• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Còn Tình Đâu Nữa 2010…!

Trong trận đấu Banh Tròn Thế Giới năm 2010, có hai đội banh của Hàn Quốc tham dự: Ðội Banh Nam Hàn và Ðội Banh Bắc Hàn.

Thấy người trạnh nghĩ đến ta: năm 1945 khi kết thúc Trận Thế Chiến, có hai nước bị chia đôi: Ðức quốc và Hàn quốc. Từ đấy trên thế giới có 4 nước Ðông Ðức, Tây Ðức, Nam Hàn, Bắc Hàn.

Năm 1954 thêm nước thứ ba bị chia cắt làm hai: nước Việt Nam. Từ đó trên thế giới có Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam.

Lời Cám Ơn Năm 2010

Tôi không biết rõ xong cứ theo cái biết có thể không đúng của tôi thì những nước bị chia đôi – như Ðức, Hàn, Việt Nam – không được có đại biểu – hay có tư cách hội viên – trong Liên Hiệp Quốc. Tôi cũng không biết trước năm 1954 nước Việt Nam có đại sứ đại biểu trong Liên Hiệp Quốc hay không, hay Việt Nam “được, bị” Pháp quốc đại diện “cho” trong Liên Hiệp Quốc. Tôi biết từ năm 1956 Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà chỉ có đại diện ở Liên Hiệp Quốc. Vị đại diện này chỉ được dự thính những phiên họp của Liên Hiệp Quốc, không có tư cách hội viên, không có quyền quyết định, quyền bầu cử. Dường như trong thời gian ông Trần Văn Chương làm Ðại sứ Việt Nam Cộng Hoà ở Hoa Kỳ, bà Trần Văn Chương là đại diện Quốc Gia VNCH ở Liên Hiệp Quốc. Vị Ðại Diện Quốc Gia VNCH cuối cùng ở Liên Hiệp Quốc là ông Phạm Huy Ty, ông đã qua đời ở Virginia, USA.

Thời gian qua.. Kết thúc cuộc Chiến Tranh Lạnh, Khối Cộng tan rã, Ðông Ðức, tên thứ hai là Ðức Cộng, đổ theo Nga Cộng, Quốc Gia Nam Hàn, tự xưng là Hàn Quốc, đứng vững, Nam Việt Nam tiêu vong!

Tháng Sáu 2010, nhìn thấy hai đội banh tròn Bắc Hàn, Nam Hàn cùng đến World Cup, tôi bùi ngùi nhớ đến đất nước bị tiêu vong của tôi. Thế rồi trên Nhật Báo The Washington Post có nguyên một trang những người Hàn ngỏ lời cám ơn những người Mỹ:

THANK YOU
United States of America
60 YEARS OF COMMITMENT
60 YEARS OF FRIENDSHIP

The years 2010 marks the 60th Anniversary of the Outbreak of The Korean War.

The Peace, Prosperity and Liberties that we cherish today are built on your selfless sacrifices and contributions.

Korea is forever indebted and we will continue to build the trust and frienship between our nations.

REPUBLIC OF KOREA

Phỏng dịch:

CÁM ƠN
Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ
60 năm liên kết
60 năm thân hữu

Năm 2010 là Năm Kỷ Niệm thứ 60 Ngày Bùng Nổ cuộc Chiến tranh Cao Ly.

Nền Hoà Bình, Sự Thịnh Vượng và những Tự Do chúng tôi được hưởng hôm nay là do những hy sinh bất vị kỷ và những đóng góp của các vị.

Cao Ly mãi mãi mang nợ và chúng tôi sẽ tiếp tục xây dựng Sự Tin Cẩn và Tình Bạn giữa hai đất nước chúng ta.

CỘNG HÒA CAO LY.

o O o

Còn TÌNH đâu nữa ...!

Trông Hàn lại nghĩ đến Ta..

Cảm khái cách gì!

Dân tộc tôi không được may mắn như dân Cao Ly. Những năm 2000, nhìn ảnh những người Cựu Quân Nhân Mỹ trở lại Việt Nam, cụng ly nhậu, ôm eo ếch, cười toe với những người lính Bắc Việt Cộng, tôi cay đắng nghĩ:

“Còn Tình đâu nữa..!”

Dân tộc tôi có số phận bi thảm như dân Tây Tạng.

Trong lịch sử dân Cao Ly và dân An Nam có số phận giống nhau: đất nước của hai giống dân này cùng ở sát nách nước Tầu. Ngày xưa người Tầu xâm chiếm nước Cao Ly, đặt là một phủ của nước Tầu “An Ðông Ðô Hộ Phủ,” người Tầu xâm chiếm nước Nam, gọi là “An Nam Ðô Hộ Phủ.” Cuối Thế Kỷ 19, Triều Ðại Mãn Thanh nước Tầu suy yếu, Thực Dân Pháp vào chiếm nuớc An Nam, người Nhật qua biển sang chiếm nước Cao Ly. Hai dân tộc từng bị dân Hán đàn áp, tiêu diệt trong cả ngàn năm, cùng rên siết vì bị ngoại nhân chiếm nước, bị ngoại nhân chặt chém, hành hạ, giam tù trong những năm 1900. Ðến năm 1945 khi Chiến Tranh Thế Giới kết thúc, dân Cao Ly được độc lập nhưng đất nước Cao Ly bị cắt làm hai. Dân An Nam cực khổ hơn, vất vả hơn, từ năm 1940 chịu quốc nạn, chịu bom đạn liên miên, đến năm 1954 bị cắt làm hai, đến năm 1975 bị Bắc Cộng Sản chiếm trọn miền Nam Việt.

Những đêm buồn ở xứ người, đọc những trang Kiến Văn Tiểu Lục của ông Lê Quí Ðôn, ghi chuyện sứ bộ nước Nam và sứ bộ nước Cao Ly gặp nhau ở kinh đô Tầu, các ông thân mật với nhau, dùng bút viết chữ Hán nói chuyện với nhau, tôi thấy đó là chuyện tự nhiên: sứ giả của hai nước nhỏ đến triều cống Thiên triều Ba Tầu, tất có cái tinh thần gọi là “tự teo mặc cảm” nên thông cảm nhau, thương nhau.

Mời quí vị đọc những trang ngày xưa – năm 1760 – ông Lê Quí Ðôn viết về cuộc Sứ Bộ An Nam gặp những vị trong Sứ Bộ Cao Ly ở kinh đô nước Tầu:

Kiến Văn Tiểu Lục. Lê Quí Ðôn.

Muà đông năm Canh Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng, (1760. CTHÐ viết thêm) tôi cùng ông Trần Huy Bật và ông Trịnh Xuân Thụ, phụng mệnh sang sứ Trung Quốc. Khi đến Yên Kinh vừa đúng Ngày 30 Tết, chúng tôi gặp các vị trong sứ bộ nước Cao Ly là các ông Hồng Khải Hy, Triệu Vĩnh Tiến, Lý Huy Trung ở Quán Hồng Lô. Hai bên vái chào nhau, cùng ngồi nói chuyện bằng bút, cuộc nói chuyện rất thân mật. Sau đó chúng tôi về quán riêng. Sứ Thần Triều Tiên cho hai vị thiếu khanh mang phẩm vật bản xứ đến tặng chúng tôi. Sang năm mới lại cho con trai các ông là Hồng Tân Hối, Triệu Quang Qui, Lý Thương Phương đến quán chào chúng tôi và chúc năm mới. Chúng tôi ở Yên Kinh hai tháng, thư từ hai bên qua lại khá nhiều, có nhiều thư lời lẽ đáng ghi. Như thư của Sứ Thần Cao Ly gửi chúng tôi đêm Trừ tịch, có đoạn:

“Nhân giở bản đồ, biết có quí quốc, hai nước chúng ta Ðông Nam xa cách, thế mà được cùng hội họp nơi Hồng Lô Quán; việc thật ngoài ý tưởng tượng. Sau khi chia tay, nhận được lá thư quí báu của Ngài. Mở đọc, thấy tình ý trịnh trọng, tôi xiết nỗi trân cảm. Những muốn đến ngay nơi cao các để được diện kiến Ngài lần nưã, ngặt vì bận công việc. Tôi không được gặp Ngài, thật là sự đáng buồn, đáng giận. Nay có thứ quạt giấy này là sản phẩm nước tôi, kính dâng Ngài, gọi là tỏ ý kính mộ; tặng phẩm như tấm the nước Ngô, cuốn lụa nước Sở, quá đỗi tầm thường, xin Ngài cười mà nhận cho.”

Thư gửi cho chúng tôi Ngày Mồng Một Tết:

“Nhận được thư Ngài phúc đáp, tôi đọc lại nhiều lần. Mới hay một khi tinh thần đã gặp thì dù nước Yên với nước Việt cũng không lấy gì làm xa. Chúng tôi từ nước chúng tôi đến đây chẳng qua chỉ 3.000 dặm đường, thế mà trước cảnh đất khách gặp xuân sang, lòng ngẩn ngơ nỗi nhà, tình nước. Huống chi các ngài, qua non, vượt biển, đi hàng tháng, hàng năm mới tới nơi đây thì trước cảnh xuân này, các vị trông về cố quốc, nén lòng sao nổi.

“Tôi vẫn muốn đến tôn quán, mượn ngòi bút hỏi về văn hiến phương Nam. Song vì bận việc công nên chưa đến được. Thực là ở ngay bên nhau mà không được gặp nhau, đáng giận, đáng giận.

Phẩm vật quí báu các ngài ban cho, chúng tôi xin vâng lĩnh và trân trọng cảm tạ.”

Thư của Quan Thượng Thư họ Hồng gửi đến Quan Chánh Sứ họ Trần có đoạn:

“Chốn lữ thứ vẫn mang lòng ngưỡng vọng không lúc nào nguôi. Bài thơ Ngài gửi cho thắm vẻ thịnh tình. Rửa tay sạch mới dám mở thơ ra đọc. Cảm thấy răng và miệng tự phát ra mùi hương thơm. Tôi lúc trẻ cũng có tập về thơ văn, đến nay tuổi già, tinh thần hoang phế đã lâu. Bỗng được ban Thơ Tiên, chẳng khác chi có khúc sáo thần thổi vào hang đá lạnh. Xin có bài thơ nhỏ này kính đáp, để tỏ tình xa nhau muôn dặm mà gần nhau như trước mặt.”

Thư các ông trong Sứ Bộ gửi cho tôi có bài tiểu dẫn:

“Thơ Tiên đến tay, như đêm tối có luồng sáng. Thơ Ngài ban cho, tứ sâu dài, văn điệu tươi đẹp, khiến người đọc đi, đọc lại trăm lần không chán, chẳng khác chi người nghèo được viên ngọc bích. Tôi vốn lười về Luật Thơ, chẳng thế mà đường đi 3.000 dặm tôi không làm được bài thơ nào. Nay được Ngài có thịnh ý ban tặng Thơ, không lẽ để cô phụ thịnh tình, bèn quên vụng về, kinh gửi bài nối điêu này, chắc sẽ bị các vị dưới trướng Ngài cười cho.”

Thư của vị Sứ thần họ Trịnh có đoạn:

“Dưới ngọn đèn lẻ loi nơi đất khách, cứ ngâm nga mãi Thơ của Tiết Ðạo Hạnh, Châu Cao Thục, đang buồn hiu bỗng nhận được Thơ Tiên. Mở tờ hoa tiên ra thưởng thức, như người được trăm lạng vàng. Nay xin bắt chước nhăn mày, có bài thơ xoàng kính đáp.”

Thư của ông Chánh Sứ họ Trần có đoạn:

“Chúng ta bút mực qua lại, lòng đã hiểu lòng, không còn có thể nói nhà gần mà người xa. Còn như mai đây bèo hợp, mây tan, việc đó chẳng cần để ý. Tôi bân việc công không kịp huy động cán bút lạnh, nên họạ thơ Ngài có điều hơi chậm. Thực là một đằng thông minh, một đằng ngu độn, đúng là hơn nhau ngàn trùng.

“Cổ nhân ví văn thơ đến mức tuyệt vời như Tương Linh gẩy đàn sắt trên sông mùa thu, gẩy trọn khúc mà những người nghe tiếng đàn không trông thấy người gẩy đàn. Nay Tôn ông đem nét bút hư không miêu tả ra một áng văn thần, ban cho tôi mà không ngại phí phạm. Tôi đọc đi, đọc lại, thấy như là phép Phật phảng phất trong lúc nhập định. Vẫn biết văn Huyền Án không thể trọng bằng phú Tam Ðô, khúc Hạ Lý khó lòng sánh với khúc Dương Xuân. Song không dám cô phụ tấm thịnh ý, xin kính hiến bài thơ thô mọn này, mong Tôn ông cười mà nhận cho, chúng tôi rất lấy làm hân hạnh.”

Thư của ông Lý Học-sĩ trong Sứ Bộ Cao Ly gửi chung cho ba chúng tôi có lời dẫn:

“Mỗi người một phương mà giao tình thân mật, đâu phải chuyện tầm thường. Ðược gặp các vị rồi trở về nằm nơi quán rỗng, khắc khoải ngày đêm. May được chư Tôn ông hạ cố, ban cho những bài thơ thần. Chúng tôi được nghe lời vàng ngọc phương Nam, thực là một cuộc kỳ ngộ ở nơi đất khách bên trời. Ngâm vịnh xong chúng tôi sẽ đem Thơ về phương Ðông, cất vào hộp, vào cháp. Song thiết nghĩ có xướng mà không có hoạ là việc có sự thiếu sót. Vậy xin gửi các Ngài thư này, lời vắn, ý dài, kính ghi tình bạn thần giao.”

Ngưng trích Kiến Văn Tiểu Lục.

Quí vị vưà đọc mấy đoạn Văn Áo Thụng Vái Nhau. Tôi thấy các vị trong Sứ Bộ Cao Ly, Sứ Bộ An Nam, có quyền mặc áo thụng vái nhau vì các vị đều là những nhà khoa bảng, thi đỗ, được Vua ban áo mũ. Áo của các vị là áo thụng, tay áo rộng lùng thùng. Nghe nói những năm 1980 trong giới văn nghệ sĩ Việt lưu vong ở Kỳ Hoa có một số ông làm cái việc xưng tụng nhau theo kiểu áo thụng vái nhau.

Áo thụng vái nhau” ở Kỳ Hoa là một đề tài khác.

o O o

Tôi gọi ông Nguyễn Thượng Hiền là người Việt Nam Yêu Nước Thứ Nhất làm cuộc lưu đầy tự nguyện bỏ nước đi sống và chết ở nước người. Khoảng năm 1920 ông sống trong một ngôi chùa ở Hàng Châu, ông viết một bài bằng chữ Hán, đăng trên báo Tầu, kể tâm sự của ông. Trong bài này ông Nghè Nguyễn kể chuyện ông gặp một ông người Cao Ly lưu vong, hai ông nói chuyện về tình cảnh dân Cao Ly bị Nhật áp bức, dân An Nam bị Pháp đô hộ.

Nguyễn Thượng Hiền. Bài viết Giọt Lệ Biển Dâu. Trích:

Tôi là người Việt Nam đi khỏi nước đã 6 năm nay, những công việc mưu tính để làm trăm việc chẳng được một, mình gầy, mặt võ, ngửa mặt lên trời hỏi Trời, Trời chẳng trả lời cho, cúi đầu xuống đất kêu Ðất, Ðất không thèm nói với. Một mình trơ trọi trong khoảng mênh mông, bốn bề hiu quạnh, bực bội tôi đi khắp nơi, mong tìm xem có ai là người thân thế cũng giống như mình để kết làm bạn, kể lể cùng nhau những niềm uất hận. Mãi sau tôi mới gặp được một người nước Hàn là ông Man. Một hôm chúng tôi lên ngọn núi nhỏ, lấy cỏ làm chiếu, lấy máu làm rượu, lấy mật làm thức ăn, đua gươm mà nói chuyện, cùng thổ lộ cho nhau biết những nỗi cay đắng trong lòng.

Ông Man nói với tôi:

“Chúng ta mỗi người ở một nước, tiếng nói, y phục khác nhau, nhưng tình cảnh thì giống nhau: chúng ta cùng là người mất nước. Than ôi..! Ông Nguyễn ..! Cái thảm họa mất nước ông với tôi đều phải chịu, nhưng nuớc Hàn tôi đối với giống người Lùn vì hai nước Hàn Nhật quá gần nên chúng tôi bị áp lực nặng và cực khổ hơn các ông nhiều. Chúng tôi như người già yếu phải sống cùng chỗ với bọn cường bạo, không kể nắng mưa, ngày đêm, lúc nào chúng cũng có thể tra khảo chúng tôi để lấy của, đâm chém, giày vò chúng tôi cho đến chết. Còn như nước ông, nghe nói bị người Pháp chiếm nhưng nước Pháp ở xa mà nước Pháp lại giầu, chắc họ không làm hại, làm khổ nước ông, dân ông quá lắm!”

Tôi nói với ông:

“Chao ôi..! Ông còn cho nước tôi, dân tôi là may mắn hay sao? Tiếc rằng ông chưa đặt chân đến nước tôi lần nào nên ông không biết đấy. Ở đời bao giờ có giống hổ dữ mà không ăn thịt người, có con chim non bị diều hâu bắt mà xương thịt còn toàn vẹn. Núi Hương Sơn của chúng tôi cao chừng bao thì xương của dân nước tôi cao như thế; sông Nhị Hà nước tôi dòng nước cuồn cuộn chừng nào thì máu dân nước tôi chẩy nhiều như thế. Tình cảnh ấy ông chưa biết đấy.”

Ông Man nói:

“Những việc hung tàn của người Pháp làm ở nước ông xưa nay tôi chưa được nghe ai nói. Xin ông kể, tôi lắng nghe.”

Ngưng trích.

Chuyện ông Lê Quí Ðôn và các ông Sứ Thần Cao Ly áo thụng vái nhau xẩy ra năm 1760..

Chuyện ông Nguyễn Thượng Hiền và ông người Hàn lưu vong thương khóc dân nước ở trên đất Tầu xẩy ra năm 1920..

Ðây là chuyện gần hơn, xẩy ra năm 1964 ở Sài Gòn. Chuyện do người anh em cùng vợ với tôi là H2T kể:

H2T: Khoảng năm giờ một buổi chiều, với tư cách phóng viên nhà báo tôi lên phi trường Tân Sơn Nhất xem cuộc tiễn Bộ Truởng QP Robert McNamara về Mỹ. Khi ấy nhật báo Sàigònmới đã bị đóng cửa, tôi dạt sang làm tờ nhật báo Ngày Nay của anh Hiếu Chân.

Những tháng giữa năm 1964, tình hình Sài Gòn còn rất an ninh, thường dân ra vào phi trường Tân Sơn Nhất tự do, đường ra vào không một trạm kiểm soát. Một trung đội binh sĩ Nhẩy Dù dàn chào, một bục gỗ được dựng lên trước toà nhà phi cảng, người đến dự khoảng một trăm mạng. Bộ Trưởng McNamara đến cùng với TT. Nguyễn Khánh. Ông Khánh bận đồ Dù, tay cầm cây gậy chỉ huy, BT McNamara không mặc com-lê mà mặc veston hàng tweed khác mầu với quần, ông đeo kính trắng gọng vàng, tóc có brillantine chải rẽ ngôi ở giữa đầu. Năm ấy ông ngoài bốn mươi tuổi.

Hai ông đứng bên nhau trên bục, ông Khánh nói vài câu, ông McNamara đọc một tuyên cáo ngắn, đại khái nói hai bên Mỹ Việt đã thảo luận và đã đồng ý với nhau về nhiều vấn đề, mọi chuyện đều tốt.

Ðọc xong bản tuyên cáo, ông McNamara nắm tay ông Khánh, vừa giơ lên vừa hô:

“Việt Nam muôn năm..!”

Ông hô ba câu “Việt Nam muôn năm!

Buổi chiều nắng vàng mùa hạ năm 1964 ở trước toà nhà phi cảng Tân Sơn Nhất, Sài Gòn, Việt Nam, buổi sáng đầu thu nắng vàng năm 2000 ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Ðốn, Hoa Kỳ..! Bốn mươi năm đã trôi qua cuộc đời. Tôi thấy lại hình ảnh ông Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara 40 năm xưa khi ông nắm tay ông Nguyễn Khánh giơ lên với tiếng ông hô “Việt Nam muôn năm..!”

Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ hô “Việt Nam muôn năm..!” Tốt thôi. Nhưng… Buồn thay! Lời chúc lành không đi đến đâu! Mười một năm sau buổi chiều Bộ Trưởng Robert McNamara hô “Việt Nam muôn năm” ở phi trường Tân Sơn Nhất, một chiếc phi cơ do Nga Sô chế tạo bay từ Hà Nội đến, đổ xuống phi trường Tân Sơn Nhất bọn đầu xỏ Việt Cộng: Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, Phạm Hùng, Tố Hữu…

o O o

Dân Việt liên kết với Mỹ lâu, chặt, nặng hơn bất cứ giống dân nào trên thế giới.

Nhưng thương thay, Cuộc Tình Mỹ Việt chỉ có thủy mà không có chung. Thù thì không hẳn là Thù nhưng Tình thì sau năm 1975 Mỹ Việt.. .. còn Tình đâu nưã!

Tôi không còn có thể “cảm khái cách gì” mà tôi buồn quá chời, quá đất.

Tôi chấm dzứt ở đây.

Advertisements

7 Responses

  1. Người Mỹ “tuy phản bội” và “hết tình”, nhưng họ vẫn còn “nghĩa” với những dân tộc mà họ nặng nợ vì những dân tộc này đã giúp cho hững quốc sách của họ được thành công . Sự hiện diện của những người đến Mỹ để tỵ nạn CS từ khắp nơi trên thế giới là một bằng chứng.

    Chúng ta còn ngồi đây hưởng trợ cấp và tiếp tục phê bình họ này nọ chẳng qua vì chúng ta đã quên hai điều hệ trọng. Đó là dù tổng thống và chính quyền Mỹ có xuất thân từ đảng phái nào đi nữa, người Mỹ lúc nào cũng đặt quyền lợi đất nước lên trên. Những sách lược của họ vì thế phải liên tục thay đổi để thích ứng với tình thế và nhất là, để đạt được mục đích. Và, dù những sách lược đó có lúc hoàn toàn trái ngược nhau làm cho những đồng minh đôi khi trở thành nạn nhân của họ, họ vẫn có dư lòng nhân đạo để đón tiếp và dung dưỡng những nạn nhân ấy, trong số đó có chúng ta.

    Chúng ta ngồi đây rung đùi hưởng trợ cấp từ đồng tiền thuế họ thu được của người Mỹ , rồi lại phê phán, chê bai họ đủ điều. Hai điều đó đều là những hành động xem qua thật là chướng tai, gai mắt, nhưng thật ra hoàn toàn hợp pháp, nghĩa là chúng ta có quyền làm những điều này mà vẫn cảm thấy an nin năm chăm phần chăm, không hề bị luật pháp cấm đoán hoặc sách nhiễu.

    Thử hỏi, công dân của những nước đang nằm dưới sự thống trị của CS có dám mơ tưởng đến những quyền lợi và được tự do như chúng ta đang hưởng không ?

    Sau khi chế độ CS Đông Âu sụp đổ, chỉ có một đảng viên CS phải tháo chạy lấy mạng là Eric Honecker, Tổng Bí thư đảng CS Đông Đức. Hắn trốn chạy vì bàn tay đã vấy quá nhiều máu của chính đồng bào hắn. Danh giá đường đường là vậy, nhưng có nước nào trong những nước CS còn lại, kể cả Liên Xô, Trung Quốc, Cuba mở rộng tay ra đón hắn ? Tuyệt nhiên là chẳng có ma nào cả ! Tình đồng chí, hữu nghị, “um hun thắm thít” của các nước CS “anh em” lúc cả bọn thay phiên nhau đi chém giết chính đồng bào mình và đi “giải phóng” những nước khác, nay không còn một chút mảy may sót lại để dung chấp nhau ! Cuối cùng thì hắn cũng được Argentina chứa chấp trước khi bị dẫn độ về Đức để ra toà. Về đến cố quốc, người ta thấy hắn bịnh hoạn gần chết nên hắn được mìễn tố, đáp lại những truy tố cay nghiệt đến ba đời mà hắn đã tròng vào cổ nhân dân Đông Đức thời hắn còn lộng hành !

    Những đảng viên còn lại, và những thường dân của thế giới CS có ai phải trốn chạy như Honecker không ? Tuyệt đối là không ! Thường dân thì vốn đã là nạn nhân của chế độ, họ mừng vì chế độ sụp đổ và quyết tâm ở lại để xây dựng đất nước. Còn các đảng viên CS thì dư biết là họ sẽ không bị trả thù dưới bất kỳ hình thức nào, chay lăng xăng như chó dái làm chi cho mất công ! Không lẽ chạy qua VN, TQ, Bắc Hàn hoặc Cuba để tỵ nạn ? Mấy nước này còn không đủ cơm nuôi dân họ, hơi đâu đi nuôi báo cô bọn bại trận, “bọn đầu hàng chủ nghĩa tư bản ” ?

    Xin phép được phát biểu ngược ý Bố Già, là người Mỹ tuy ăn ở không có “tình” , họ không “um hun thắm thít” ai cả, nhưng xét ra họ ăn ở cũng có nghĩa, có trước, có sau, thế gian này không có nước nào sánh bằng !

    Chính vì vậy, tôi dám nói là tôi có thể xé bỏ hộ chiếu của nước CHXHCN VN mà chẳng hề nuối tiếc, nhưng tôi sẽ không tiếc cả mạng sống mình để giữ hộ chiếu Mỹ. là nước đã mở rộng vòng tay bao dung tôi và hàng triêu đồng bào VN của tôi. Điều đó thật ra cũng chỉ là một việc làm công bằng, có đi có lại mà thôi !

  2. Trích : …” tôi có thể xé bỏ hộ chiếu của nước CHXHCN VN mà chẳng hề nuối tiếc, nhưng tôi sẽ không tiếc cả mạng sống mình để giữ hộ chiếu Mỹ. là nước đã mở rộng vòng tay bao dung tôi và hàng triêu đồng bào VN của tôi” … (ngưng trích).

    Chí tình và chí lý lắm !

    • Phải chi chúng ta còn hộ chiếu của VNCH nhỉ ? TT Nguyễn Văn Thiệu nói : ” Đất nước còn, tất cả còn. Đất nước mất, mất tất cả !”. Quả là một lời tiên tri và cũng là chân lý ngàn đời cho mọi dân tộc !

      Xin chào mừng Lễ Độc Lập (quốc khánh) Hoa Kỳ July 4 và thắp một nén hương lòng tưởng nhớ quê hương VNCH.

  3. Cảm ơn bác Vô Tư. Bác nói đúng ,sống sao cho có nghĩa ,không phải ai cũng làm được. Cảm ơn Hoa Kỳ và thế giới Tự Do đã cho chúng ta chốn dung thân.

  4. Quá sức hay và chí lý. Happy 4th of July. Kính mời tất cả bà con cô bác xem phim Ho Chi Minh: the man and the myth [Hồ Chí Minh: con người và huyến thoại] do linh mục Nguyễn Hữu Lễ thực hiện. Ông đã có công sưu tập, phỏng vấn và tập họp rất nhiều tư liệu và phỏng vấn các nhà nghiên cứu về Hồ Chí Minh trên toàn thế giới nhằm lật tẩy và phơi bày bộ mặt thật của Hồ Chí Minh, một tên phản dân tộc và làm hại đất nước.

    Ho Chi Minh: The man and the myth- Hồ Chí Minh: con người và huyền thoại

    http://phivu56.wordpress.com/2010/07/03/ho-chi-minh-the-man-and-the-myth-h%E1%BB%93-chi-minh-con-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-va-huy%E1%BB%81n-tho%E1%BA%A1i/

  5. ” Chúng ta còn ngồi đây hưởng trợ cấp và tiếp tục phê bình nầy nọ chẳng qua là vì chúng ta đã quên hai điều hệ trọng.. .”

    ” Chúng ta ngồi đây rung đùi hưởng trợ cấp từ đồng tiền thuế họ thu được của người Mỹ rồi lại chê bai họ đủ điều… ”

    ” … Họ ăn ở có trước ,có sau, thế gian này không có nước nào sánh bằng …”

    ” Chính vì vậy tôi dám nói là tôi có thể xé bỏ hộ chiếu của nước CHXHCNVN mà chẳng hề nuối tiếc… ”

    Giang Anh tôi xin có vài nhời bàn loạn về mấy điều cao siêu trên đây của ông ( hay bà ) Vô Tư.

    Nhờ ông Vô Tư không ” quên hai điều hệ trọng”, lên lớp giảng cho người Tị Nạn, tôi được dịp ôn lại sự việc cách đây hơn 20 năm, tôi đã ” rung đùi ” như thế nào, khi ” ngồi hưởng trợ cấp từ tiền thuế ” của người Mỹ !

    Biết dzồi! khổ nhắm !! ơi cái đồng tiền thuế của người Mỹ, nghe luôn đã đầy lỗ tai, thòi ra lỗ mũi !!! Này, nhưng cái ” đồng tiền thuế ” này hình như cũng có tí ti phần của mấy anh Tị Nạn đấy, phải không quý cụ ? Như cái thằng Tị nạn hạng bét, Trâu chậm là tôi đây, được ” rung đùi ” tám tháng trợ cấp, mỗi tháng hai trăm hai choạc, thơm quá là thơm ! Nhưng hơn 20 năm qua, tôi đã đóng vào tiền thuế ” của người Mỹ ” gấp trăm lần, nếu không phải là cả ngàn lần số tiền tôi đã ” rung đùi ngồi hưởng “, nói chi tới số tiền thuế các quý vị liền anh, liền chị, đã nhanh chân sang Mỹ , đi ” cày ” trước tôi rất lâu ! Mà nào chỉ có đóng thuế. Người Tị Nạn đã đóng góp đủ thứ, kể cả máu xương cho sự an ninh của đất nước này ! Không tin , hãy cứ…đọc báo mà coi !
    Xin ông Vô Tư đừng nổi nóng, giảng dạy: ” Này, anh Tị Nạn hạng bét, các anh rung đùi hưởng nhiều, chứ các anh mới đóng góp tí ti, đã ăn thua quái gì, đừng có ngoác miệng kể công “. Dạ, em không dám, chúng em, số người đã it, lại dốt nát nghèo nàn, có vi thiềng đóng góp tí ti, nói lép nhép để đàn anh không quên đó thôi, bố bảo em cũng đâu dám kể công.

    Ơi các khứa lão Tị Nạn, không biết các vị đã ” rung đùi hưởng trợ cấp rồi lại chê bai họ đủ điều ” ra sao, chứ riêng bỉ nhân đây thì chỉ có ” run đùi “. Cái đùi nó ” run ” quá, vì suốt ngày nó phải bương trải trên mọi nẻo đường để ” săn ” Job. Có Job rồi, nó lại còn run hơn, vì nó phải chống đỡ cái thân hình ọp ẹp của chủ nó, khi chủ lau nhà, rửa chén, tắm rửa, săn sóc các cụ Mỹ tám giờ mỗi ngày, trong các Nursing Home. Nó còn run hơn nữa khi chủ bị xếp gọi lên bua rô, ngọt ngào dạy dỗ, hay báo tin lay ôp ! Kể ra run mấy chục năm liền như thế cũng hơi nhiều và khá mệt. Tuy ” rung ” và ” run ” có hơi giống nhau, nhưng tôi vẫn hy vọng hai thứ đó không bị…vô tư xếp chung một loại !

    Nhưng nói chung, người Tị Nạn nào lại không hàm ơn kẻ đã dang tay đón tiếp, nuôi nấng mình. Nghĩ tới những kẻ gọi là đồng bào, đồng chủng mà còn ra tay bắn giết, bỏ tù, áp bức mình và căm hận bao nhiêu, thì lại cảm kích, hàm ơn người đã cứu vớt minh bấy nhiêu.
    Người tị nạn nào cũng vậy. Tị nạn ỏ Pháp, ở Canada, ở Úc, ỏ Nhật, ở Na Uy, Thụy Điển… đều như thế cả. Chẳng cần có ông bà nào lên lớp dậy moral, người Tị Nạn vưỡn cứ suốt đời mình, tới con cháu mình, nhớ ơn cái đất nước đã bao dung nuôi nấng mình.

    Xế xì…sao lại còn có sự than thở buồn thương chi đó đang ngậm ngùi rỉ máu trong các con tim tị nạn ?

    Theo ngu ý, ông Vô Tư trong khi hăng say giảng moral, ông có ” quên ” một điều ! ( theo ý ông, thì đám bần dân chúng ta quên tới HAI điều lận ! ).Cái điều ông Vô Tư ” quên ” là nước Mỹ không phải chỉ là MỘT NGƯỜI, hay chí it, chỉ là một nhóm người đồng nhất về mọi mặt. Thật ra nước quái nào cũng vậy thôi, nhưng chúng ta đang bàn chuyện Mỹ mà ! Vì coi nước Mỹ như một người, hay một nhóm người đồng nhất, cho nên nhất thiết Mỹ là đẹp, Mỹ là tốt, không làm gì có Mỹ xấu. Mỹ đẹp và hay ở mọi chỗ, mọi nơi, mọi thời đại ! Ông Vô Tư cũng áp dụng một cách rất đặc biệt bình dân : khi muốn hạ một kẻ nào, ta cứ cột cho nó một cái tội, rồi ta tấn công vào chỗ đó. Mày không ghét Mỹ, nhưng ông cứ cột mày vào cái tội ” chê bai Mỹ đủ điều “, rồi nhiên hậu, ông mói giảng moral cho mày sáng mắt ra !

    Nay xin tiếp tục cái vụ quên, nhớ của ông Vô Tư. Vì ông Vô Tư quên rằng Mỹ không phải là một người, cho nên ông không nhớ rằng có Mỹ Xấu và có Mỹ Tốt ! Thật đấy chứ ! Có Mỹ tốt và Mỹ xấu đấy , ông ạ. ! Mỹ nào dang tay đón tiếp ta, nuôi nấng ta, Mỹ nào phàn nàn ” sao chúng nó không chết tiệt nhanh đi cho rảnh “, Mỹ nào nguyền rủa người tị nạn ” sao chúng nó không sưng phổi mà chết hết đi cho bớt nợ ! Nhưng trong sự hàm ơn vĩ đại nhân dân Mỹ, người Tị Nạn ngậm ngùi quên đi những sỉ nhục đó. Người Mỹ da đen ngày nay có đủ thứ quyền như Mỹ trắng. Từ thân phận nô lệ như súc vật, họ đã vươn lên thành người Mỹ đúng nghĩa; Tất nhiên , họ biết ơn những người Mỹ tiến bộ, đã không tiếc máu xương, tiến hành cả một cuộc chiến khốc liệt để bước đầu giải phóng họ. Nhưng có ai giảng moral, bắt họ phải hàm ơn cả những kẻ chủ trương kìm giữ họ trong chế độ nô lệ, thì chắc họ cho kẻ ấy là điên.

    Người Mỹ ăn ở ” có trước, có sau, trên thế gian này không có nước nào sánh bằng “; nhưng cũng có những người Mỹ không có trước sau gì ráo! Người Mỹ nào đã hết lòng ủng hộ Tỗng Thống Ngô Đình Diệm
    và Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam ? Người Mỹ nào đã ra lệnh đảo chánh và sát hại man rợ anh em Tổng thống, giành lấy quyền điều khiển đất nước ta qua tay bọn tướng tá phản dân hại nước ? Người Mỹ nào có trước, người Mỹ nào có sau ?.Tại sao có người lãnh đạo của Á châu cho rằng ” làm bạn với Mỹ rất nguy hiểm ” ?

    Robert F. Turner, một sĩ quan Hoa Kỳ làm việc tại cơ quan JUSPAO ở Việt Nam từ 1968 tới 1975, kể lại rằng hồi cuối tháng 4-1975, đại sứ Graham Martin có lần đã kéo ông vào phòng, đóng kín cửa,rồi trút cơn thịnh nộ bằng cách la hét, kết án các nhà lãnh đạo ở Washington khi hành sủ hèn nhát, trút bỏ trách nhiệm trước sự xâm lăng của Việt Cộng. Turner chứng kiến cảnh đau lòng của một người phải bất lực trước tai ương đồng loại, đã luôn coi đai sứ Martin như một người anh hùng hiếm hoi của nước Mỹ. Turner, sau này là giảng sư tiến sĩ luật tại Đại Học Virginia .Ông cũng là một trong các người sáng lập Trung Tâm Luật An Ninh Quốc Gia, và giữ nhiều vai trò tại Bộ Quốc Phòng, Ủy ban Ngoại Giao Thượng Viện, tòa Bạch ốc. Ông bày tỏ ước vọng có thể quên đi những hình ảnh ông chứng kiến vào tháng tư 1975. Những hình ảnh đó khắc sâu trong ký ức, khiến cho ông không kìm nổi nước mắt mỗi khi nhìn thấy mốt sinh viên Việt Nam, thậm chí một sinh viên Á Châu. Thời gian không thể xóa nhòa nhiều cảnh đau lòng trong cơn hỗn loạn mịt mù, cảnh những bậc cha mẹ quỳ lạy bất kỳ ai có thể giúp con ho rời Việt Nam trước khi Cộng sản tới; cảnh những đứa bé mồ côi ngơ ngác vì bị bỏ rơi, cảnh hàng triệu người vất bỏ mọi thứ để tháo chạy trong trăm ngàn hung hiểm. Đến nay, 2010, Turner thú nhận không thể nào quên : ” Chuyện ấy không sảy ra, và tôi biết là tôi sẽ đem những hình ảnh đó theo xuống đáy mồ ”

    Robert F Turner tất nhiên là một người Mỹ tốt. Người Mỹ tốt này không thể chịu đựng được lời lẽ và hành vi của những anh Mỹ xấu, Mỹ hèn. Dưới mắt Turner, nhũng kẻ đó không bao giờ chối bỏ được trách nhiệm đã tiếp tay cộng sản, tàn sát hàng triệu sinh linh vô tội, xô môt dân tộc vào địa ngục và làm tủi hổ 58.196 vong linh người Mỹ đã hy sinh cho một lý tưởng cao đẹp.. Turner nói về bọn Mỹ xấu như sau : ” Nếu còn một chút công lý, thì như John Kerry, Ted Kennedy, J, William Fulbright, Frank Church, Clifford Case và một lũ khác nữa, phải mục nát dưới địa ngục ”

    Đấy là Mỹ chính hiệu nói về Mỹ chính gốc đấy nhé ! Không phải lời những anh Tị Nạn mũi tẹt ” ngồi đây rung đùi hưởng trợ cấp từ tiền thuế, rồi chê bai đủ điều ” đâu nhé !

    Một gen- tơ -lơ -men Mỹ chính hiệu là ngài Thượng Nghị Sĩ James Webb của tiểu bang Virginia, trước kia từng là Bộ Trưởng Hải Quân Huê Kỳ, lại nói :

    ” Biết giải thích sao với các con tôi rằng khi tôi ở tuổi mười tám đôi mươi, tiếng nói ồn ào nhất của nhiều người cùng thời, lại nhằm phá nát nền tảng xã hội Mỹ, để tạo dựng một xã hội theo quan điểm đầy tự mãn của họ. Lúc này nhìn lại, chính chúng ta từng trải qua thời kỳ ấy, vẫn không hiểu nổi tại sao những kẻ có trình độ học vấn cao, phần đông sinh ra từ giới thượng lưu, lại gieo rắc các tư tưởng phá hoại, đầu độc bầu không khí từ thập niên 1960 tới đầu thập niên 1970. ”
    Còn vô số nhũng người Mỹ tốt, ăn ở có trước có sau, không ai sánh bằng, nói về những anh Mỹ không trước, chẳng sau, quên nhân, bất nghĩa, sức nào mà chép ra đây cho nổi !

    Mỹ giỏi, Mỹ tài, Mỹ đóng thuế nuôi ta… ta ngưỡng mộ và cám ơn họ hết kiếp này cho đến kiếp sau. Thôi thì để đẹp lòng mọi người, chúng ta nên cám ơn cả nhửng người Mỹ chẳng có trước, không có sau, chẳng có tình cũng luôn bất nghĩa. Có thứ Mỹ đó chứ , phải không quý cụ ? Thì Mỹ nó cũng nói vậy nữa mà !

    Ôi ! chuyện chiến tranh Việt Nam, chuyện Tị Nạn, nói đến kiếp nào cho hết, bút mực nào nói cho ra lẽ ! Người Tị nạn Việt nhỏ lệ thương nhau không hết, mừng thân mình thoát kiếp tù ngục ngưa, trâu, nhưng nghĩ lại hơn 80 triệu sinh linh đang quằn quại trong đó có thân nhân của mình, lòng sao khỏi bồi hồi, đâu phải là ” chê bai này nọ ” người Mỹ ân nhân của mình.

    Chợt nhớ chuyện xưa, thời Tam Quốc, có anh con của Lưu Bị, vô tài, làm mất nước, bị Tư Mã Chiêu bắt về Lạc Dương, mắng vào mặt rằng : ” Ông hoang dâm vô đạo, bỏ người hiền, hỏng chính sự, lẽ nên giết mới phải “. Hình như người ta kêu anh vua mất nước này là Hậu Chủ. Anh Hậu Chủ nghe vua phán như thế, thì xám mặt, van xin lia lịa. Nhưng cáo già Tư Mã Chiêu chỉ muốn dơ cao đánh khẽ, đã tha anh Hậu chủ; lại còn cho bày tuồng múa hát tuồng nước Ngụy. Các quan nước Thục đi tòng vong theo anh Hậu Chủ, thảy đều rơi lệ, thương về nước cũ. Riêng anh Hậu chủ, được cơm no, rượu say, đựơc coi múa hát, thì…rung đùi, vui cười hớn hở như không có chuyện chi phải ” phê bình này nọ ” hay nhớ tới đám lê dân mất nước vì mình. ! Thương cho anh Hậu chủ ngày xưa và thương cho cái thằng tôi bây giờ quá !

    Còn cái việc ông Vô Tư dám nói là có thể xé bỏ cái hộ chiếu Vi Xi của CHXHCNVN thì tôi cho đó là một hành vi cực kỳ can đảm, chắc không người tị nạn nào ” dám ” nói là có thể làm như thế !

    • Tại sao bác “dám” bươi móc bài của tôi, “dám” chê bai tôi là không biết phân biệt “Mỹ tốt, Mỹ xấu”, lại mỉa mai bêu rếu tôi về chuyện “dám” xé bỏ hộ chiếu của VC …

      Hà hà, nói đùa thế thôi. Bác đã bỏ thì giờ viết một bài dài như thế, sao tôi lại “dám” coi thường ?

      Những gì tôi viết là những suy tư tự đáy lòng mình, có gì nói nấy, có đụng chạm người này nguời kia cũng là ngoài ý muốn ! Tuy nhiên, tôi xin cảm ơn và ghi nhận những chỉ giáo cuả bác. Chúc bác vui, khỏe.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: