• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Giữa Hai Dòng Nước (Lời Mở Đầu)

Ðây là Truyện Sáng Tác của tôi. Lê Xuyên đọc truyện này, nói với tôi:

Ông sài phí cốt truyện quá. Truyện này phải là một truyện dài.”

Truyện ngắn đăng trên tuần báo VĂN NGHỆ TIỀN PHONG, Sài Gòn năm 1965

Năm 1965 – hai năm sau ngày Nhật báo Sàigònmới, Nhật báo Ngôn Luận bị đóng cửa, chính phủ Ngô Ðình Diệm bị lật đổ – đời sống kinh tế của tôi đi vào chu kỳ đen như mõm chó. Từ năm 1957 đến Tháng Tư năm 1964 – 7 năm – tôi là nhân viên Nhật báo Sàigònmới, tôi viết tiểu thuyết trên Nhật báo Ngôn Luận, Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, Tuần báo Phụ Nữ Ngày Mai, Ðiện Ảnh, Kịch Ảnh. Ðây là thời gian phong độ nhất của đời tôi. Mỗi tháng tôi có khoản tiền 20.000 đồng. Cuộc đảo chính năm 1963 xẩy ra. Hai tờ nhật báo chính của tôi – Sàigònmới, Ngôn Luận – bị Nguyễn Khánh- Ðỗ Mậu đóng cửa, vì cái tội bị cáo buộc ngang xương “cấu kết với nhà Ngô.”

Sàigònmới, Ngôn Luận bị đóng cửa, tôi bị lao đao nhưng chưa sao, chưa đến nỗi nào. Tôi dạt sang làm trong toà soạn Nhật báo Ngày Nay của anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Ðược chừng năm, sáu tháng, cuối năm 1964 Nhật báo Ngày Nay chết, báo tự đình bản. Một số ông có tiền góp lại chừng một, hai triệu đồng, giao cho ông Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, ông Vũ Khắc Khoan làm tờ Nhật báo Ngày Nay. Ông Nguyễn Hoạt chủ nhiệm, ông Vũ Khắc Khoan chủ bút. Hai ông cùng không biết làm nhật báo. Ngày Nay lỗ dài dài, lỗ đến hết vốn. Mấy ông bỏ tiền thấy tờ báo như cái thùng không đáy, không dại mà bỏ tiền ra nữa. Ngày Nay chết queo.

Nhật báo Ngày Nay chết, tôi thực sự lao đao. Ðang kiếm được 20.000 đồng mỗi tháng, số tiền tôi kiếm được tụt dần đến chỉ còn khoảng 3.000 đồng. Vợ chồng tôi lâm vào cảnh túng bấn. Nhật báo Ngôn Luận bị đóng cưả, tất cả nhân viên tòa soạn Ngôn Luận bị thất nghiệp. Chủ nhiệm Hồ Anh đóng cửa nằm nhà, bỏ mặc ký giả tòa soạn đói dzài, đói dzẹt. Nhật báo Chính Luận do ông Ðặng Văn Sung làm chủ nhiệm ra đời. Toàn bộ nhân viên toà soạn Ngôn Luận, theo Tổng Thư Ký Toà soạn Từ Chung, sang làm tờ Chính Luận. Chính Luận, thay thế Ngôn Luận. Chính Luận có bề thế hơn, có giá hơn, hay hơn, có nhiều độc giả hơn. Bị mất Ngôn Luận, ông Hồ Anh còn tờ tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong. Năm 1965, ông ra tờ nhật báo Thời Thế. Cũng nhật báo nhưng dường như Chủ nhiệm Hồ Anh không muốn phô trương, hay ông không có điều kiện làm nhật báo Thời Thế thành tờ báo lớn có thể cạnh tranh với báo Chính Luận, thay thế cho nhật báo Ngôn Luận của ông. Nhật báo Thời Thế ở chung với tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong trong toà soạn-nhà in Ngôn Luận, đường Lê Lai. Toà soạn nhật báo Thời Thế năm 1965 chỉ có hai nhân viên thường trực: Ký giả Lê Xuyên – Chú Tư Cầu – làm thư ký toà soạn, ký giả Trần Quân – bút hiện Sức Voi – phụ tá.

Năm 1965 vợ chồng tôi về ở Xóm Chuồng Bò, xóm nhà cạnh bến xe đi Ðà Lạt đầu đường Petrus Ký. Chúng tôi phải chi cho căn nhà nhỏ đó khoảng 1.200 đồng một tháng. Tôi viết truyện “Giữa Hai Dòng Nước” trong căn nhà Xóm Chuồng Bò đó. Cần tiền, tôi viết mau mau cho xong, viết trong một ngày, đem đến Văn Nghệ Tiền Phong, lấy ngay 500 đồng. Khi báo in ra, Lê Xuyên có tờ Văn Nghệ Tiền Phong, anh đọc “Giữa Hai Dòng Nước” và nói:

Ông sài phí cốt truyện quá. Truyện này phải là một truyện dài.”

Năm 1953 tôi là Lính Ðệ Nhất Ðại Ðội Võ Trang Tuyên Truyền, Phòng Năm, Bộ Tổng Tham Mưu. Tiểu đội của tôi phải ra đảo Phú Quốc phục vụ 6 tháng. Ðảo Phú Quốc năm 1952-1953 có Trại Tù Binh do quân đội Pháp để lại, trại tù ở cuối đảo, nơi gọi là Mũi Cây Dưà. Giải đất nhô ra biển nên chỉ có ba mặt, hai mặt là biển, một mặt đi vào đảo. Trại quân giữ trại tù đóng chặn ngay trên phần đất đi vào đảo. Trại Tù Binh gồm 4 trại riêng, giam giữ đến 10.000 người. Toàn đàn ông. Tất cả những người bị tù ở đây đều bị quân Pháp bắt ở những mặt trận miền Bắc, quân Pháp coi họ là tù binh, nhưng trong số có nhiều nông dân bị bắt oan, quân đội Pháp đưa họ từ miền Bắc vào tận Phú Quốc, giam giữ họ cho đến ngày hết chiến tranh. Người Pháp gọi loại tù này là “Fin des Hostilités.” Những chuyện về đảo Phú Quốc tôi kể trong Giữa Hai Dòng Nước là những chuyện tôi nghe được trong thời gian tôi là Lính ở đảo Phú Quốc.

Tôi sống trên đảo Phú Quốc năm 1953, năm 1965 tôi viết Giữa Hai Dòng Nước ở Sài Gòn; tôi viết những dòng chữ quí vị đang đọc đây năm 2010 ở Kỳ Hoa Ðất Trích.

Advertisements

One Response

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: