay ông bố, úp mặt vào hai bàn tay ông.

Khi thấy bàn tay mình có vài giọt lệ nóng thì Hải Vân kéo Tú Anh đứng lên, hôn hai bên má. Sau cùng, Hải Vân vỗ nhẹ vai con, nói gọn:

– Thôi, ở lại và sống cho can đảm.

Rồi ông quay đi, nhảy trên những mỏm đá mà xuống chiếc hải thuyền.

Tú Anh đứng ngây ra, mũ cụp xuống mắt, cổ áo tơi che kín cả gáy, có người lính xen-đầm kỳ quái đứng sau lưng trong bộ quần áo thường dân.

Mũi thuyền quay ra khơi. Những làn sóng vỗ vào cồn đá ầm ầm, tiếng vang như núi đổ. Mưa như trút nước. Chiếc hải thuyền nổi lên, chìm xuống, bập bềnh. Trời và bể trắng xóa như tấm vải trắng mà chiếc thuyền là một chấm đen.

Những luồng điện ngùng ngoằng chốc chốc lại hiện trên vòm trời đánh nhoáng một cái.

Tú Anh vẫn đứng. Nước mưa chui vào cổ chàng, chảy vào lưng chàng. Hai chiếc giày của chàng đã sũng những nước. Nhưng Tú Anh vẫn đứng nhìn.

Chàng định nhìn cho bao giờ không trông thấy rõ chiếc thuyền ngoài bể mới thôi.

Hết GIÔNG TỐ CHƯƠNG XXX

Với tôi, CTHÐ, Chương XXX là một chương thật hay trong Giông Tố. Trích riêng chương đó ra ta có một truyện ngắn tả cảnh chia tay của hai bố con. Ðêm mưa bão, biển động, thuyền buồm, ông bố quắc thước, anh con thư sinh.., những cảnh, những người trong cuộc làm tôi xúc động.

Giông Tố được viết năm 1936, năm ấy trận Ðại Chiến Thế Giới Thứ Hai chưa xẩy ra, quân Nhật chưa mở cuộc xâm lăng những nước Á châu nhưng quân Nhật với chiêu bài “Á Ðông của người Ðông Á” đã là mối đe dọa gây chiến tranh ở Thái Bình Dương. Tất cả những tiểu thuyết Việt Nam viết trước 1945 đều không đả động đến chuyện thời sự, chuyện chính trị, riêng Giông Tố viết chuyện người Nhật và chủ thuyết Ðại Ðông Á. “Ta không được coi nước Pháp là kẻ thù mà để cho bàn tay bí mật của phái quân nhân Nhật nó thực hiện cái chương trình Liên Á bằng những khẩu hiệu như Á Ðông về tay người Á Ðông!” Năm 1936 ở Hà Nội, nhà văn Vũ Trọng Phụng đã viết như thế trong tiểu thuyết Giông Tố. Không biết đời sống của ông sẽ ra sao, tôi muốn nói người Nhật sẽ đối xử với ông ra sao nếu ông còn sống khi quân Nhật vào Việt Nam.****

Ông già ra mở cửa sổ, nhìn mưa gió năm phút, rồi đóng cửa quay vào..” Một lần nữa, và đây là lần cuối cùng, tác giả Giông Tố để lộ cái tật “tính phút” cho những việc làm của các nhân vật trong truyện. Ở Giông Tố Chương VI ta thấy:

Quan Tổng đốc cúi xuống tập bìa vàng. Nét mặt quan luôn luôn thay đổi. Màu da lúc tái đi, lúc lại đỏ bừng lên. Sau nửa tiếng đồng hồ, quan ngẩng lên nhìn viên tri huyện, tiếng đồng sang sảng:”

Ðang tiếp tri huyện, Tổng đốc có thể đọc lướt qua hồ sơ vụ án hiếp dâm trong một hai phút, nhưng không thể để mặc cho tri huyện ngồi tễu trước mặt mà cắm cúi đọc đến “nửa tiếng đồng hồ”. Vô lý hơn nưã là ngay sau đó ta thấy:

Ông Huyện cúi đầu 15 phút rồi ngẩng lên cười nhạt nói:

“ – Bẩm cụ lớn, tôi tưởng tôi ra làm quan được thì tôi làm được một việc ích quốc, lợi dân..”

Chắc là để trả đũa anh Tổng đốc đã để mình ngồi tễu 30 phút, đang cuộc nói chuyện tay đôi anh Tri huyện “cúi đầu 15 phút..” để chơi lại anh Tổng đốc!

Ðến chương XXX lại thấy tác giả viết “Ông già ra mở cửa sổ, nhìn mưa gió năm phút..”

Trong Chương XXX tác giả cho bố con Hải Vân-Tú Anh nói với nhau về chuyện đảng phái, một đề tài tôi thấy không có trong những tác phẩm tiểu thuyết cùng thời với Giông Tố. Tất nhiên trong thời bấy giờ nhà tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng không thể viết nhiều về vấn đề đảng phái chính trị, nhưng qua vài câu trao đổi ngắn giữa hai bố con trong truyện ta có thể biết ông già Hải Vân Thầy Ðịa lý Rởm kiêm Thầy Tử vi Bịp là đảng viên Ðảng Cộng sản, Tú Anh là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Ðảng.

Và năm 1940 khi tôi còn nguyên trinh, trên những trang tiểu thuyết Giông Tố, ngoài những tiếng lạ “âm mao, đảng, cộng sản, quốc gia, quốc tế”, tôi còn thấy hai tiếng “đồng chí, chi bộ”:

Ông già ra thềm đứng, chú khách trông thấy rõ nhờ một cái chớp nhoáng thì vội đứng dừng lại chào theo kiểu nhà binh. Ông già giới thiệu cho con:

“ – Anh em đồng chí thuộc chi bộ Phúc Kiến..”

Ðây là đoạn bố con Hải Vân-Tú Anh nói với nhau về chuyện đảng phái:

Con có một khối óc không? Con có một quả tim không?

Tú Anh đáp:

– Con cũng may mà cũng là người biết nghĩ, con cũng có một lý tưởng

– Quốc gia hay quốc tế?

– Bẩm.. quốc gia.

Ông bố trừng mắt mắng:

– Ðồ ngu!

Tú Anh cúi đầu chịu qưở, không đáp.

Hải Vân, Ðảng viên Cộng sản Thầy Bói Bịp hung hăng con bọ xít chửi anh con Quốc Dân Ðảng là “ngu”. Trong tiểu thuyết Giông Tố tác giả để cho bọn đảng viên cộng sản át giọng đảng viên Việt Nam Quốc Dân Ðảng. Trong đời thực, từ những năm 1946, 1947 rồi dài dài mãi đến bây giờ bọn cộng sản Việt không những chỉ át giọng, chúng còn thẳng tay đập đầu, cắt cổ, mổ bụng những người Việt đảng viên những đảng chính trị khác.

CÔNG TỬ HÀ ÐÔNG

________________________________________________

* Những năm 1935 Ký Giả Hồng Tiêu, ông em ông Bút Trà Nguyễn Ðức Nhuận, chủ nhiệm Nhật báo Sài Gòn Mới, có bút hiệu là Nhất Chi Mai, nhưng ông Nhất Chi Mai Hồng Tiêu Sài Gòn 1935 không phải là ông Nhất Chi Mai Báo Ngày Nay, Hà Nội.

** Chuyện trong tác phẩm Cơm Thầy, Cơm Cô của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng.

*** “ Ðảng ấy..” là Ðảng Cộng sản ???

**** Theo tôi, người Nhật không giam tù Nhà Văn Vũ Trọng Phụng về tội “chống Nhật” thì năm 1946, ông cũng bị bọn Việt Minh cho đi mò tôm – như chúng đã giết các ông Khái Hưng, Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật – ngay từ năm 1935 Nhà Văn Vũ Trọng Phụng đã kết tội bọn Stalin tàn ác giết dân Nga, bọn Cộng Nga chuyên gây sự làm hại những nước khác trên thế giới.

Advertisements

3 Responses

  1. Trích:

    “… mãi đến bây giờ bọn cộng sản Việt không những chỉ át giọng, chúng còn thẳng tay đập đầu, cắt cổ, mổ bụng những người Việt đảng viên những đảng chính trị khác … ” (ngưng trích).

    Xin góp ý : không những là đảng viên những đảng phái khác bị VC tiêu diệt thẳng tay, ngay cả những người bình thường, nếu dám phát biểu chống VC cũng bị chúng cho đi “tàu suốt” không thương tiếc ! Chuyện ấy vẫn đang tiếp diễn trên quê hương trong lúc chúng ta đang đọc và viết những giòng chữ này.

  2. [Trích Công Tử Hà Đông]

    … Trình bày bộ mặt thật bẩn thỉu của con người cho con người thấy, để con người ghê tởm chính mình, để con người thấy mình bẩn thỉu, để con người tự sửa đổi cho được là người tốt hơn, ít nhất cũng làm cho con người thấy mình bẩn mà không dám huyênh hoang phét lác.., theo tôi, là một việc làm nhân đạo hơn, tốt hơn, có ích hơn, so với việc viết ra những tiểu thuyết trong đó các nhân vật đều trong sạch, đều sống đẹp, nhưng đó là những con người không có thật, những truyện tình thơ mộng nhưng không thể có thật ở đời. Tôi dành quyền bạn lựa chọn: trong hai cách viết ấy, giữa hai loại tiểu thuyết ấy, cách viết nào, loại tiểu thuyết nào có giá trị hơn, đáng quí hơn?

    [Ngưng trích]

    Có lẽ cách viết tiểu thuyết của nhà văn Vũ Trọng Phụng gây ép-phê hơn, gần gũi với bản chất xấu xa của con người hơn!! Cuốn tiểu thuyết “The Ugly American” (Người Mỹ Xấu Xí) của hai tác giả Eugene Burdick và William Lederer viết về những thói hư, tật xấu của người Mỹ, sau khi xuất bản năm 1958 đã trở thành best seller và được quay thành phim (Marlon Brando đóng).

    Sau đó, nghe nói có một ông người Nhật lấy ý này viết cuốn truyện “The Ugly Japanese” trong thời gian ông ta làm đại sứ. Cũng nghe nói, xuất bản xong cuốn truyện này, ông đại sứ được chính phủ Nhật cho nghỉ hưu non … để có nhiều thì giờ viết truyện “bêu” dân Nhật hơn?

    Gần đây nhất là nhà báo Bá Dương (Po Yang), chuyên viết tạp văn (chú thích: viết về đủ thể loại chứ không phải viết tạp nhạp) cho một tờ báo ở Đài Bắc, lọc ra từ những bài viết trên báo của ông rồi xuất bản cuốn “The Ugly Chinaman” được bà con độc giả ủng hộ quá chời! Ông Bá Dương sưu tầm tất cả những cái xấu, cái dở của con cháu ông Bành Tổ rồi nhét vào cuốn sách này, từ những thói quen thường ngày như ở bẩn, khạc nhổ bừa bãi, ăn nói ồn ào nơi công cộng cho đến những tính nhỏ mọn, chia rẽ, ganh ghét, hãm hại … người khác, đều được ông Bá Dương cho vào một cái hũ mà ông ta gọi là “hũ tương Trung quốc”. Nghe nói nhờ những việc làm này ông Bá Dương được chính phủ Đài loan mời đi nghỉ mát dài hạn, thưởng thức cơm canh nhà nước trong 9 năm trời! Ra tù, ông Bá Dương lại càng nổi tiếng hơn, ông được mời đi diễn thuyết khắp năm châu, bốn bể. Sở dĩ ông Bá Dương được bà con Tàu khoái vì họ biết ông ta có tấm lòng đối với người Trung quốc, ông phô bày ra cái hũ tương để bà con Tàu cải thiện, học hỏi những thói hay tật tốt của người Tây phương, chứ không phải để bôi bác, bêu riếu. Nhưng số người chống đối, chửi rủa ông Bá Dương cũng không phải là ít!

    Nếu VN có ông, hay bà nào đó viết một cuốn Người Việt Xấu Xí thì chắc cũng ăn khách lắm chứ! Đề tài chẳng phải tìm kiếm đâu xa, cứ lôi đầu mấy tên đầu nậu việt cộng thời xưa và thời nay ra, mỗi tên chỉ cần viết vài chương là thành một cuốn truyện dầy, tên đầu sỏ “già râu” phải nằm ở chương Một!!

  3. @ bác namphục : viết về người Việt xấu xí, nhất là người còn ở VN, chắc chắn sẽ đơn giản hon ngươì Mỹ, người táu, người Nhật … nhiều !

    Bởi người Việt trong nước hiện nay, từ già đến trẻ, từ bắc đến nam, thượng vàng hạ cám gì đi nữa cũng chỉ có hai giai tầng rõ rệt : kẻ ăn cướp va người bị cướp.

    Kẻ ăn cướp mang một thương hiệu vô cùng đắc thế, không thể lầm vaò đâu được : đảng viên đảng cs.

    Người bị cướp là ai ? Xin thưa : Bất kỳ ai được bọn cướp gọi là “nhân dân” !

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: