• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Biệt Kích Dzăng Bút

Thư của Bà K.V. Simson, Trưởng Ủy Ban Cứu Trợ Những Văn Sĩ bị Tù của Trung Tân PEN London – Văn Bút Quốc Tế – gửi gia đình Hoàng Hải Thủy.

10.3. 1989

Mme Hoang Hai Thuy
259/29 A Cach Mang Thang Tam
Quan Tan Binh, Ho Chi Minh City

Dear Madam,

The Writers in Prison Committee is  anxious  for news of your husband, and hope that there is some way in which you can tell us how he is and how often you are able to visit him? We know that he was not at all well even in 1984, and we wouls like to know if there are any medecines which you need and which we could send you?

With best wishes to you and your family.

Yours sincerely

K. v. Simson

o O o

Từ đầu năm 1976, tôi đã lai rai viết bài gửi ra ngoại quốc – ba nước Pháp, Mỹ, Úc – tôi viết với mục đích diễn tả thực trạng đời sống của nhân dân Sài Gòn trong gông cùm của bọn Bắc Cộng. Tôi diễn tả những nỗi buồn sầu tuyệt vọng của tôi, của vợ con tôi, của đồng bào tôi nhiều hơn là chửi bới Việt Cộng, những bài tôi viết không hô hào người khác cầm súng bắn Việt Cộng. Nhưng dầu sao thì mấy tên văn nghệ sĩ Sài Gòn không nhanh chân bỏ nước chạy lấy người kịp chúng tôi cũng đã tìm cách viết ra nước ngoài rất sớm – sớm đến cái độ có thể gọi là “Sớm nhất thế giới”.

Bản tin trên Nhật Báo Le Parisien – Số ra Tháng Janvier 1990 sau khi Hoàng Hải Thủy, người được Nhật Báo Le Parisien bảo trợ – ra khỏi Nhà Tù Cộng sản.

Chỉ xỉu xỉu sáu tháng sau ngày bọn xâm lăng nón cối, dép râu, răng cải mả, lính cái tóc bím, đít bự như cái thúng, ngơ ngáo kéo vào Sài Gòn, một số anh em chúng tôi đã có thư, tin, bài, thơ linh tinh đủ thứ gửi ra nước ngoài. Chẳng phải vì chúng tôi can đảm hay giỏi giang gì hơn người, phần lớn tại vì đến năm 1975 tình hình chính trị thế giới đã bắt đầu có những chuyển biến bất lợi cho bọn cộng sản. Sự liên lạc bằng thư giữa những nước tư bản Âu Mỹ với thành phố Sài Gòn bị cưỡng hiếp đổi tên được tái lập ngay sau ngày 30 Tháng Tư 75; thư từ Hoa Kỳ, Pháp gửi về Sài Gòn tới tấp – lâu thôi, nhưng thư vẫn về tới – Từ Sài Gòn những lá “thư Con Cá Sài Gòn – “Con cá nó sống vì nước..” – cũng nườm nượp gửi ra những nước ngoài. Thư Sài Gòn kể khổ, than đói, thư viết với ý muốn được người đọc thương hại mà gửi tiền về cứu trợ – vượt đại dương đi các nước tự do, tư bổn. Nhờ vậy bọn chúng tôi mới lén gửi được những bức thư tả oán ra khỏi nước.

Xin so sánh với tình trạng các nước đàn anh Xã hội Chủ nghĩa: Khi bức màn sắt rơi xuống nước Nga, hai mươi mùa trứng caviar đóng hộp sau vẫn chưa có một văn nghệ sĩ Nga nào sống trong nước gửi được những tác phẩm chống chế độ bạo tàn ra nước ngoài. Bài viết “than khổ ” thôi cũng không có. Khi bức màn tre chụp xuống Trung Quốc, sau hai mươi mùa lệ chi được gửi Express đến Ðảo Bồng Lai cho nàng Dương Thái Chân thưởng thức, mới có lẻ tẻ vài ông chính khách Tầu Cộng bỏ Ðảng, bỏ Nước Ghẻ Tầu, Sâu Quảng dzọt được sang các nước Pháp, Anh lai rai viết tố cáo những tội ác ghê rợn của chế độ Trung Cộng.*

o O o

Le Parisien: Hoang Hai Thuy a refusé de se taire

Dưới đây là bản dịch bài báo viết về “Biệt kích Dzăng Bút Hoàng Hải Thủy” đăng trên Nhật báo Le Parisien, Tháng Tư năm 1988. Người viết là Nữ ký giả Catherine Monfazon:

Le Parisien. Ðáp ứng lời kêu gọi của Hiệp Hội Phóng Viên Không Biên Giới –– 38 cơ sở truyền thông Pháp quốc đã nhận bảo lãnh mỗi cơ sở một ký giả bị tù vì làm tròn công việc của mình. “Le Parisien” tự chọn tranh đấu cho sự tự do của Hoàng Hải Thủy, ký giả Việt Nam, hiện đang bị bỏ quên trong một trại lao động cải tạo. L’Association Reporters sans Frontières

Chúng tôi yêu cầu chính phủ Pháp quốc không những chỉ vận động để đưa ông Thủy ra khỏi nhà tù mà còn, theo sự đòi hỏi của gia đình ông ta, đưa ông ta ra khỏi quốc gia của ông ta…

Hoàng Hải Thủy không chịu câm miệng

Ðừng nói đến cái tên Hoàng Hải Thủy ở Việt Nam, nói đến cái tên đó trong điện thoại, đường dây sẽ bị cắt, trong đường phố những đôi mắt sẽ nhìn xuống đất. Ðược nhờ đến Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, được coi như là một động lực của công cuộc đổi mới của Việt Nam, sẽ bực bội gạt bạn sang Bộ Tư pháp, một cách từ chối, không tiếp khéo léo.

Hoàng Hải Thủy năm mươi chín tuổi, đêm đêm nằm ngủ trên tấm ván rộng năm mươi phân giữa ba ngươi người bạn tù chung phòng giam trong trại cải tạo Xuân Lộc, một nơi cách thành phố HCM (Sàigòn) một trăm hai mươi cây số. Những lời buộc tội thật mơ hồ “Lên tiếng chống chủ nghĩa cộng sản” Người ta trách ông ta đã gửi ra nước ngoài những bài thơ, bài viết không sao có thể đăng được trong những tờ báo Việt Nam bị rọ mõm.

Hoàng Hải Thủy biết rất rõ những người cộng sản. Bên cạnh họ ông đã tham gia kháng chiến năm 1945. Nhưng kề từ đó ông chỉ đi theo một con đường: nhân bản. Thi sĩ, văn sĩ, ký giả, dịch giả: ông được nhiều người biết vì tính tình hay nói thẳng, vì niềm hăng say tố cáo những sự bất công. Ông tự ý làm những việc ấy.Trước năm 1975 ông công khai chỉ trích chế độ cũ trên những tờ báo châm biếm như tờ Con Ong (nghĩa đen là con ong chuyên châm chích). Ông cũng là viên chức của Trung tâm Thông Tin Hoa Kỳ, USIS.

Năm 1974, ông dịch tiểu thuyết “One Hundred Years of Solitude” của Garcia Marquez. ra văn Việt, bản dịch truyện này bị Bộ Thông Tin Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà cấm xuất bản. Lý do Nhà Văn Garcia Marquez thân Cộng, bạn của Fidel Castro, kết tội Mỹ xâm chiếm Việt Nam, gây chiến tranh ở Việt Nam.

Bản dịch “Quần Ðảo Ngục Tù” (Archipel du Goulag) cũng bị cấm. Lần này là Ðảng cấm. Sau năm 1975 Hoàng Hải Thủy phải sống nhịn nhục. Nhưng ông từ chối không chịu im tiếng.

“Ông ấy không thể im lặng trước những đau khổ của đồng bào ông. Ông ấy tức giận khi thấy bọn cán bộ kêu gọi người khác hy sinh nhưng chính chúng lại sống như vương giả”. Ðấy là lời một người bạn của Hoàng Hải Thủy nói về ông.

Năm 1977 ông ta đã bị bắt lần thứ nhất, bị giam hai mươi ba tháng trong nhà tùở Sài Gòn. Vừa ra khỏi tù, ông lại cầm bút. Ông bị bắt lần thứ hai năm 1984. Năm 1988, ông bị xử ở tòa án. Người bạn của ông nói tiếp về ông: “Trong phiên xử, ông ấy có nói ông không viết vì thù hận chính quyền mà viết để chống lại tất cả những kẻ dối trá từ trong trái tim…”

Bị tuyên án sáu năm tù Hoàng Hải Thủy chỉ được trả tự do vào tháng Năm năm 1990. Ông còn phải chịu đựng nhiều tháng sống trong trại cải tạo vì thái độ tự do tư tưởng của ông, một thái độ mà cái chính phủ vẫn tự nhận là đã mở nắp nồi và đổi mới vẫn không thể chấp nhận được.

Nữ ký giả Catherine Monfazon
Nhật báo Parisien

Quý vị vừa đọc bản dịch bài báo của nữ ký giả Catherine Monfazon , Nhật báo Le Parisien, ấn hành ở Paris. **

Năm 1988, Nữ phóng viên Catherine Monfazon từ Paris đi Bắc Kinh, Trung Quốc, rồi đến Hà Nội và thành phố HCM. Vì nhật báo Le Parisien nhận bảo trợ và đòi trả tự do cho người viết Hoàng Hải Thủy, cô ký giả Monfazon, đại diện Nhật báo Le Parisien, tìm đường đến gặp vợ con Hoàng Hải Thủy. Khi cô thất vọng hoàn toàn vì không thể tìm gặp được vợ con Hoàng Hải Thủy và cô sắp lên phi cơ về Paris tình cờ cô gặp một người bạn của Hoàng Hải Thủy. Nhờ vậy cô đến được căn nhà nhỏ của vợ chồng Công Tử Hà Ðông trong Cư xá Tự Do giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bảy Hiền.

Ðây là bài báo Nữ ký giả Monfazon viết về vợ con Hoàng Hải Thủy đăng cùng trên trang báo Le Parisien với bài báo trên.

Catherine Monfazon. Le Parisien. “Chúng tôi mạnh vì chúng tôi yêu ông ấy”

Hoàng Hải Thủy và cả gia đình ông phải trả giá đắt vì niềm khao khát tự do của họ. Nhưng họ vẫn sát cánh với nhau và họ hy vọng.

Ðêm đen như mực ở thành phố HCM. Cô con gái của Hoàng Hải Thủy, Giang, ba mươi hai tuổi, di chuyển vòng vèo giữa rừng xe đạp và xe xích lô trên chiếc xe gắn máy mua trả góp. Cô dừng xe trong một xóm đông dân cư. Con đường trở nên sình lầy. Im lặng. Giang dựng xe trước cửa vào nhà, cạnh mấy chuồng gà. Anh con và bà vợ Thủy chờ đón chúng tôi. Vài cái ghế, hai cái giường không nệm, một tủ lạnh rỉ sét, sân nhà lát gạch bông đỏ trắng rất sạch: tất cả toát lên một sự nghèo túng được che dấu cẩn thận.

Mái tóc bạc được chải tươm tất, xanh xao, rất gầy, rất đường hoàng, bà vợ của Thủy nói tiếng Pháp lần thứ nhất từ hơn hai mươi năm nay.

Một bức ảnh rất đẹp của ông chồng trang hoàng bức tường lở vôi, bên cạnh hai tờ thông cáo tuyên truyền của cộng sản mà nhà nào cũng phải dán. Ðỗ Thị Thủy không được gặp mặt chồng từ hai tháng nay. “Ông bố tôi mạnh khỏe, bà mẹ tôi mới chịu không nổi. Bà mất mười ký lô” Anh con trai hai mươi tám tuổi nói nhỏ.

Họ nói đến ông bố và ông chồng của họ với niềm kiêu hãnh, họ nhắc đến những bài ông đã viết, những bài này đều bị công an tịch thu, những gì ghi lại nỗi tuyệt vọng, sự đau khổ và cái đói của nhân dân. “Ông ấy nói ít, viết nhiều”. Bà Ðỗ nói. Tôi hỏi: “Có bao giờ bà yêu cầu ông ấy đừng viết để cả nhà được an ninh không? “Không bao giờ…” bà trả lời ngay, gần như bà giận dữ vì câu hỏi ấy. Bỗng bà mỉm cười dịu dàng, xúc động: “Chúng tôi đói, chúng tôi không có tiền, nhưng chúng tôi chấp nhận tất cả những cái đó. Chúng tôi mạnh vì chúng tôi yêu thương ông ấy, chúng tôi kiêu hãnh vì sự can đảm của ông ấy”.

Cái giá của sự tự do tư tưởng của Thủy là một giá đắt. Ðể có thể sống, họ phải bán hết. Nữ trang, đồ đạc, quần áo. Ðến cả ba ngàn quyển sách của Thủy, từ tủ sách lớn ấy, họ còn giữ được khoảng trăm quyển cất kỹ trong một ngăn tủ nhỏ. Camus, Nabokov, Nietzche, Zola, Sacha Guitry…Những sách này đều được những người con của Thủy đọc đi, đọc lại. Từ nhiều năm nay các con của Thủy bán bánh ngoài đường. Tất cả việc học của họ đều bị cấm. Hiện nay họ đang muốn tin vào việc Thủy sắp được thả tự do. Rồi sau sẽ ra sao? Họ lo âu. “Ông ấy lại sẽ bị kiểm soát, bị theo dõi khắp nơi. Lại có sợ hãi. Ông ấy có thể lại bị bắt. Chính phủ phải để cho chúng tôi ra đi. Không có tờ báo nào ở đây nhận cho ông ấy làm việc. Với cái tên ấy, ông ấy sẽ bị từ chối ở khắp nơi. Chúng tôi chỉ có thể có tự do ở một miền đất khác. Cô có thể làm gì được không? Ở đây người ta chỉ cho phép chúng tôi im lặng…”

Ngưng trích.

o O o

Khứa lão H2T, Kỳ Hoa 2010.

Xin viết cho rõ: Người dịch The Gulag Archipelago của Alexandre Solzhenytsin ra bản Việt ngữ “Quần đảo Ngục tù” là Ngọc Thứ Lang Nguyễn Ngọc Tú. Anh đã từ trần trong trại tù khổ sai Phú Khánh khoảng năm 1980. Tôi dịch The First Circle của A. Solzhenytsin, “Tầng đầu Ðịa ngục” ấn hành ở Sài Gòn năm 1973.

Năm 1977 đến năm 1979, thời gian là hai mươi ba tháng tôi bị bắt lần thứ nhất ở Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu. Bị bắt lần thứ hai năm 1984 tôi sống một muà cóc chín trong Nhà Tù Số Phan Ðăng Lưu, bốn mùa lá rụng trong 2 hàng song sắt Nhà Tù Chí Hòa, một mùa mưa rừng trong Trại Tù Khổ Sai Z 30 A dưới chân núi Chưá Chan.

Nữ ký giả Monfazon viết nguyên văn trong bài “…la presse muselée vietnamienne…” tạm dịch: “… nền báo chí Việt Nam bị rọ mõm… »***

Năm 1993 Nữ phóng viên Catherine Monfazon lại đến thành phố Sài Gòn, lần này tôi được gặp cô, được ăn với cô một bữa tối trong nhà hàng Mini của bà Nguyễn Phước Ðại đường Nguyễn Du.

Từ năm 1990 tình hình kinh tế tài chánh của những Anh Con Trai Bà Cả Ðọi kẹt giỏ ở Sài Gòn bị đổi tên là Thành Hồ có vẻ khá hơn, tôi vẫn dùng xế đạp đi lại loanh quanh khu Ông Tạ, nhưng tôi đã có cái Honda 91. Tôi dùng Honda đến khách sạn đón cô Monfazon, chở cô trở lại căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi ở Cư Xá Tự Do, nơi cô đã đến gặp vợ con tôi năm năm trước, khi tôi dang nằm phơi rốn trong tù, cô từng theo con gái tôi lên căn gác lửng xem tủ sách đầy bụi chỉ còn vài quyển sách của tôi. Tôi đón cô trở lại nhà tôi vào buổi tối. Vợ chồng tôi mời cô ăn với chúng tôi bữa cơm đạm bạc do vợ tôi nấu trong căn nhà nhỏ của chúng tôi.

Cô kém Kiều Giang con gái tôi hai tuổi, cô nói thông thạo tiếng Anh. Catherine Monfazon là một trong những người đã đối xử ân cần và giúp đỡ vợ chồng tôi trong cơn hoạn nạn. Vợ chồng tôi nhớ ơn cô.

Chúng tôi như những người sắp chết đuối vớ được cái phao – được ấm lòng và có thêm hy vọng để không chết nhờ rất nhiều người, những người bạn ở nước ngoài. Trong khi bọn Bắc Việt Cộng thù hận chúng tôi, chỉ muốn chúng tôi khóc mếu, khổ sở, chúng cố tình đầy ải cho chúng tôi phải chết hoặc dở sống, dở chết, chúng muốn chúng tôi phải quỳ gối lậy van chúng, những người bạn không quen biết từ xa ngoài vạn dặm đã gửi tình thương cho chúng tôi.

Xin cảm ơn quí vị.

o O o

Ngày xửa, ngày xưa…

Những năm 1940… trong thị xã Hà Ðông nhỏ bé, hiền hòa chú thiếu niên hai mươi mùa mít chín sau đó tự nhận là Công Tử Hà Ðông được đọc hai câu thơ:

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm

Hai câu không nhớ của thi sĩ nào làm. Sau tìm và biết là của Xuân Diệu. Chú thấy ý thơ hay hay. Hai câu ấy ở mãi trong trí nhớ của chú.

Bốn mươi mùa sầu riêng trổ bông sau đó một người tù cải tạo ở Trại Tù Khổ Sai Z30A Xuân Lộc Ðồng Nai được con trai lên thăm, đem cho quyển Antholoy of English Poems do Ðại học Oxford ấn hành. Tuyển tập thơ Anh dầy hai ngàn trang giấy, hơn một ngàn bài thơ của Shakepeare, Shelly, John Donne, đến Robert Browing, Mary Elizabeth Coleridge. Trong tập thơ, người tù yêu thơ tìm thấy bài thơ

The Call

Sound, sound the clarion, fill the file!
Throughout the sensual world proclaim:
One crowded hour of glorious life
Is worth an age without a name.

— Thomas Osbert Mordaunt

Ðêm buồn nằm thao thức trong tù nghe tiếng gió vi vu thổi đến từ núi Chứa Chan, người tù cảm khái bèn mần thơ dịch:

Tiếng gọi

Kèn vang lên, trống nổi lên
Lặng yên nghe – Tiếng loa truyền
Sống một giờ quang vinh rực rỡ
Hơn tầm thường trọn kiếp không tên!

Như vậy là phải chăng năm, sáu mươi mùa ổi chín trước đây, Xuân Diệu đã đọc bài tứ tuyệt The Call của T.O Mordaunt và lấy ý ra làm hai câu

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm!

Hai câu thơ làm người tù đi một đường cảm khái, nhớ lại cả một thời thơ ấu “ngày xưa còn bé”.

Vèo trông lá rụng đầy sân.
Ái ân phù thế có ngần ấy thôi

Thấp thoáng đấy mà đã năm mươi mùa tu hú kêu trong những vườn vải đỏ.

Còn nhớ như in những ngày Tháng Tám năm 1945 chú thiếu niên Hà Ðông náo nức đi biểu tình giành độc lập, biểu tình ủng hộ đồng bào Nam Bộ kháng chiến chống Pháp xâm lược, còn nhớ những ngày đi kháng chiến thật đẹp ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên, gót chân liên lạc viên đi dưới núi Thiên Thai, đi ngang cửa Chùa Tiêu Sơn, đi qua Rừng Khế, nơi co lăng tẩm vua chúa triều Lý ở trước làng Ðình Bảng, phủ Từ Sơn, từng sống trong thành Cổ Loa có giếng nước tục truyền được dùng để rửa ngọc trai thật tốt, từng sống trong làng Phù Ðổng ven đê sông Ðuống, quê hương của Thánh Gióng, những đêm mùa đông nước cạn, buộc quần áo lên đầu, ôm cây chuối bơi qua sông Ðuống…

Những năm xưa ấy, người Tù Z30A “yêu mê” Việt Minh đến là chừng nào. Vật đổi sao dời, khi nón cối, dép râu, súng AK, cờ đỏ ngơ ngáo vào Sài Gòn, chú thiếu niên năm xưa nay đã ở vào số tuổi của Mã Giám Sinh – quá niên trạc ngoại tứ tuần – chú cùng không biết bao nhiêu người khác bị Bác và Ðảng cho đi tù mút mùa Lệ Thủy. Chú không bị Bác giết là may, chú không chết vì bị Bác xách cổ đem đi trồng cũng là may.

Ðã cảm khái Người Tù Z30A còn xúc động hơn khi anh đọc bài thơ Respice Finem của Francis Quarles. Cuối năm đêm lạnh trong tù anh nằm dịch bài thơ ra tiếng nước anh.

Ðây là nguyên bản:

Respice Finem

My soul, sit thou a patient looker-on
Judge not the play before the play is done
Her plot hath many changes , every day
Speaks a new scence, the last act crowns the play!

— Francis Quarles

Vở tuồng đời

Ôi hồn ta ngồi yên mà coiVở tuồng đời
Ðừng phê phán trước khi tuồng hết
Còn bao nhiêu màn khóc, màn cười
Tuồng đang diễn, làm sao ta biết
Mỗi ngày qua là một đổi đời
Chờ đến lúc coi xong màn kết
Mới biết tuồng hay dở mà thôi.

Trại Tù Khổ Sai Z30A, Tháng 10-1989

_______________________________________________
* Dân Việt có thói quen những cái gì “bẩn” nhất đều đổ cho dân Tầu. Người Việt bị ghẻ cũng gọi là “Ghẻ Tầu,” thứ ghẻ làm người bị ghẻ khó chịu nhất. “Sâu Quảng” là một thứ lở trên da bị vi trùng đục lõm thịt – “Sâu Quảng” thường ở hai cổ chân người. Người Việt gọi thứ Lở này là “Lở có sâu Quảng”, bệnh lở từ hai bang Quảng Ðông, Quảng Tây bên Tầu truyền sang. Tôi viết ở đây chuyện “Ghẻ Tầu, Sâu Quảng” vì mới đây tôi thấy trên Net có ông Việt ở Mỹ viết chuyện “Sâu Quảng là thứ lở loét có vi trùng xuất từ hai tỉnh Quảng Yên, Quảng Ninh”. Tôi bị Sâu Quảng nơi cổ chân năm tôi 10 tuổi. Chỉ là do một vết trầy da nơi cổ chân, đang mùa hè ngày nào tôi cũng đi bơi ở sông, hai chân nhiễm trùng, thành lỗ Sâu Quảng. Mẹ tôi trị Sâu Quảng cho tôi bằng cách mỗi ngày rửa chỗ lở bằng nước nóng pha thuốc tím, rồi rắc lên đó chất thuốc vàng mua ở Nhà Thuơng. Qua 70 năm, nay chân tôi vẫn còn vết sẹo Sâu Quảng ngày xưa còn bé, vết sẹo lên cao hơn trên cổ chân tôi chừng nửa gang tay.

** Tôi không có ảnh của Nữ Ký Giả Catherine Monfazon. Cô có mở một cuộc lạc quyên lấy tiền cho tôi trong toà báo Le Parisien. Quí vị nhân viên toà báo góp cho tôi số tiền Euro trị giá khoảng 3.000 đô-la Mỹ.

Nhật báo Le Parisien ra đời sau ngày Quân Ðức Phát Xít đầu hàng ở Paris. Lúc đầu tên tờ báo là Le Parisien Libéré. Năm 1975 bọn Bắc Cộng vào Sài Gòn, bắt chước đặt tên tờ báo của chúng là Sài Gòn Giải Phóng.

*** Các báo Pháp gọi “báo chí Bắc Việt cộng: là “la prese muselée vietnamienne: Báo Việt bị rọ mõm”. CTHÐ

Advertisements

4 Responses

  1. Đọc Hoàng Hải Thủy nhắc chuyện xa gần mà thấy lòng ấm lại. Đâu đó tôi đã đọc câu nói: chuyện cải tạo là chuyện nhiều người muốn kể nhưng ít người muốn nghe! Chân lý sao mà phũ phàng thế! Dầu sao thì chuyện kể bằng sự chân thật, không bịa đặt và kể có duyên thì cũng không thiếu độc giả. Tội nghiệp những quyến sách tù phơi bụi vì hầu như nhà nào cũng được người nhà kể chuyện live rồi mua làm gì! Hoàng Hải Thủy kể chuyện cô ký giả Catherine Monfason làm tôi nhớ tới một nữ ký giả Pháp khác cũng tên Catherine nhưng không nhớ tên surnom của cô ta, mẹ nầy sang VN thời cụ Diệm, trốn vào bưng phỏng vấn các trự CS rồi trở về Pháp qua ngã Hà Nội. Về Pháp rồi mụ tung những bài báo ca tụng chế độ Hà Nội, chỉ trích VNCH nẩy lửa rất bất lợi cho chế độ nhà Ngô đang gồng mình chống Cộng. Tội nghiệp một nữ ký giả pháp nữa sang nằm hàng tháng ở VN, đi khắp nơi quan sát và về viết báo bênh vực chế độ Sai Gòn, bà xuất bản quyển (quên tựa nguyên bán) “Nước đã đến chân” để ca tụng nỗ lực của quân dân miền Nam chống Cộng trước sức ép viện trợ Mỹ và bà đã nhìn ra được “thế lực thù địch” của miền Nam lúc đó được CS quốc tế yểm trợ tích cực. “Nước đã đến chân” của nư ký giả Suzane Labin được dịch liền sang tiếng Việt nhưng gặp ngay sự đón tiếp hờ hững của dân miền Nam vì người ta viết bài phê bình cho rằng Suzane Labin được Ngô đình Nhu trả tiền để viết! Lời thật không nghe, lại nghe lời tuyên truyền của bọn thiên tả khiến đất nước điêu đứng lầm than. Tôi cũng lấy làm khó hiểu khi những nhân vật thuộc bộ thông tin nhà Ngô không nỗ lực khai thác người thật việc thật để tuyên truyền, trường hợp quyến “Nước đã đến chân” của Suzane Labin hay quyển ” 60 ngày đêm vượt Trường Sơn” của 2 tác giả đào thoát khỏi miền Bắc vào năm 1956 cũng không được Bộ Thông Tin chú ý, sách nầy kể lại chuyện mới xảy ra tức thì ngoài Bắc, là nguồn thông tin rất tốt cho việc tuyên truyền mà lại làm lơ một cách tắc trách! Thôi, cũng tại phận trời vận nước nên miền Nam đã rước nhầm người giá áo túi cơm cỡ Nguyễn Lương, Nguyễn Đình Thuần để hại dân hại nước!

  2. ………………………………………………………. Trích :

    Nguyễn Thị Anh Thư (Con gái tù nhân chính trị Nguyễn Hữu Cầu) : Dạ hôm Chủ Nhật cháu cùng một người bạn nữa đi thăm ba. Lúc cháu lu bu vô sổ với những thứ thăm nuôi để ba cầm cái sổ đó xem có đủ đồ của ba không, thì bạn của cháu nói chuyện với một anh cũng ở tù nhưng sắp được thả. Anh ấy được ra ngoài quét dọn. Anh này cho biết là hôm thứ Sáu, có giám thị trại giam xuống, nói “anh Cầu ơi anh coi ký đơn để tôi lập hồ sơ thả anh về, chớ anh ở trong này hoài sao”. Ba cháu đáp rằng “Các anh nói kỳ quá. Đã bao nhiêu lần tôi nói với các anh rồi rằng tôi không có tội. Mà các anh nói là tha cho tôi, đặc xá cho tôi. Tôi đâu có tội mà phải đặc xá cho tôi?” Nên ông trại giam tức quá, đập bàn, thì ba mới nói “anh khỏi đập bàn, để tôi hất bàn luôn”. Vừa nói xong là ba hất bàn đổ luôn.” Ngưng trích.

    Xin phép được vô duyên một chút. Nhưng tôi đọc thấy đã quá, cảm kích quá, nên copy lên đây để chia sẻ với quý vị.

    Tôi đọc bài phỏng vấn này mà nước mắt tự dưng tuôn rơi.

    Nguồn : http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/No-news-of-release-for-prisoners-nguyen-huu-cau-tran-van-thieng-during-vns-national-day-ThQuang-08302010180121.html

  3. Thu*a CTHD hai nha^n va^.t Catherine Monfazon , K.V. Simson ba^y gio*` va^?n co`n so^’ng va` la`m chuye^.n nghi~a hie^.p nhu* nga`y na`o?

  4. Bác Tbui thường phát hiện những bài viết rất hay như “Tiếng chó tru đêm” v.v.. Nay xin mời bác và các bác xem bài này,theo tui cũng đã lắm :

    http://www.vietlandnews.net/forum/showthread.php?299-V%E1%BA%B9t-Qu%E1%BB%91c-Doanh

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: