• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Sư Quốc, Sư Cộng

Làng báo Sài Gòn từ năm 1960 đến năm 1975 có một người viết truyện phơi-ơ-tông – tiểu thuyết dài đăng nơi trang trong tờ báo – nổi tiếng là Nhà Văn An Khê Nguyễn Bính Thinh. Ông là tác giả tiểu thuyết “Hai Chuyến Xe Hoa” từng được làm thành phim những năm 1960, đạo diễn Hoàng Anh Tuấn, diễn viên Thanh Nga-Thành Ðược.

Ðường Sư Cộng Thiện Chiếu ở Sài Gòn sau năm 1975, con đường nhỏ nằm giữa đường Phan Thanh Giản của Ta Xưa và đuờng Ngô Thời Nhiệm. Hai ông Lê Ngô Cát, Phạm Ðình Toại là hai văn thần triều Nguyễn theo lệnh Vua, soạn lại và khắc in tác phẩm Truyện Thơ Nôm Lịch Sử “Thiên Nam Ngữ Lục”.

Năm 1975 Người Viết Tiểu Thuyết An Khê bị kẹt lại ở Sài Gòn, đến những năm 1986, 1987 ông và gia đình ông mới đi được sang Pháp. Cùng làm nghề viết truyện cho báo, tôi có quen biết Người Viết Truyện An Khê nhưng không được thân với ông. Ông viết tiểu thuyết phơi-ơ-tông nhà nghề nhưng không ăn chơi, nhậu nhẹt, la cà cà phê đấu hót như đa số những ông cùng nghề Thợ Viết Phơi-ơ-tông với ông. Nghe nói trước năm 1954 có thời gian ông là sĩ quan trong quân đội Pháp ở Việt Nam, ông từng dự trận đánh lớn ở Ðèo An Khê trên đường Pleku- Qui Nhơn, đúng hơn là Ðèo Mang Yang. Trong trận này ông bị trúng đạn vào cánh tay trái nên ông lấy bút hiệu An Khê. Còn may cho ông là tay ông không bị gẫy vì trúng đạn. Tôi có nhìn thấy vết sẹo dài trên cánh tay trái của ông. Tôi chắc vì ông là cựu quân nhân quân đội Pháp nên sau Ngày 30 Tháng Tư 1975 ông được chính phủ Pháp lãnh sang Pháp.

Trong những năm 1965, 1967 có thời người viết tiểu thuyết An Khê làm chủ nhiệm Nhật báo Miền Tây toà soạn đặt ở Cần Thơ.

Có thể nói tất cả những tiểu thuyết của tác giả An Khê đều thuộc loại “có hậu,” người tốt dù gặp nạn nhưng sau cùng cũng thoát nạn, kẻ xấu bao giờ cũng bị trừng phạt, người gây tội phải đền tội, những người yêu nhau qua bao gian khổ, chia ly, hiểu lầm cuối cùng đều thành vợ chồng. Tác giả An Khê viết nhiều, viết khoẻ, viết đều. Trong 15 năm từ 1960 đến 1975 ông viết tới 50 bộ truyện dành để đăng báo hàng ngày, loại truyện làng báo Sài Gòn gọi là “tiểu thuyết phơi-ơ-tông.”

Năm 1990 ở Pháp, Nhà văn An Khê viết Hồi Ký “Từ Khám Lớn tới Côn Ðảo” kể lại cuộc tù đày vì chống Thực Dân Pháp của ông những năm từ 1940 đến 1945. Hồi ký chỉ có 230 trang nhưng thật xúc tích, chân thực, hấp dẫn. Tôi đọc “Từ Khám Lớn đến Côn Ðảo” năm 2000, tất nhiên là đọc ở Kỳ Hoa, tôi ngạc nhiên thấy trong Hồi ký, tác giả An Khê có một bút pháp và một ngôn ngữ khác hẳn với bút pháp và ngôn ngữ ông dùng năm xưa trong những tiểu thuyết đăng nhật báo của ông. Trong Hồi ký “Từ Khám Lớn đến Côn Ðảo” có nhiều đoạn kể chuyện dí dỏm, có duyên mà đắng cay, làm người đọc vừa muốn cười, vừa muốn khóc. Vì từng là người tù, từng biết cảnh sống trong tù ngục, lại được biết tác giả, tôi cảm khái khi đọc “Từ Khám Lớn đến Côn Ðảo” của An Khê Nguyễn Bính Thinh.

Trong bài này tôi trích đoạn Người Tù An Khê gặp hai Nhà Sư trong Khám Lớn Sài Gòn. “Khám Lớn” trong Hồi ký An Khê là nhà tù cũ ở đường Gia Long, Sài Gòn, nhà tù này bị phá năm 1953. Hai vị Sư Tù là Nhà Sư Quốc Gia Thích Tâm Chiếu và Nhà Sư Cộng sản Viên Chiếu.

Sư Thiện Chiếu. Trích trong “Từ Ðiển Tác Giả Việt Nam” của Nguyễn Quang Thắng, xuất bản ở Sài Gòn năm 1990.

Danh tăng, nhà cải cách Phật Giáo, tục danh là Nguyễn Văn Tài, người Gò Công. Sinh năm 1898, mất năm 1974. Vào Ðảng Cộng sản năm 1940, bị Pháp bắt năm 1942, sau thời gian tù ở Khám Lớn Sài Gòn – thời ấy Khám Tù Sài Gòn ở đường Lagandière, sau năm 1946 là đường Gia Long – bị đày ra Côn Ðảo khoảng năm 1944. Tháng Chín năm 1945 một số tù nhân Côn Ðảo được đón về Sài Gòn, cùng về đất liền với Sư Thiện Chiếu có Lê Duẩn, Phạm Hùng, Hà Huy Giáp.

Về nước Sư Thiện Chiếu hoạt động trong khu Việt Minh ở Nam Bộ, tập kết ra Bắc năm 1954, từng viết sách về Phật Giáo, từng viết báo tranh luận với Nhà Văn Phan Khôi, Sư mất ở Hà Nội năm 1974.

Ngưng trích “Từ Ðiển.”

Nhà sư Thiện Chiếu từng có thời làm một thứ Ðại diện Cộng Sản Bắc Việt ở Bắc kinh. Ðây là chuyện Nhà Văn An Khê Nguyễn Bính Thinh viết về Người Tù Nhà Sư Cộng Sản Thiện Chiếu, và Người Tù Nhà Sư Quốc Gia Tâm Chiếu trong:

Từ Khám Lớn đến Côn Ðảo. Hồi ký của An Khê Nguyễn Bính Thinh, viết ở Pháp năm 1990, Nhà Làng Văn xuất bản ở Canada năm 1993.

Từ Khám Lớn đến Côn Ðảo. Trích:

Nhân kỳ nằm khám còng lần đầu vì bại một bên chân và tiểu ra đỏ như máu, tôi gặp và biết hiểu về hai nhà sư trẻ cùng là can phạm chính trị.

Nhà sư không thích thân cận với ai là Sư Thiện Chiếu, nhà sư Cộng sản. Lúc ấy Sư là cặp-rằng khám còng, Sư sống riêng biệt, không thích hòa hợp với các bạn tù chung khám. Khám nhỏ và chật vì đông người, mọi người đều chịu phận nằm ép mắm, song Sư Thiện Chiếu thì không, Sư chiếm chỗ rộng ờ đầu dẫy còng, nằm thẳng lưng ngủ.*

Anh em phân bì, Sư nói:

“Ðó là tại mấy anh ngu, không biết tranh đấu! Tôi ở đây trước các anh, tôi nằm rộng chỗ quen rồi. Tại các anh bịnh nhiều, xuống đây đông quá. Các anh phải tranh đấu đòi Xếp khám giam các anh ở phòng khác rộng hơn.. Mình là tù nhưng phải biết quyền lợi của mình thể nào. Tại sao Xếp khám ép các anh nằm quá chật mà các anh cứ chịu?”

Nhà Sư Thiện Chiếu trẻ, đẹp trai, hoạt bát. Sư mê chủ nghĩa Cộng sản, Sư cho rằng chỉ có Cộng sản mới thực hiện được thế giới đại đồng, Sư coi thế giới đại đồng là Niết Bàn, Cực Lạc ngay tại thế gian này.

Thường khi sau bữa cơm, Sư nằm phưỡn bụng, thao thao nói về đạo pháp của Sư, về những chuyện năm châu, bốn bể, mỗi chuyện Sư đều nói thấu đáo, rành rẽ.

Mỗi buổi sáng, tôi được mở còng đi lên phòng y tá chích thuốc. Có buổi tôi nhặt được vài mẩu tàn thuốc lá đem về phòng. Sư Thiện Chiếu thấy, nói:

“Nhặt làm gì cho chúng nó khinh.”

Tôi nói:

“Chúng giam nhốt ta, tước bỏ của ta đủ thứ, đẩy chúng ta vào chỗ thiếu thốn và thèm đủ thứ. Tôi nhặt mẩu thuốc ai vứt bên đường, có thằng thông cảm, có thằng khinh, nhưng tôi không khinh tôi. Tôi nhặt mẩu tàn thuốc không phải để tôi hút mà để anh em hút. Tôi có hút thuốc đâu. Nhưng thấy vẻ khoan khoái vì chút khói thuốc của anh em tôi thấy vui. Trong tù có nhiều người làm nhiều việc đáng khinh hơn là việc nhặt tàn thuốc.”

Sư Cộng sản cười, nói:

“Vào tù mà không biết bỏ đi những thói quen bên ngoài, chỉ thêm khổ nhục thôi. Như tôi đây, có bao giờ tôi thèm nhặt tàn thuốc.”

Nằm kế bên tôi là Nhà Sư không Cộng sản – Sư Tâm Chiếu – Sư cất tiếng cười khẩy:

“Ðạo huynh không nhặt tàn thuốc vì đạo huynh ôm kè kè bịch thuốc lá và gói quà căn-tin bên người, có bao giờ đạo huynh cho ai món gì đâu. Cả khám không thuốc hút, một mình đạo huynh nằm gác tréo chân hút thuốc phì phà, mặc anh em ngáp trật quai hàm. Trong khám có người nứt lở mình mẩy, sưng chân tay, không ăn được cá mắm, đạo huynh có thịt chà bông, có tóp mỡ, có đường tán, đạo huynh có cho ai chút nào? Ðạo huynh tự xưng là người tiến bộ, người Cộng sản, sao cứ giữ bo bo vật tư riêng?”

Sư Thiện Chiếu hay nói và nói nhiều song nhứt thiết đừng ai động tới của riêng của Sư, hai món chính là kẹo, bánh Sư mua ở căn-tin và bịch thuốc lá. Tiền của tín đồ ở Thủ Ðức, Hốc Môn đóng góp gửi vào tù cho “thầy” mua đồ ăn bồi dưỡng tấm thân “hoằng pháp” của “thầy.” Ðem của bá tánh gom góp cho mình chia cho người khác, lòng “thầy” sao nỡ. Bị chê là chỉ biết mình, “thầy” cãi rất hăng, cãi văng bọt mép, cãi trật đường rầy, cãi bất kể trái phải. “Thầy” cãi để giữ của tư hữu của “thầy.” “Thầy” nói nếu “thầy” lấy của riêng của “thầy” chia cho bọn tù chúng tôi là “thầy” làm “trái chủ nghĩa Cộng sản.”

“Thầy” dậy:

“Cộng sản là gom của riêng làm của chung rồi phân chia công bằng, nhưng quyết không nuôi bọn ăn bám, sống nhờ chùm gởi.”

“Thầy” hỏi chúng tôi:

“Các anh chỉ có cái quần rách và cái chiếu rệp, các anh đóng góp được cái gì làm của chung mà đòi chia kẹo cốm với thuốc lá của người khác?”

Về sau – sau 1975 – nhân đọc một tài liệu của Bắc Việt, tôi thấy có Thượng Toạ Thiện Chiếu được kể là một vị lãnh đạo cao cấp của Phật Giáo, không biết vị Thượng Tọa Thiện Chiếu ấy có phải là Sư Thiện Chiếu từng ngồi tù khám lớn Sài Gòn những năm 1940 với chúng tôi không!

Chống đối Thiện Chiếu, nhà sư Cộng sản mà Tư bản có nhà sư Châu Tâm Chiếu, Sư người Bạc Liêu, tu trong một ngôi chùa ở Vĩnh Hội, Sài Gòn, Sư bị bắt vì tội quốc sự. Sư Tâm Chiếu nhỏ người, ốm yếu, tay chân lỏng khỏng, đặc biệt người có nhiều lông. Theo Tướng pháp thì Sư có Hầu tướng, tướng Khỉ. Sư vụng về, ăn nói lôi thôi. Bọn cai tù hay nạt Sư khi chúng nghe Sư nói: “Im đi, thằng khỉ!” Quả thật Sư có nhiều nét giống khỉ, hai tay Sư dài quá đầu gối. Sư tu theo phái Ðầu đà, tức thầy chùa mà để tóc. Tôi thưở nhỏ hay đọc truyện Tàu, thấy nhiều Sư Ðầu đà là sư hổ mang nên lúc mới gặp nhau trong phòng tù, tôi không có mấy cảm tình với Sư Tâm Chiếu.

So với Sư Thiện Chiếu, Sư Tâm Chiếu như con chim cú cạnh con chim phượng hoàng. Một người thanh lịch, điển trai, một người cục mịch, thô lỗ. Một người nói thanh thoát, nhẹ nhàng hấp dẫn người nghe, một người nói cụt ngủn, nhạt nhẽo chẳng ai muốn nghe. Ở lâu bên nhau, tôi thấy tôi đã nghĩ sai về Sư Tâm Chiếu, tôi nhớ lại lời khuyên “Ðừng xem mặt mà đoán lòng người.” Lời khuyên quá đúng trong trường hợp Sư Tâm Chiếu.

Một hôm, hai nhà Sư Tù tranh luận về Phật pháp. Bàn về cái Tâm, Sư Tâm Chiếu tỏ ra hoạt bát khác hẳn những lúc thường, Sư không thua, không nhường Sư Thiện Chiếu một điểm lý luận nào. Hai ông Sư đều uyên bác. Thưở ấy tôi chưa biết gì về Phật giáo, song nghe hai nhà Sư tranh luận suốt mấy tiếng đồng hồ, tôi thấy Sư Tâm Chiếu lắm phen dồn Sư Thiện Chiếu vào ngõ bí làm Sư Thiện Chiếu phải dùng lời ngụy biện, cãi buớng.

Sư Tâm Chiếu có thuật xem chỉ tay đoán việc, Sư thường xem cho anh em trong khám. Sư Thiện Chiếu bĩu môi, cho đấy là trò dị đoan, mê tín rẻ tiền. Trong khám tù chẳng thiếu chi người biết xem tướng số, tử vi, chỉ tay. Khi có người anh em nào sắp ra toà, họ thường tự động đến xem chỉ tay, xem tướng, xem tử vi, đoán may rủi với ý định nâng đỡ tinh thần người bạn tù sắp ra toà lãnh án.

Một hôm Sư Tâm Chiếu xem chỉ tay tôi, Sư nói:

“Anh nghĩ anh bị tù nặng, nhưng không nặng chi lắm đâu. Anh đừng sợ. Anh tù năm năm là cùng.”

Lúc ấy, tôi không tin gì ở tài xem chỉ tay đoán vận số của Sư Tâm Chiếu, nhưng nghe Sư nói vậy tôi thấy đỡ khổ trong lòng. Trước khi ra toà, tôi có viết một bức thư gửi cho viên Chánh Thẩm Tòa Án Binh Pháp ở Sài Gòn, nhìn nhận mọi việc đều do tôi gây ra, nếu Toà kết tội, xin kết tội một mình tôi, tha cho những người bạn đồng hương của tôi. Do đó nhiều anh em tù nghĩ là tôi sẽ bị kết án nặng. Tôi cũng nghĩ vậy, song Sư Tâm Chiếu quả quyết là án của tôi sẽ không nặng lắm. Sư nói tôi nhẹ án “nhờ âm phước của ông bà.” Sư chỉ vào một đường chỉ tay của tôi mà nói:

“Mồ mả ông bà anh nằm kế bên một cảnh chùa. Chuà có giếng nước, giếng ấy có mạch nước ngầm rất tốt chẩy vào mồ ông bà anh.”

Trong tù, nghe nhà Sư nhìn đường chỉ tay của tôi mà nói như vậy, tôi nhớ là bên cạnh khu đất “thổ mộ” – khu đất dùng để chôn người trong họ – của gia đình tôi ở làng quê, có một sở thờ phượng trống vắng, thường đóng kín cửa mà năm xưa tôi tưởng đó là một cái đình hay miếu. Và quả thật gần bên mộ ông bà tôi có cái giếng nước. Nhiều trưa mùa hè năm xưa tôi thường cùng mấy đưá bạn đồng tuổi, vào khu này trèo cây hái soài xanh ăn quẹt nước mắm đường tán, rồi múc nước giếng lên uống. Tôi không biết tại sao Sư Tâm Chiếu chỉ nhìn đường chỉ tay trong lòng bàn tay tôi mà biết bên mộ ông bà tôi ở tít làng quê xa có cảnh chuà và cái giếng nước.

Sư Tâm Chiếu nói thêm:

“Chùa đó thờ Quan Thế Âm Bồ Tát. Ðời anh nhờ Phật Bà phù hộ nên nhiều lần anh gặp nguy tuởng chết đến nơi mà rồi lại thoát.”

Nghe Sư nói tôi bán tín, bán nghi, không biết căn cứ vào đâu mà nhà sư nói đúng như thế. Tôi cũng biêt sơ về khoa tướng số, và từng nhiều người coi tướng, đoán số cho tôi, song tôi chưa thấy ai nói về mồ mả ông bà tôi rõ và đúng như Sư Tâm Chiếu.

Ra Toà Án Binh, tôi lãnh án 5 năm tù, 10 năm biệt xứ. Với án ấy, khi hết án tù, người tù bị chỉ định nơi về sống cho đến hết án biệt xứ mới được trở về nguyên quán. Nếu không có gì xảy ra tôi có thể sẽ phải chịu án biệt xứ ở Côn Ðảo, nghĩa là sau 5 năm tù, tôi sẽ phải sống 10 năm nữa ở Côn Ðảo, sống như người dân ở đấy. Nhưng theo lời tiên đoán của Sư Tâm Chiếu, tôi sẽ chỉ phải ở tù lâu nhất là 5 năm.

Ban đầu tôi cho lời Sư Tâm Chiếu nói là để nâng đỡ tinh thần tôi, cho tôi đừng quá sợ, đừng tuyệt vọng mà sống, nhưng thời gian qua, tất cả những lời Sư nói về đời tôi đều đúng. Ra Côn đảo tôi xém chết mấy lần. Tháng Ba năm 1945, Nhật đảo chánh Pháp, tôi được trở về nước.

Sau năm 1975 có lần tôi được về tỉnh nhà, tôi đến viếng lậy mồ mả ông bà tôi thì thấy khu đất “thổ mộ” của gia đình tôi đã bị cắt làm hai, một nửa dùng làm nghĩa trang quân đội VC, nửa còn lại có nhiều người đến cất nhà, song khu có mồ ông bà tôi vẫn còn đó. Tôi ghé vào thăm cảnh chùa thấy đúng là chùa thờ Quan Thế Âm Bồ Tát.

Ðến năm 1983, Nhà Nước Cộng Sản ra lệnh dân chúng phải đào mồ, cuốc mả ông bà, cha mẹ trong khu đó mang đi nơi khác, tôi mới thấy rõ lời nói 40 năm trước của Sư Tâm Chiến về nơi chôn ông bà tôi là quá đúng.

Năm ấy tôi bị bịnh tê thấp nặng, đi lại khó khăn, tôi không thể ngồi xe đò từ Sài Gòn về Kiên Giang nên phải để vợ tôi về quê hốt cốt ông bà thay tôi. Vì được nghe tôi kể lời đoán của Sư Tâm Chiến nên khi đào mả, vợ tôi để ý thì thấy quả có dòng nước trong chẩy qua áo quan ông bà tôi. Vì có không khí nên nước mới chẩy mạnh, vợ tôi thấy xương cốt ông bà tôi sạch trắng. Như vậy rõ ràng là có mạch nước từ cái giếng chùa chẩy qua mộ ông bà tôi đúng như lời Sư Tâm Chiến nói. Tôi không biết bằng cặp mắt nào Sư nhìn thấy cảnh ấy.

Lần thứ hai tôi trở xuống khám còng vì tôi bị tê xuội chân và cánh tay bên mặt. Khám chính quá đông người nằm, tôi được cho vào nằm trong một phòng nhỏ và không bị còng chân nhờ lịnh bác sĩ. Trong khám lúc đó có một tù “mi-nơ” khoảng 18 tuổi, bị bịnh ho lao, gầy còm, hom hem coi bộ khó sống. Bưã cơm trưa ngày thứ bẩy có thịt heo kho với nước muối, mỗi người tù được hai miếng thịt heo mỏng, dài khoảng hai lóng tay.

Chú tù “mi-nơ” nói với tôi:

“Em sắp chết, anh ơi. Xin anh cho em thêm ít cơm, ít thịt, em ăn lần cuối để chết. Ở tù khổ quá.”

Tôi cho chú nửa phần cơm và trọn phần thịt của tôi. Ăn xong, chú nằm phưỡn bụng tròn vo, thở ì ạch.

Ðến 9 giờ tối người ta khiêng vào và quăng lên sạp xi-măng một anh tù, nói là tướng cướp Bình Xuyên vừa từ bót lính kín Catinat chuyển sang. Người anh tù này dính đầy máu. Anh nằm thiêm thiếp. Ðến giữa khuya bỗng anh kêu rống lên mấy tiếng thảm thiết rồi nhẩy dựng lên, té lộn đầu xuống dưới sạp mà chết. Một chân anh còn mắc trong còng sắt trên sạp. Tôi lên tiếng gọi xếp khám. Không biết có nghe tiếng tôi không mà chẳng thấy ai vào đưa xác anh tù đã chết xuống nhà xác. Tôi nghĩ nếu chờ đến sáng, xác anh nằm như vậy sẽ cứng đơ, làm sao đưa đi chôn. Phải đưa anh lên sạp nằm tử tế. Tôi gọi chú tù “mi-nơ” dậy giúp tôi đưa xác anh tù lên sạp. Nhưng chú cũng chết rồi. Nhờ tôi không bị còng chân nên tôi gắng sức hì hục kéo xác anh tù để anh nằm lên sạp.

Ðêm hôm đó một mình tôi nằm giữa hai xác chết, cả đêm tôi không chợp mắt, lòng sầu thảm khôn cùng, thấy bạn tù chết thảm mà càng xót thương thân phận mình, không biết rồi mình sẽ chết ra sao.

Sáng hôm sau cai ngục vào, đem hai xác chết đi, cho tôi sang khám chính vì bên ấy mới có chỗ trống. Trong khám ấy tôi được quen biết anh tù Ðỗ Văn Có, tội chính trị, thường được gọi là Tư Có. Anh là người tỉnh Mỹ, gia nhập Ðảng Huỳnh Long, là thầy thuốc Nam có biết bùa Lỗ Ban. Anh nói được tiếng Pháp, tiếng Miên, tiếng Nhật. Anh bi bót Catinat tra tấn dã man, kẹp điện vào dương vật. Khi anh sang Khám Lớn, những vết tra điện trên người anh phát lở lói, anh không dám ăn cá biển hay mắm. Những hôm cơm tù có hai món ấy anh đành ăn cơm lạt.

Mẫu thân tôi từ Kiên Giang lên, đến Khám Lớn xin thăm tôi khi tôi đang nằm trong khám còng với anh Tư Có. Vào khoảng 1 giờ trưa, văn phòng Xếp Khám có giấy đòi tôi làm tôi vừa kinh ngạc vừa sợ không biết có chuyện gì xảy ra. Khi bước chân vào văn phòng Xếp Chánh – một ngoại lệ hiếm có – tôi sững sờ khi nhìn thấy mẹ tôi, cứ như là thấy mẹ trong chiêm bao. Mẹ tôi nhìn tôi, nước mắt tuôn ròng. Lòng mẹ nào không xót xa, đau đớn khi nhìn thấy đưá con mình thương yêu ở trong tình trạng thê thảm: gầy ốm, đầu trọc lốc, ở trần, chỉ mặc có cái quần cụt nhỏ như cái khố, hai chân teo óp, bước đi sịch sụi, đứng không vững.

Xếp Khám nói vài lời trấn an mẹ tôi là tôi bị bịnh tê nhức, chỉ nằm nhà thương ít lâu là khỏi, rồi Y đi ra khỏi phòng, để cho mẹ con tôi nói chuyện với nhau trong khoảng 10 phút. Trong văn phòng ấy chính mắt tôi nhìn thấy trên tường sau bàn giấy có treo hai cây đại đao gác tréo nhau. Hai cây đao tuy nay là vật cổ ngoạn từ thời xưa để lại song ánh thép vẫn sáng bén làm người nhìn chúng cảm thấy như có tanh tanh mùi máu. Về sau tôi đọc trong quyển “Sài Gòn Năm Xưa” của nhà sưu tầm và khảo cổ Vương Hồng Sển mới biết năm xưa khi nước Nam ta chưa có máy chém, tả đao chặt thủ cấp tử tội bằng hai cây đao ấy.

Mẹ tôi đem vào tù cho tôi mấy bịch cốm, kẹo và hai gáo dừa bự đựng thịt heo và thịt bò ram mặn. Ôi, không biết người hỏi ai mà biết được những món thức ăn rất cần của người tù.

Bà bảo tôi:

“Má biết con không hút thuốc nên không mua thuốc hút cho con.”

Mẹ tôi có dè đâu thuốc lá là món rất cần, rất quí của người tù, thiếu gì còn được chứ thiếu thuốc hút là không xong. Tội nghiệp mấy anh bạn tù của tôi đang mong tôi về khám để họ có thuốc hút. Mấy anh sẽ thất vọng biết bao. Viên Xếp Khám khi nghe tôi than mẹ tôi không cho tôi thuốc hút, liền kéo ngăn kéo bàn lấy một bao thuốc Mélia Vàng cho tôi, y còn dặn mẹ tôi gửi lại ít tiền để tôi có tiền mua hàng căn-tin.

Bao thuốc Mélia Vàng đem về khám còng là nỗi vui lớn của anh em tù. Tôi không hút thuốc nên đưa bao thuốc cho anh Tư Có để anh chia cho anh em. Tôi lấy bánh, cốm, kẹo ra bày tiệc cùng ăn với anh em. Từ đó anh Tư Có và vài người tù nữa mỗi bữa ăn có chút thịt kho tôi chia. Anh Tư Có mau lành các vết thương, ban đêm anh không còn suýt soa rên siết nữa. Anh thường ngâm thơ Kiều cho chúng tôi nghe. Khi đến đoạn Từ Hải nói với Thuý Kiều:

Một lời đã biết đến ta
Muôn chung, nghìn tứ cũng là có nhau
.”

Anh đắc ý, nắm tay tôi, ngâm lại câu ấy lần nữa như lời hứa sẽ có ngày anh trả ơn tôi. Nghe anh, tôi mỉm cười cho anh vui, tôi đâu nghĩ đến ngày tôi hưởng “muôn chung, nghìn tứ ” với anh. Trong cảnh tù đày, tôi chia sớt cho bạn tù chút ít, nào có gì đáng kể. Tôi không dè một năm sau anh Tư Có và tôi cùng bị đày ra Nhà Tù Côn Ðảo. Anh Tư Có phải làm khổ sai trong Sở Ðốn Củi cực nhọc, nguy hiểm tưởng không sống nổi. Chợt anh được đơn vị quân đội Nhât mới lên đảo, gọi ra làm thông ngôn vì anh biết tiếng Nhật, nên anh sống tự do, đầy đủ vật chất.

Số là một hôm có chiến hạm Nhật ghé vào vịnh Côn Ðảo, cho một đội binh sĩ Nhật khoảng 30 người lên đảo, nói là để kiểm xoát đài truyền tin của Pháp trên núi Chúa. Phân đội ấy do một Chuẩn Úy người Nhật chỉ huy, người mà bọn lính Nhật gọi là Tài-chồ. Ðến ngày 9 tháng 3, 1945 đội lính Nhât làm cuộc đảo chính, tước khi giới đại đội lính Pháp phòng thủ hải đảo và bọn nhân viên canh gác khám đường Côn Ðảo. Tuy trong đội quân Nhật có một quân nhân Nhật nói được tiếng Pháp song họ rất cần có một người thông ngôn nói được tiếng Việt. Nhờ thế anh Tư Có tạm thoát cảnh tù đày, ra làm việc với quân Nhật, trở thành một nhân vật quan trọng trên đảo.

Lúc ấy tôi vừa thoát khỏi nơi biệt giam Chuồng Cọp, về Khám 2 Nhà thương, ở phòng bịnh liệt. Tôi gặp và được anh Giáo Thố, cặp-rằng Sở Ðốn Củi, nói cho biết anh Tư Có được ra làm thông ngôn cho Nhật. Tôi nhờ anh Giáo Thố khi gặp anh Tư Có ngâm dùm tôi câu thơ Kiều:

Một lời đã biết đến ta
Muôn chung, nghìn tứ cũng là có nhau
.”

Anh Tư Có nghe hai câu thơ Kiều, biết ngay là tôi nhắn, anh nhờ người Nhật vào khám, lấy tôi ra làm việc với anh.

Ngưng trích “Từ Khám Lớn đến Côn Ðảo.”

Cặp-rằng: phiên âm tiếng Caporal, trong truyện này cập-rằng là người tù được Cai Tù cho làm Trưởng Phòng.

Tù mi-nơ”- mineure – là người tù dưới 18 tuổi.

Tác giả An Khê không kể rõ vì sao bà mẹ ông được Xếp Khám Lớn chiếu cố cách đặc biệt, cho mẹ con gặp nhau trong văn phòng của y, y lại cho người tù một gói thuốc hút Mélia Vàng mang về khám làm quà cho anh em tù. Nhân vật Xếp Khám này thật chịu chơi và chơi rất điệu. Quản Ðốc Khám Lớn năm đó là người Pháp.

Những năm 1940 chưa có bao nylon, người Việt đựng thức ăn trong những gáo dừa.

Tôi cũng đọc thấy trong Hồi ký của ông Vương Hồng Sển có đoạn viết về hai cây đao dùng để chém đầu tử tội trong những nhà tù ở Sài Gòn trong những năm người Pháp mới làm chủ Sài Gòn. Tác giả Vương Hồng Sển kể cặp đao này được treo trong “buy-rô” của Quản Ðốc Khám Lớn. Hai cây đao đó chắc là đao thời Vua Minh Mạng nhà Nguyễn. Nhà Tù Hà Nội thời Vua Gia Long-Minh Mạng chắc cũng có cặp đao như thế. Không biết năm nay – năm 2005 – khi tôi viết những dòng chữ này, những cặp đao xưa ấy nay ở đâu, ở trong Viện Bảo Tàng của quốc gia nào đó hay trong kho đồ cổ của tư nhân? Nay ai làm chủ chúng?

Một trong những “phẩm vật văn minh” người Pháp mang tới cho dân Việt là cái máy chém, tên Pháp là Guillotine, theo tên ông Guillotine người sáng chế ra nó. Chỉ sau khi các nhà tù Ðông Dương có máy chém từ Pháp đem sang, việc thi hành án tử hình ở nước Nam mới bỏ cách chặt đầu tử tội bằng đao và sức ngưới mà thay bằng máy chém. Tôi không biết máy chém được đem vào nước tôi năm nào, song tôi chắc người Pháp năm xưa phải mang vào nước tôi hai máy chém, một máy để ở Sài Gòn, một máy để ở Hà Nội, tránh việc vì chỉ có một máy nên khi cần dùng nó phải tháo rời máy ra, chở bằng xe hoả từ Sài Gòn ra Hà Nội hay từ Hà Nội vào Sài Gòn.

Tác giả An Khê viết:

Mẹ tôi có dè đâu thuốc lá là món rất cần, rất quí của người tù, thiếu gì còn được chứ thiếu thuốc hút là không xong.”

Quá đúng. Tôi từng thấy sự quan trọng của thuốc hút với người tù trong những phòng tù ở Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, ở Khám Lớn Chí Hòa. Nhưng người tù hút thuốc lào nhiều hơn là hút thuốc lá. Vô tù, 10 người nghiện thuốc lá thì 8 người chuyển sang hút thuốc lào. Như ông Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến, tức ông Nhà văn Văn Quang, nghiện thuốc lá, khi đi tù tập trung khổ sai ở miền Bắc, ông chuyển sang hút thuốc lào. Ông trở về Sài Gòn khoảng những năm 1986,1987. Năm 1990 tôi gặp lại ông vẫn thấy ông rít thuốc lào. Nhà văn Duyên Anh, đạo diễn điện ảnh Minh Ðăng Khánh cũng hút thuốc lào trong những năm tù cộng sản. Từ nhà tù trở về mái nhà xưa, thành phố cũ, ba ông Tù Văn nghệ sĩ nói trên đây vẫn hút thuốc lào, mấy năm sau các ông mới bỏ được.

Những cái điếu thuốc lào trong tù cộng sản được các ông tù chế tạo bằng những chai nhựa đựïng nước tương, nõ điếu bằng vỏ cây kem đánh răng cuốn lại, xe điếu làm bằng những ống nhựa bao quai xách những sô nước. Các ông tù làm những điếu hút thuốc lào rất nhanh. Và mỗi lần hết thuốc lào mà căng-tin nhà tù chậm bán hàng là các ông làm như giặc. Nghe nói nhiều ông Tù Quân nhân tù khổ sai ở miền Bắc chế tạo những điếu hút thuốc lào bằng những ống nhôm rất đẹp.

Năm 1979 tôi nằm phơi rốn trong Phòng 7 Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu cùng với anh Nguyễn Ngọc Tân. Anh Tân từng có thời viết báo, làm báo – nhật báo Tự Quyết, cùng với Lê Xuyên, anh lấy bút hiệu là Bảy Bớp, bí danh cuả anh là Phạm Thái. Anh không phải là ông Phạm Thái Việt Nam Quốc Dân Ðảng từng làm Bộ Trưởng Bộ Thông Tin trong chính phủ Nguyễn Khánh. Anh Bảy Bớp Nguyễn Ngọc Tân – dường như – là đảng viên Ðảng Ðại Việt, hay Ðảng Duy Dân; anh là Dân biểu Quốc Hội Việt Nam Cộng Hoà, từng bị đi tù tập trung dân biểu ngụy quyền nhưng – anh không nói vì sao – anh được về ngay trong năm 1977, đến 1978 anh bị bắt lại và cứ bị giam cứu lằng nhằng mãi đến ba, bốn năm trong những nhà tù ở Sài Gòn. Anh tù mãi đến năm 1994 mới được ra. Năm 1997 ở Hoa Kỳ tôi được tin anh bị bắt lại, năm 2000 tôi được tin anh ra tù và ngay sau đó tôi được tin anh qua đời ở Sài Gòn vì bệnh.

Anh Tân là con nhà điền chủ miền Nam, là anh em cột chèo với ông Lê Phùng Thời, Dân biểu Quốc Hội Lập Hiến thời chính phủ Ngô Ðình Diệm. Là thanh niên miền Nam, Tây học, anh Tân nghiện thuốc lào, hút thuốc lào nặng và ham hút không kém cây hút Bắc Kỳ nào. Ở phòng tù trong Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, anh nằm cạnh tôi nên mỗi lần, ban đêm, anh ra phi đạo – đường đi giữa phòng tù – hút thuốc lào với anh em tù – cả mười mấy người hút cùng một lúc để chỉ phải dùng một que riêm – anh trở về chỗ nằm, hơi thở nặng mùi khói thuốc của anh bay sang măt tôi, tôi thường kêu lên:

“Chời ơi.. Hôi đến thế này mà các bà chịu được các ông hút thuốc lào thì tôi sợ thật.”

“Chịu” đây có nghiã là các bà chịu để ông chồng nghiện thuốc lào hôn hít.

Những năm trong tù tôi hút thuốc lá khá nặng, mỗi ngày tôi hút chừng 50 điếu thuốc rê Gò Vấp tôi vấn lấy. Ðúng ra tôi nhờ anh em tù khéo tay vấn dùm, để sẵn một bịch cả trăm điếu, tôi chỉ việc nhón từng điếu ra hút. Vài lần không có thuốc hút, tôi nằm ép rệp,chịu trận, tôi không chuyển sang hút thuốc lào. Tôi không ưa thuốc lào. Dù anh em hút thuốc lào ca tụng khói thuốc lào tuyệt vời, tôi vẫn không bị thuốc lào quyến rũ.

Nhà văn An Khê rời Sài Gòn sang Pháp khoảng năm 1986, 1987, ông đã qua đời khoảng năm 1990 ở Pháp. Trong hồi ký “Từ Khám Lớn đến Côn Ðảo,” Nhà văn kể Tháng Tám năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim cho ông Ủy viên Chính phủ là bác sĩ Trần Tấn Phát đi một chiếc tầu ra Côn Ðảo đón nột số tù chính trị phạm về nước. Số người tù được đón về là 123 người, trong số có ông Phan Khắc Sửu, người từng là dân biểu Quốc Hội Lập Hiến Quốc Gia VNCH, làm Quốc Trưởng Quốc Gia VNCH, ông Trần Quốc Bửu, ông Trần Hữu Quyền. Tầu chở số tù nhân quốc gia này về đến bến Sài Gòn đúng ngày Việt Minh cướp chính quyền. Bọn Tù Cộng Lê Duẩn, Phạm Hùng từ Côn Ðảo về được Việt Minh đón ngay vào khu, bảo đảm an toàn. Những ông Tù Quốc Gia ngơ ngáo không có ai tiếp đón. Chỉ vài tháng sau đó Thực Dân Pháp trở lại Sài Gòn. Khoảng năm 1947, 1948 cái gọi là “chính phủ Nam Kỳ,” theo lệnh người Pháp, coi những người tù Côn Ðảo đước chính phủ Trần Trọng Kim đưa về Sài Gòn Tháng Tám năm 1945 là bọn “tù vượt ngục” và ra lệnh bắt lại những người tù này.

Bác sĩ Trần Tấn Phát bị Việt Minh bắn chết ở Sài Gòn năm 1946. Tên ông được đặt cho một con đường ở Tân Ðịnh, đường từ đường Hiền Vương sang đường Phan Thanh Giản. Nay bọn Bắc Công tạm chiếm Sài Gòn đã bỏ tên ông Trần Tấn Phát ra khỏi con đường ấy.

Chuyện “Tù Quốc Gia Côn Ðảo bị Pháp bắt lại” sẽ được viết trong một bài tới.

Advertisements

4 Responses

  1. …”Nay bọn Bắc Công tạm chiếm Sài Gòn đã bỏ tên ông Trần Tấn Phát ra khỏi con đường ấy”…

    Đọc nguyên một bài dài ngoằng, tôi chỉ khoái có mỗi câu trên !!! Đúng ra là chỉ có mấy chữ này : “tạm chiếm Sài gòn” .

    Văn phong của CTHD có khác ! !

  2. Đúng ra là chỉ có mấy chữ này : “tạm chiếm Sài gòn” .

    Bác Quốc Việt nói không sai, mà khoái cũng không sai.

    Bởi thực sự ra, cả nước Việt nam tụi cộng nô cũng chỉ tạm chiếm thôi chứ có chiếm được luôn đâu phải không ạ !

  3. Đọc Hoàng Hải Thủy viết về hồi ký của cựu tù An Khê thấy dễ thương quá, hóa ra tù xưa, tủ nay và tù mai sau muôn thuở cũng không khác gì nhau mấy! Khoe với ông HHT là người tù ở Bắc sáng tạo điếu cày hút thuốc lào phải đặt lên hàng nghệ thuật: Thân điếu cày được lựa từ ống nứa già (tre cái) vừa tay cầm, nõ điếu làm bằng rễ cây già, gọt đẽo và chạm hoa văn cổ điển, có khi nõ điếu được làm bằng đá, mài dũa rất công phu, người điệu nghệ ngoài nghệ thuật chạm khắc công phu còn không thể thiếu khâu quan trọng cuối cùng là dùi lỗ nõ và khắc lỗ “phát âm” cuối nõ điếu, ăn khách là công đoạn cuối! Thân ống được đánh bóng bằng lá lưỡi hổ (công dụng như giấy nhám nước) khi đã bóng thì các nghệ nhân dùng dùi nhọn để khắc hình long, ly, qui, phượng hoặc ngư, tiều, canh mục, có lúc Hằng Nga và Đường Minh Hoàng du nguyệt điện hoặc có nghệ nhân lấy hứng từ thủy tổ Hug Marston Hefner để vẽ vài em không quần áo cũng rất bay bướm nhìn cũng muốn phạm điều răn thứ 6! Khi xong xuôi rồi lo ap phe cán bộ cho chút cánh kiến pha cồn làm verni đánh bóng, xem không muốn bỏ đi. Khi hút và rít mạnh hơi thì âm thanh phát ra từ cung bậc trầm cho đến khi sắp dứt hơi rít sẽ ré lên réo rắt giống tiếng còi tàu rời sân ga ( ôi còi tàu như xé đôi lòng). Hình như trong văn học cổ điển cũng có tác giả tán phét về triết lý thủy hỏa trong cái điếu thuốc lào ( bát+cày). Cũng có nhiều công tử tù khi ngửi mùi thuốc lào thì cứ em chả! Em chả mạnh hơn HHT, cuối cùng cũng mê “cung thang làu bậc ngũ âm” mà đành mang tài sản bảo mệnh đi đổi lấy một cái điếu nghệ thuật làm kỷ niệm để mai sau dù có bao giờ…..! Những chàng nầy trở thành “con nghiện” thứ thiệt không hay và họ là người năng nổ đi truyền đạo mạnh nhất! Sau nghệ thuật thủy hỏa nầy, tới giai đoạn lập xưởng sản xuất đàn guitar. (xin xem hồi sau sẽ rõ.). Anh hoa của tù phát tiết ra khá là nhiều và đủ mọi lãnh vực. Một vốn quí như vậy mà đành vùi dập vì ý đồ chính trị rồi bây giờ còn giả vờ hòa giải thì tôi cũng tình nguyện đi đào huyệt để hạ những thằng trở cờ cổ võ! Giá bọn chúng có dịp hút thuốc lào bằng điếu cày do tù Bắc sản xuất thì lòng trung quân ái quốc của chúng sẽ không bị mai một. Ai tai! Ai tai!

  4. Dear ông Hoàng Hải Thúy
    Khúc hồi ký của An Khê ông trích hay quá. Tôi tìm mua quyến sách mà không có
    Maybe ông đăng hết quyến sách lên cho bà con cùng đọc ké
    Độin ơn ông
    mylan

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: