• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Ký Quốc, Ký Cộng

Tôi – CTHÐ – không đọc và không biết gì nhiều về Nhà Văn Trương Tửu. Năm 1954 ông Trương Tửu ở lại Hà Nội, ông qua đời ở Hà Nội Tháng 11, 1999, thọ 86 tuổi.

Năm 2000, sống ở Kỳ Hoa, đọc sách báo Việt, tôi gặp mấy câu ông Trương Tửu nói về việc Viết Văn của ông. Ông chủ trương:

  • Chỉ viết về những gì mình biết rõ.
  • Tránh viết về những chuyện đã có nhiều người viết.
  • Chỉ nên viết về những vấn đề chưa ai viết.
  • Viết làm sao để người đọc phải suy luận và tranh luận.

Từ khi đọc được mấy câu đó tôi vẫn cố bắt chước viết như ông Trương Tửu muốn viết. Tất nhiên tôi muốn là một chuyện, tôi có làm được như tôi muốn không là chuyện khác. Tuy vậy tôi vẫn nhớ và vẫn cố viết như ông Trương Tửu muốn viết. Như trong Tháng Tám 2010, chuyện Nhà Văn Trần Mạnh Hảo ở trong nước đi dự cái gọi là Ðại Hội Văn Nghệ Rọ Mõm ở Hà Nội được các báo Việt ở Kỳ Hoa viết đến khá nhiều. Có báo trong một số đăng đến 3 bài của ông Nhà Văn Trần Mạnh Hảo. Tôi thấy tôi không nên viết về chuyện ông Trần Văn Hảo và Ðại Hội Văn Sĩ Rọ Mõm Hà Nội nữa. Tôi chỉ nhân vụ đó kể với quí vị độc giả chuyện nhỏ này.

Bức tường bao quanh một khám tù Côn Đảo

Khoảng 3 giờ chiều một ngày nào đó mấy chục năm xưa, tôi đến Phòng Hội Nhà Nước ở Nhà Số 2 đường Thống Nhất, Sài Gòn, để dự cuộc hội họp báo chí đầu tiên của ông Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Ông này vừa được Hội Ðồng Quân Lực uỷ nhiệm lập chính phủ. Ông gọi chính phủ của ông là Uỷ Ban Hành Pháp, và tự gọi ông là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương. Với việc tự cho chính phủ của ông là Uỷ Ban, ông Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương Nguyễn Cao Kỳ không làm gì hay ho ngoài việc bắt chước những người Việt Minh: trong những năm 1946-1954, danh xưng của tổ chức chính quyền Việt Minh là Ủy Ban Hành Chánh-Kháng Chiến. Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm hạ thấp giá trị chính phủ của ông xuống hàng Ủy Ban.

Tôi là dân Bắc Kỳ vẫn có mặc cảm tự teo là từ lâu rồi, từ thời Thủ Tướng Trần Trọng Kim làm Thủ Tướng Chính phủ năm 1945 – Thủ Tướng trong có 4 tháng trời ngắn ngủi, từ Tháng Tư 1945 đến Tháng Tám 1945 – đã quá lâu không một nhân sĩ Bắc Kỳ nào được làm Thủ Tướng Chánh phủ. Các vị nhân sĩ Nam Kỳ, Trung Kỳ thay phiên nhau làm Thủ Tướng. Ðến nay mới có ông Thủ Tướng con dân Bắc Kỳ lên ngôi. Tôi đến dự cuộc họp báo thứ nhất của ông Thủ Tướng người xứ Bắc Kỳ với sự hãnh diện trong lòng.

Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ từ toà nhà được dùng làm trụ sở chính phủ ở bên kia đường đi bộ qua đường Thống Nhất sang phòng họp. Toà nhà Số 7 Ðường Thống Nhất. Có chừng 10 ông phụ tá, cố vấn của ông đi theo ông. Trong số những ông này có ông Nguyễn Ngọc Linh. Ông NN Linh hiện sống ở Virginia, Kỳ Hoa Ðất Trích. 11 ông ngồi ở cái bàn chủ toạ dài. Ông Nguyễn Cáo Kỳ ngồi giữa.

Khi ấy, ký giả Tô Văn ngồi ở hàng ghế trước tôi. Ðại tá Phạm Văn Liễu, đương kim Tổng Giám Ðốc Cảnh Sát-Công An Quốc Gia, trong bộ treilli, ngồi gần đó.

Ông Nguyễn Cao Kỳ có lẽ là người thích làm những việc khác người, thích chơi trội, nên tôi chắc trong số những ông Bắc Kỳ được ông dùng làm Quân Sư Quạt Mo có ông súi ông làm cái trò gây chấn động công luận là trong cuộc họp báo thứ nhất với tư cách Thủ Tướng, ông loan báo quyết định:

Ðóng cửa tất cả những nhật báo, tuần báo hiện có. Uỷ Ban sẽ xét và cho tái bản một số báo.

Ông Quân Sư nào đó hiến cho ông TT Kỳ làm cái gọi là “cú ngoạn mục, cú đẹp mắt đóng cửa tất cả các báo Việt rồi xét cho một số ra sau, số báo được phép sống này sẽ phải tuân phục ông Thủ Tướng và chịu cái ơn cải tử, hoàn sinh trăm năm một thưở,” ông Quân Sư này không phải là Quân Sư Quạt Mo mà là Quân Sư Quạt Giấy, đã là Quạt Giấy mà còn là Quạt Giấy Chùi Ðít. Bởi vì..

Mấy anh ký giả dân Bắc Kỳ, trong số có tôi, như mấy anh hí hửng đến nhà có đãi tiệc, yên trí được chủ nhà tiếp đón niềm nở, bắt tay, ôm vai, mời vào bàn tiệc: “Uống gì nào? Uýt-ky? Mác-ten?? Sếch hay sô-đa? Có Pe-ri-ê đây..!” Không ngờ bị chủ nhà chỉ mặt, chửi:

“Mấy thằng kia.. Ði chỗ khác. Ông bạt tai, đá đít cho bi giờ.”

Trong lúc tôi ngồi bí sị chưa có phản ứng gì cả, Tô Văn đứng lên. Anh nói trống không, không lớn tiếng lắm mà cũng không quá nhỏ. Không kêu gọi ai theo mình, anh nói:

Nó có coi mình ra cái gì đâu. Bỏ. Không họp. Ði ra.”

Tô Văn đi ra, tôi đi ra theo anh. Có chừng 10, 15 ký giả bỏ họp ra đứng xớ rớ ngoài đường. Có phóng viên Mỹ đến thu hình và phỏng vấn Tô Văn. Tôi đứng đó một lúc rồi lủi thủi bỏ đi. Lúc ấy tôi đang ở dưới đáy sâu nhất của vực suy bại: Chính phủ Ngô Ðình Diệm bị lật đổ, nhật báo Sàigònmới, nhật báo Ngôn Luận, hai tờ báo nguồn tiền của tôi cùng bị đóng cưả, tôi dzạt sang làm trong toà báo Ngày Nay của anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, được vài tháng báo Ngày Nay tự đóng cưả, nguyên nhân báo không bán được, hết vốn, tôi ghé vào làm toà báo Tin Báo của anh Nguyễn Mạnh Côn, Tin Báo quá nghèo, cũng không bán được, Tin Báo đang ngắc ngoải 10 phần chắc chết cả 10 phần. Ðời sống của tôi và vợ con tôi đi vào chu kỳ đen hơn mõm chó.

Chỉ cần một số ký giả bỏ phòng họp đi ra ngoài để phản đối, cuộc hội báo thứ nhất của ông Uỷ Viên Ban Hành Pháp Trung Ương Nguyễn Cao Kỳ coi như việc Con Nít Lên Ba đi tháo tỏng. Một số ký giả đi ra khỏi phòng hội, cuộc họp báo vẫn tiếp tục, ông Kỳ vẫn công bố với quốc dân chính sách của chính phủ của ông. Nhưng ngay trong đêm ấy, quyết định Ðóng Cưả Tất Cả Các Báo của ông Tân TT NC Kỳ bị chính ông Tân TT Nguyễn Cao Kỳ hủy bỏ. Không có chuyện Cấm, Ủy Ban rút lại quyết định, tất cả các báo Việt vẫn cứ ra như cũ. Tôi nghĩ chắc mấy ông Mỹ trong Toà Ðại Sứ Mỹ không biết trước quyết định đóng cưả tất cả các báo rồi xét cho ra lại một số của ông TT Nguyễn Cao Kỳ. Họ nhẩy nhổm lên:

– Chít dzồi. Sao ông lại làm dzậy? Làm dzậy là chít dzồi. Bọn Hà Nội chúng nó sẽ chửi rầm lên là bọn quân phiệt Sài Gòn đóng cửa tất cả các báo. Oắt-dzing-tân cũng không chịu các ông làm như dzậy. Cả thế giới sẽ phản đối.

Với việc đóng cửa tất cả các báo, ông Uỷ Viên Nguyễn Cao Kỳ như đánh đám ký giả Sài Gòn cái bạt tai, với việc đám ký giả bỏ họp đi ra, đám ký giả như đá cho ông Ủy Viên một đá vào giữa bụng.

Chuyện xẩy ra đã 40 năm, hôm nay tôi kể lại chuyện để nói lên việc: đám Văn sĩ Hà Nội có thể phản đối ban tổ chức Ðại Hội bằng cách bỏ họp, không cần tất cả bỏ họp, chỉ cần một số hai, ba chục người bỏ họp, nhưng vì là những Văn Nô sống bằng tiền lương Ðảng cấp, họ không dám làm gì cả.

Tôi sẽ trở lại chuyện này trong một bài khác.

Quí vị vừa đọc chuyện Ký Quốc, Ký Cộng, nay mời quí vị đọc chuyện Tù Quốc, Tù Cộng, chuyện trích trong tác phẩm “Từ Khám Lớn đến Côn Ðảo.” Hồi ký của An Khê Nguyễn Bính Thinh.

Tác giả An Khê kể về ngày Trung đội Lính Nhật tước võ khí Ðai đội lính Tây, làm chủ Côn Ðảo:

Chúng tôi ngày ngày ra xe sợi trên hiên khám giam. Bỗng nhiên một sáng nọ, Xếp Khám không mở cửa cho ra ngoài. Chờ đến gần 1 giờ trưa, cửa khám chỉ hé ra cho tù đưa thùng cơm vào. Tù chúng tôi đoán chắc bên ngoài có chuyện gì xảy ra nhưng tuyệt nhiên không có tin tức gì vào khám từ bên ngoài. Tù chúng tôi cứ chịu ở trong khám liền hai ngày. Ðến ngày thứ ba môt số tù chính trị được gom lại giam chung một phòng.

Anh Trần Quốc Bửu hỏi các ông Sửu, Quế:*

“Các ông có thấy gì lạ không? Tên Xếp Khám mở cửa cho tù vào đưa cơm mấy hôm nay không mang súng lục ngang hông. Mặt hắn ta trông buồn buồn. Không bao giờ bọn cai tù không mang súng sáu khi đi vào khám. Chúng không mang súng tức là súng của chúng đã bị tước đoạt. Ai có thể tước súng của bọn Tây ở đây? Chỉ có lính Nhật mới có thể làm được việc ấy.”

Ðến gần trưa hôm thứ ba có tiếng giày đi bên ngoài khám và tiếng người nói văng vẳng. Anh Giáo Thảo lắng nghe rồi nói:

“Các ông nghe rõ không? Không phải tiếng ta, không phải tiếng Tây. Tiếng mình nghe ai nói đó là tiếng Nhật.”

Chúng tôi đánh liều kêu la ầm lên. Một lúc sau cửa khám mở. Bên ngoài lố nhố năm ba lính Nhật đội mũ lưỡi trai, đeo kiếng trắng, mang quân phục xanh mầu phân ngựa, đi giày bốt da cao tới đầu gối. Ðó là những binh sĩ Nhật, lần thứ nhất họ đi vào khám tù. Họ hỏi chúng tôi bằng tiếng Nhật. Trong chúng tôi không ai biết tiếng Nhật. Ông Tù Tú Oanh nẩy ra sáng kiến dùng viên gạch non nhặt được từ bên ngoài viết chữ Hán lên hiên khám, nói chúng tôi là tù chính trị, yêu cầu được cho ra ngoài trời. Người hạ sĩ quan Nhật biết chữ Hán, đọc hiểu, ra lệnh cho chúng tôi ra sân thong thả. Từ ấy chúng tôi mới biết lính Nhật đã tước quyền người Pháp trên đảo nhưng vẫn dùng người Pháp trong việc canh giữ tù. Những ngày sau đó chúng tôi lại về các sở làm khổ sai nhưng nay bọn cai ngục Tây bị mất khí giới, bị lính Nhật chỉ huy, không còn tinh thần bắt chúng tôi làm khổ sai nữa. Chúng để mặc chúng tôi muốn làm gì thì làm.

Mãi đến Tháng Tám năm ấy – 1945 – một chiếc tầu binh Nhật chở Bác sĩ Trần Tấn Phát, Ủy viên của chánh phủ Trần Trọng Kim, đại diện Thủ Tướng, ra Côn Ðảo làm lễ Ðộc Lập Quốc Gia, treo quốc kỳ Quẻ Ly và đọc Lệnh Trả Tự Do ngay cho 123 tù chính trị, trong số có tôi, các ông Phan Khắc Sửu, Trần Quốc Bửu, Trần Hữu Quyền v..v..

Ngày 28 Tháng 8, 1945 có tầu binh Nhật đi ngang ghé Côn đảo, đưa 123 tù chính trị chúng tôi về Sài Gòn. Chúng tôi về đến bến tầu Sài Gòn đúng ngày Việt Minh cướp chính quyền trong thành phố. Không có ai chào đón chúng tôi. Ngay trên bến tầu anh em chúng tôi bùi ngùi từ biệt nhau. Anh Ðào Duy Phiên về Bắc trên chuyến tầu cuối cùng chạy xuyên Việt khởi hành ở ga Sài Gòn. Không biết ở đất Bắc anh có bị Cộng sản ám hại như khi ở đảo anh đã bị người em ruột của anh – anh này là đảng viên Cộng sản – câu kết với bọn tù Cộng – ám hại gần mất mạng. Ông Tù Võ Oanh, tú tài Hán học, không trở về quê ông ở Nghệ An vì sau ngày ông bị đày ra đảo, gia đình ông tan nát. Ông ở lại Sài Gòn viết báo kiếm sống nhưng ông phải vất vả trốn tránh để không bị bắt lại. Mấy năm sau năm 1945, bọn Mật Thám Tây được lệnh đi bắt lại những người tù Côn Ðảo được chính phủ Trần Trọng Kim đưa về nước, bọn Mật Thám Tây có quyền bắn chết người tù Côn Ðảo mà chúng cho là bọn vuợt ngục.

Những người Cựu Tù Côn Ðảo bị đẩy vào cảnh sống khốn đốn vô cùng. Nhiều chính phủ quốc gia được thành lập ở miền Nam nhưng bi thảm thay, không một chính phủ quốc gia nào nghĩ đến việc bảo vệ những Chiến Sĩ Quốc Gia Cựu Tù Côn Ðảo, để cho anh Bùi Ái Quốc bị mật thám Tây bắn chết ở Bà Rịa, để cho các ông Cựu Tù Côn Ðảo Võ Oanh, Trịnh Lương bị mật thám Tây bắt lại, đày trở ra Côn Ðảo và chết ở đảo. Nhiều người tù quốc gia phải đầu phục bọn Việt Minh để được chúng cho sống trong khu chúng kiểm xoát. Nhiều người dù cộng tác với Việt Minh để chống Pháp, vẫn bị chúng thủ tiêu.

Trong đoạn hồi ký trên, ta thấy Tháng Tám năm 1945 Chánh phủ Trần Trọng Kim ủy nhiệm ông Ủy Viên Chánh phủ Trần Tấn Phát ra Côn Ðảo tuyên bố Quốc Gia Việt Nam Ðộc Lập, treo quốc kỳ, ra lệnh trả tự do cho 123 người tù Quốc Gia. Chính phủ Trần Trọng Kim là chính phủ hợp pháp, việc những người tù Côn Ðảo được chính phủ trả tự do là hợp pháp. Chỉ có điều đáng tiếc là có lẽ vì có quá nhiều việc phải làm nên chánh phủ Trần Trọng Kim được thành lập từ Tháng Tư 1945 mà mãi đến Tháng Tám năm ấy mới lo giải thoát những người tù Quốc Gia chống Pháp bị đày ải ở Côn Ðảo. Khi số người tù này về đến Sài Gòn thì chánh phủ Trần Trọng Kim không còn nữa.

Thực dân Pháp trở lại, dùng võ lực chiếm Sài Gòn và các tỉnh Nam phần, nguời Pháp coi việc tù nhân Côn Ðảo được chính phủ VN Trần Trọng Kim đưa về nước Tháng Tám năm 1945 là “bất hợp pháp,” những người tù này bị coi như “tù vượt ngục, phải ra đầu thú và bị bắt trở ra giam ở Côn Ðảo.”

Trong khi đó những người tù Cộng sản từ Côn Ðảo về không ở trong thành phố, họ được Việt Minh đón ra bưng, tức ra khu Việt Minh, và họ sống yên ổn. Những người Tù Chính Trị Quốc Gia thật không có đất dung thân. **

Từ Khám Lớn đến Côn Ðảo. Nhà Văn An Khê viết về những giờ đầu tiên ông và những người bạn tù chính trị của ông đến Côn Ðảo.

Trích:

– “ Ðẹp tuyệt! Không ngờ Côn-nôn đẹp đến như vầy. Tụi bay ơi!”

Anh thi sĩ Bùi Ái Quốc vừa lóp ngóp bò lên boong tầu, quên thân phận tù đày, kêu lên khi nhìn thấy Côn Ðảo.

Ðấy là một chiều mùa hè năm 1942.

Con tàu buôn Tài-pô-sek già nua, ọp ẹp như cái vỏ hột vịt nát trôi nổi giữa trùng dương, vượt sóng một cách hú hoạ, trên tầu chở đầy thực phẩm, gà vịt, bò heo, và 300 tù nhân vừa chính trị vừa thường phạm, ra Côn Ðảo, nơi giam tù nổi tiếng là lò sát sanh rùng rợn nhất của Thực dân Pháp ở Ðông Dương. Riêng đối với bọn tù thanh niên chúng tôi, vì chưa bận bịu vợ con, vì còn có nhiều tin tưởng, nhiệt huyết nên việc bị đày ra đảo với chúng tôi không có gì đáng sợ lắm. Chúng tôi không lên tiếng tán thuởng cảnh Côn Ðảo sao được khi chúng tôi vừa phải sống 24 giờ đồng hồ dưới hầm tầu nóng như lò than hồng, thiếu không khí đến nỗi có người chết ngất đến hai, ba lần. Ðã nhốt chúng tôi dưới hầm tầu bọn Cai Tù còn cùm chân chúng tôi, còng tay chúng tôi với nhau. Có môt số tù chết dưới tầu, xác nằm chung với bọn tù còn sống.

Chiều ấy, tàu tới Côn Ðảo, buông neo ở Mũi Chim Ưng, còn gọi là Mũi Cá Mập, cách bờ đảo đến 2 ngàn thước. Chúng tôi được tháo cùm, mở xích, tháo còng, lùa lên bong tầu. Chúng tôi lên boong tầu, tất cả chúng tôi đều gần như trần truồng, mặt mày, mình mẩy đen sì dính đầy dầu nhớt. Chúng tôi bỏ lại dưới hầm tầu những cùm xích và xác hai người bạn tù.

Trước mắt chúng tôi, dưới ánh nắng vàng, châu thành Côn-nôn nằm theo hình cánh cung ôm cái vịnh nước xanh biếc, trông thật đẹp và hiền hậu, đẹp hơn nhiều tỉnh thị trong đất liền. Ðảo có nhiều biệt thự song lập dọc theo ven biển, có con đường to, rộng, lát đá chạy dài, có dãy đèn đường trời chưa tối đã bật sáng. Thấp thoáng sau rặng cây xanh có bóng đầu máy xe lửa kéo những toa goòng chạy qua, thả lên trời những vệt khói lam lặng lờ trong bóng hoàng hôn đang xuống. Cảnh đảo thật thơ mộng đối với tôi, kẻ đã sống qua một năm tù túng, chật chội trong Khám Lớn Sài Gòn – Khám Tù đường Gia Long – Trong mấy giây phút đầu tiên từ ngoài biển nhìn vào đảo, trong lòng tôi có mấy câu thơ:

Ðầu nặng tình gia thuộc,
Thân nặng nợ lao tù.
Nhìn dãy núi âm u
Mồ bao người thất cuộc.

Anh Trần Hữu Quyền, người Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, đứng nhìn đảo, nói nhỏ với anh em, giọng trầm trồ:

“Biển cả, trời rộng, rừng xanh, dinh thự, đường xá. Bọn ta như từ địa ngục được thấy thiên đường.”

Liền đó là những ngọn roi quất lên lưng, lên đầu chúng tôi và những tiếng quát, chửi:

“Ba thằng khốn này. Ðứng làm chi đây? Leo xuống sà-lan đi.”

Ðốp..! Chát..! Chát..! Cùng với tiếng chửi là những ngon roi, những cây thuớc quất, đập xuống. Chúng tôi chịu đau để không kêu, lật đật theo nhau trèo xuống thang dây mắc bên thân tầu. Thang dây là cái lưới rộng, trải dài từ trên boong xuống chiếc sà-lan từ trong đảo ra đón ở phiá duới. Sà-lan chứa được tám, chín mươi nguời nhưng ở trên tầu trông xuống thấy nhỏ như cái chiếu. Chung quanh dập dồn những làn sóng bạc, chen lẫn những cái đuôi bọn cá mập lượn quanh. Bọn cá mập biết những lần tù đến như vầy có khi có tù té xuống biển nên chúng kéo tới rình sẵn.

Sà-lan không có máy kéo, mấy anh tù ra đón dùng cây sào đẩy cho sà-lan vào đảo. Cầu tầu ở trước dinh thự của viên Quản đốc Ðảo người Pháp, tên là Teyssières, Thiếu tá Lục Quân Pháp. Tên này bụng phệ, tay cầm roi da, đứng xét tù, bên y là hai con chó berger dữ dằn. Bọn tù xếp hàng ngồi xổm trên đất, hai tay quặt ra sau lưng, đầu cúi xuống giữa hai đầu gối. Ðiểm qua, điểm lại, giao tù, ký nhận. Xong thì trời tối. Bọn tù bị xua vào khám.

Cai tù bắt tù phải chạy. Tù cả năm ở trong khám, da chân mỏng ra, nay phải chạy chân không trên đường lổm chổm đá nhọn, đau thốn lên óc, nhưng chạy chậm thì bị quất roi lên lưng, ai cũng cắn răng chạy.

Lần đầu thấy những bức tường cao như vách thành, xây bằng những tảng đá đen. Không biết bao nhiêu người tù đã chết vì bị bắt buộc phải xây dựng nhà tù này.

Tù vào khám, lại ngồi xổm điểm danh, điểm số, lại nghe chửi, lại bi quất roi lên đầu, lên lưng, rồi bị lùa đến nơi ăn cơm. Một hàng dài những thùng cơm đặt trên hiên trước salle tù. Mỗi thùng cơm là 10 người ngồi vây quanh để ăn. Bên thùng cơm có hai nửa mẻ tĩn, một đương khô mực luộc với nước sền sệt, một đựng canh đậu xanh nguyên hột nhai trong miệng nghe lộp bộp. Cơm mỗi người được hai chén sét, nhờ khô có nươc chan mặn mặn, có canh đậu xanh bùi bùi, đối vơi tù ăn đói cả năm ở khám lớn, lại qua một ngày, một đêm không ăn, không uống dưới hầm tầu nóng như lò than, bữa ăn thứ nhất tối đầu tiên ở đảo ngon như bữa tiệc. Cơm và thức ăn chia trong những cái bát làm bằng vỏ trái dừa khô. Không có đũa, tù phải ăn bốc. Phải ăn thật nhanh, kể cả chia phần và ăn, bữa ăn chỉ dài trong 5 phút, ai ăn chậm là bị đánh túi bụi. Sau đó người tù tự tìm vỏ trái dưà khô, tự chế đôi đũa. Buộc hai thứ ấy cùng với cái thẻ đính bài nhà tù phát vào một sợi dây đeo ngang bụng hay trên cổ suốt ngày đêm không lúc nào rời. Ðó là ba vật bất ly thân của người tù Côn-nôn, mất một thứ là khổ đời.

Ngưng trích.

Trong bài trước: Sư Quốc, Sư Cộng, đăng trên báo này, Nhà Văn An Khê kể Ngày 9 Tháng 3, 1945, trung đội Lính Nhật đóng trên đảo tước khí giới đại đội Lính Pháp, người Tù Tư Có biết tiếng Nhật nên được lính Nhật gọi ra làm việc với họ. Vì có tời nằm chung phòng trong Khám Lớn Sài Gòn với người tù Tư Có nên người tù An Khê nhắn lời xin Tư Có kéo ra làm việc văn phòng. Nhà văn kể:

Từ Khám Lớn đến Côn Ðảo. Trích:

Thế là một buổi sáng cánh cổng sắt to tướng của Khám 2 mở rộng cho viên Ðội Sato đi với viên Xếp Khám Tây vào tìm tôi. Ðấy là do anh Tư Có cẩn thận dặn Trung sĩ Sato phải vào tận khám tìm tôi, đừng nhờ bureau effectif, nhờ e sẽ không bao giờ gặp tôi. Viên Ðội Sato đưa tôi ra khỏi khám, ra dấu hỏi tôi có bộ quần áo trắng như mấy người tù áo trắng mà y thấy làm việc nơi văn phòng không? Tôi nói phải đến xin bộ quần áo đó tại bureau effectif. Ðến nơi bọn tù Cộng sản làm việc ở đấy chỉ sang văn phòng Giám Ðốc Bệnh Viện. Thiếu tá Giám đốc, một bác sĩ tận tâm và nhơn ái, có việc đi vắng. Thư ký văn phòng là anh tù Nguyễn Văn Trung bảo phải chờ. Ðội Sato có việc khác phải làm, dặn tôi ngồi chờ ở đó. Tôi chờ mãi đến 12 giờ không được gặp bác sĩ Rosez mà cũng không thấy Ðội Sato quay trở lại như đã hưá.

Tên Trung bảo tôi:

– Ðã hết giờ lam việc rồi, thằng Nhật không trở lại đâu, anh trở về khám đi.

Tôi nói người Nhật đã lấy tôi ra, tôi phải ngồi đây chờ. Trung lắc đầu, cười, nhạo tôi chớ vội ham, tên Ðội Nhật vào khám lãnh tôi ra chưa hề xuất trình một giấy tờ gì bảo lãnh tôi cả, tôi vẫn là tên tù ở Sở Chỉ Tồn, nơi nào cần là được sai đến.

Hắn lạnh lùng đưa tôi trở về Khám 2. Tôi như con chim vừa sổ lồng lại bị mắc bẫy, sa trở lại lưới sắt bịt bùng. Lần này chắc chết thôi. Sẽ không còn ai biết tôi ở đâu nữa. Dẫu sau này viên Ðội Nhật có cầm giấy tờ đến khám lĩnh tôi thì số tù của tôi sẽ là số đính bài của một anh tù vừa chết vì bạo bệnh. Anh Tư Có muốn giúp tôi mà lại hại tôi. Viên Ðội Nhật ngù ngờ quá, xong phải nói anh ta có biết đâu đến lòng dạ thâm độc của một số tù nhân, cũng đầu trọc, áo xanh, cũng thân xác tù đày nhưng khéo ẩn bóng cai tù hãm hại những người không đồng chính kiến. Phen này tôi sa vào tay bọn chúng, có bao giờ chúng chịu buông tha.

Quả nhiên ngay tối hôm ấy, tên Trung và tên Danh đi với một gã nói là Cặp-rằng Sở Ðất Dốc đến bên ngoài song sắt phòng tù gọi tôi ra nói chuyện. Trung và Danh giới thiệu tôi với Cặp-rằng Sở Ðất Dốc, bảo tôi là người bạn tốt, nếu có gì xin Cặp-rằng giúp đỡ. Tôi gượng vui bắt tay tên Cặp-rằng mà lòng nặng những lo buồn. Như thế là ngày mai tôi sẽ có giấy về Sở Ðất Dốc và tên Cặp-rằng này sẽ giết tôi ở đó, ít nhất y cũng làm tôi chết với số tù của tôi, y sẽ chuyển số tù của tôi cho một người tù đã chết. Ai hỏi tôi với số tù của tôi, y sẽ cho thấy giấy khai người tù số ấy đã chết, tôi sẽ phải mang số tù của người tù đã chết.

Thoạt đầu khi chúng tôi mới bị đày ra Côn Ðảo, vẫn còn ngây thơ tin tưởng bụng người như bụng ta, khi được những người tù Cộng sản niềm nở đón tiếp, giới thiệu với chủ sở, với Cặp-rằng thì cho là may mắn. Nào dè đâu đó chính là bản án tử hình. Chính tên Nguyễn Văn Trung và Trần Ngọc Danh đã giới thiệu ông giáo sư Trần Thành Huân cho Cặp-rằng khám cấm cố mà ông Huân phải chết mấy tháng sau.

Khi ở Khám Lớn, bọn tù CS đã bao phen ngồi liên hoan với chúng tôi để cổ võ chiêu bài chúng đưa ra “Quốc Cộng liên minh.” Chúng lẻo mép nói:

Người Quốc Gia và người Cộng sản phải liên kết chặt chẽ, sát cánh cứu nước, cứu dân.”

Ôi, tình đồng chí-đồng tù mặn nồng, thắm thiết biết bao. Chúng phải làm thế, chúng phải nói vậy, vì ở Khám Lớn, phe tù Cộng là thiểu số. Nhưng khi ra Côn Ðảo, chúng đông hơn, có thế lực nhờ chúng khéo núp bóng bọn cai tù, chúng trở mặt, nói:

Trên đảo chỉ có mầu đỏ, không có mầu vàng. Người tù quốc gia muốn yên thân trả nợ tù phải tự nhuộm đỏ. Không là Công sản tức là kẻ thù của Công sản, cũng không người tù nào được lưng chừng đứng giữa.”

Suốt đêm ấy tôi ngồi tựa lưng bên song sắt, không chợp mắt. Mạng sống của tôi từ ngày mai chỉ còn tính từng ngày.

Ðến sáng, Trưởng đội 19 phụ trách trật tự trong khám, gọi tôi ra bảo chuẩn bị lên đường về sở sau khi ăn cơm sáng. Cơm ở Khám 2 dọn rât sớm, mới 9 giờ sáng đã cho ăn. Tôi ở đây vì bịnh nhưng nay chưa hết bịnh đã bị đuổi về sở – đây là cách trừng phạt người tù không cùng bọn của bọn tù có quyền trong tù – đã vây tôi còn phải đến một sở làm khác nhiều nguy hiểm hơn. Tôi không sao nuốt nổi miếng cơm. Quanh tôi những người tù bịnh lao xao giành ăn. Bịnh càng sắp chết càng tranh ăn tợn. Họ gõ đũa lên đầu nhau côm cốp. Mặt người nào cũng bự chần vần như trái bưởi ung, mắt tum húp gần như không trông thấy đường đi nhưng vẫn tranh đấu dành giựt quyết liệt bên thùng cơm vung vãi. Nhìn họ rồi gẫm đến mình, thật tủi. Tôi bị tê xuội chưa đến nỗi như họ mà phải chết trước họ. Hai gã câu hồn sứ giả đã đến tận khám tìm tôi để đưa tôi đến máy chém. Tôi không sao tránh khỏi chết.

Trưởng đội 19 đến, hối tôi ôm chiếu ra khỏi phòng giam. Vưà may, cổng chính mở, thầy Ðội Sato đi vào, mắt dáo dác nhìn quanh sau cặp kiếng trắng. Tôi vội lên tiếng gọi. Ông ta đưa tôi ra khỏi khám trước những cặp mắt căm tức của bọn Trung, Danh.

Tôi được đưa về Dinh Quản Ðốc Khám Ðường lúc ấy đã trở thành Tổng Hành Dinh của Quân đội Nhật trên đảo, một quân đội chỉ có khoảng 30 binh sĩ. Ðội Sato gọi anh Tư Có đến văn phòng y để anh cùng tôi trò chuyện. Y nói hôm qua y có việc phải đi gấp nên bỏ quên tôi ở chỗ y bảo tôi đợi. Tối đến y mới nhớ và cả đêm y cứ thao thức mãi vì chuyện thất hứa với tôi. Sáng nay y vào khám sớm để tìm tôi. Số tôi chưa chết. Nếu y vào muộn, tôi bị đưa đi rồi thì bọn tù Cộng sẽ dấu kín tôi, Sato có quyền lực và chí tình đến mấy cũng không tìm ra được tôi. Ngồi nói chuyện với anh Tư Có, tôi bâng khuâng nhớ lời tiên đoán số mệnh tôi của Sư Tâm Chiếu khi tôi sống cùng Sư ở Khám Lớn: Số tôi xém chết mà không chết.

Buổi sáng ấy trong văn phòng của Trung sĩ Sato, tôi được mời hút thuốc lá Esquire nguyên gói mới mở, được uống trà Tầu, ăn bánh có đường, được mời ngồi thoải mái, ngồi bật ngửa dựa lung lên thành ghế, gác chân chữ ngũ, đi đứng thẳng thắn không co ro sợ hãi.

Tôi sống bên anh Tư Có cho đến ngày Côn Ðảo tổ chức mừng Ngày Tự Do và Ðộc Lập của nước Việt Nam. Nước ta đã có chính phủ. Thế rồi chúng tôi mừng vui chào đón phái đoàn chính phủ Trần Trọng Kim do ông Công Cán Ủy Viên Trần Tấn Phát cầm đầu, ra đảo tuyên bố lịnh phóng thích đầu tiên 123 tù chính trị ở Côn Ðảo được trở về nước.****

Trong cảnh lao tù khổ cực tôi thường nhẩm đọc hai câu thơ của cụ Phan Bội Châu để nuôi tinh thần:

Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả,
Anh hùng, hào kiệt có hơn ai!

Nhà lao đối với tôi là lò nung thép. Lửa già chừng nào sản xuất thép tốt chừng nấy. Người có tâm trí tốt dùng thép ấy chế ra những thứ máy phục vụ cho lợi ích của dân tộc, cho hạnh phức chung của loài người. Người Cộng sản dùng thép ấy tạo nên những kềm kẹp, dụng cụ làm đau khổ đồng bào của chính họ.

CÔNG TỬ HÀ ÐÔNG

________________________________________
* Năm 1945, các ông Tù Côn Ðảo Phan Khắc Sửu, Trần Quốc Bửu, Trần Hữu Quyền, cùng Nhà Văn An Khê được Chánh phủ Trần Trọng Kim hủy án tù, đưa về Sài Gòn. Năm ấy, Lê Duẩn, Phạm Hùng cũng ở tù Côn Ðảo – không thấy tác giả An Khê kể rõ hai người tù Cộng Sản Lê Duẩn, Phạm Hùng có cùng về Sài Gòn nhờ lệnh trả tự do của Thủ Tướng Trần Trọng Kim hay không.

** Nhiều ông Tù Côn Ðảo trở về nước bị Mật Thám Pháp bắt lại, kết tội vượt ngục, nhưng các ông Tù Phan Khắc Sửu, Trần Quốc Bửu, Trần Hữu Quyền và Nhà Văn An Khê vẫn sống an ninh ở Sài Gòn. Cũng là Tù Côn Ðảo được về nước, không những Ông Tù Phan Khắc Sửu không bị bắt lại mà còn được mời tham chính.

*** Năm 1946 bọn sát thủ Việt Minh, theo lệnh của Trần Văn Giàu, bắn chết Bác sĩ Trần Tấn Phát ở Sài Gòn. Tên ông được đặt trên con đường từ đường Hiền Vương sang đường Phan Thanh Giản. Bọn Bắc Cộng tạm chiếm Sài Gòn đã bỏ bảng tên Ðường Trần Tấn Phát.

**** “Từ Khám Lớn đến Côn Ðảo” do Nhà Làng Văn Canada xuất bản năm 1993, hiện bán Sale 6 đô Mỹ 1 quyển. Quí vị muốn mua sách gửi 10 đô là dư tiền Post. Làng Văn 250 N. Service Road. Grimsby. Ontario. L 3 M- 4 E 8. CANADA. E-mail langvan@langvan.com. CTHÐ

Advertisements

16 Responses

  1. “Ông NN Linh hiện sống ở Virginia, Kỳ Hoa Ðất Trích” Ong NNL hien dang sinh song tai Houston, tieu bang Texas, Hoa Ky Ong lay ten la Rau Cao, viet phiem tren ban nguyet san Ngay Nay tai Houston

  2. Một lũ tướng lĩnh kiểu “râu kẽm” cầm quyền như thế có đáng để Mỹ ( vì lợi ích của người Mỹ đồng thời cũng là của dân chủ , tự do cho toàn thế giới ) bỏ rơi không ?!….chắc rằng nhiều người Việt nay đã trở thành người Mỹ thấu hiểu hơn tôi !.Kẻ sĩ Bắc hà xưa đâu ? nay đâu ? mà ngồi nhìn đất nước thế này !.Hãy suy nghĩ lời của Samuel Huntington : ” Mô hình xung đột tiếp theo Chính trị thế giới đang bước vào một thời kỳ mới, và các học giả vội vã dội vào chúng ta những kiến giải về diện mạo tương lai của nó: sự cáo chung của lịch sử, sự phục hồi những cuộc cạnh tranh truyền thống giữa các nhà nước dân tộc, sự sa sút của nhà nước dân tộc trước sức ép của các khuynh hướng khác của chủ nghĩa phân lập bộ lạc, chủ nghĩa toàn cầu… Mỗi cách kiến giải này đều nắm bắt những khía cạnh riêng biệt của hiện thực đang hình thành. Nhưng tất cả chúng đều bó qua một khía cạnh cơ bản cốt yếu nhất của vấn đề.
    Tôi cho rằng nguồn gốc cơ bản của các xung đột trên thế giới này sẽ không còn là hệ tư tưởng hay kinh tế nữa. Các ranh giới quan trọng nhất chia rẽ loài người và nguồn gốc bao trùm của các xung đột sẽ là văn hóa. Nhà nước dân tộc vẫn là nhân vật chủ yếu trên sân khấu thế giới, nhưng các xung đột cơ bản nhất của chính trị toàn cầu sẽ diễn ra giữa các dân tộc và các nhóm người thuộc những nền văn minh khác nhau. Sự đụng độ giữa các nền văn minh sẽ trở thành nhân tố chi phối chính trị thế giới. Ranh giới giữa các nền văn minh sẽ là chiến tuyến tương lai.
    Sự đụng độ giữa các nền văn minh sẽ là giai đoạn diễn biến cuối cùng của các xung đột toàn cầu trên thế giới hiện đại. “… Nếu thế kỷ 19 và 20 thế giới là thế giới của người da trắng thì sau Chiến tranh lạnh thế giới là thế giới của người Mỹ quan niệm được …hãy góp phần chia sẻ gánh nặng với Hoa kỳ trong cuộc đụng độ với nền ” văn minh Hán ” giã từ ” Nho giáo ” !.

    • Thu that toi doc di doc lai nhieu lanphan dich doan van cua Samuel Huntington, va cuoi cung chang hieu gi ra’o Doan van viet bang tieng Viet voi ngu phap tieng Anh thi phai?

    • Tôi thật dốt , đọc chẳng hiểu gì cả , xin các bác giúp giải thích dùm . Xin đa tạ .

      • Em cũng như các bác vậy. Đọc đi đọc lại mà cũng không chắc bác T. H. Cơ muốn nói gì???

        Hình như là bác THC muốn nói là Cuộc chiến tranh kế tiếp sẽ là Văn Minh Hoa kỳ đung độ với Văn Minh Hán Tộc??? và muốn mọi người VN ở Hải Ngoại góp tay vào cuộc chiến này(tiếp taychia sẽ gánh nặng với Hoa Kỳ ).

        Đọc lại em cũng không biết là mình đang chia sẻ với các bác cái gì nữa… hi hi..

  3. Viết về người hùng Nguyễn Cao Kỳ thì nhiều người đã văng bút. Duy bài viết mới đây của ông Bằng Phong Đặng văn Ấu được editor Mạc việt Hồng của trang mạng Đàn Chim Việt đặt hàng để viết có lẽ được coi là bài viết mướn đặc sắc nhất trong năm. Ông Đặng văn Ấu dành toàn bài viết để ca tụng Nguyễn Cao Kỳ đúng như lời phi lộ của Đàn Chim Việt vì thấy các ý kiến đóng góp của độc giả về Nguyễn Cao Kỳ nhân đăng lại bài thuyết trình của ông tại trường Đại học cộng đồng De Anza cách nay khá lâu là bất công vì chỉ trích ông Kỳ quá nhiều trong khi bênh vực thì quá ít nên đã nhờ ông Đặng văn Ấu viết bài về ông Kỳ để gọi là cân bằng khen chê! Kể cũng lạ, đã gọi là diễn đàn thì có ý kiến thuận nghịch, nếu nghịch nhiều hay thuận nhiều thì ban biên tập nên tổng hợp ý kiến để làm thước đo dư luận về một khuôn mặt quần chúng ( public figure) cớ sao lại cần đặt bài viết nghịch lại ý kiến đa số trong cái gọi là tìm sự cân bằng cho sự thuận nghịch?
    Trở lại bài viết của ông Đặng văn Ấu, ông đã làm tròn chức năng trong bài viết được ordered, nghĩa là ông ca tụng Nguyễn Cao Kỳ hết lời không kém các ký giả của báo chí lề phải ca tụng Bác Hồ. Nhân danh là người bạn nên ông biết ông Kỳ có những đặc tính “không ai biết” để giải độc dư luận bất lợi cho Nguyễn Cao Kỳ. Trong những nét đẹp viết về ông Kỳ thì đặc tính không tham nhũng là đức tính khó tìm ở các nhà lãnh đạo đương thời! Tôi đã đăng thắc mắc của tôi để được ông Ấu hoặc bất cứ ai hiểu biết cặn kẽ về ông Kỳ việc bài báo của một ông trung tá (quên tên) trưởng quày hàng quân tiếp vụ Sài Gòn ( đường Tô Hiến Thành) đăng trên báo ở SG trước ’75 về lời than phiền ông bị ngưng chức vì không đóng góp hụi chết mỗi tháng 25.000$ cho chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương. Ông kể lại khi ông Kỳ làm lớn, có gọi ông tới và chỉ thị ông phải đóng góp hàng tháng số tiền trên, ông vâng dạ ra về nhưng không làm tròn “bổn phận” vì không tìm ra cách nào hay nhất để có số tiền nầy mà không phạm vào các qui định của cục Quân tiếp vụ nên ông đã không có tiền để đong góp! Liền sau đó không lâu, ông có lệnh thuyên chuyển! Thắc mắc kế tiếp là sau khi ông Kỳ về vườn, ông dùng “sức cùng lực tận” để chiếm hơn 3.000 hectares đất rừng ở Khánh Dương, dùng phương tiện và nhân lực quân đội để khai thác làm trang trại riêng. Đây có phải là đặc tính không tham nhũng như ông Ấu viết ra không? Các việc trên thực ra nhan nhãn xảy ra trong hàng tướng lãnh và các viên chức cấp cao, không riêng gì Ông Kỳ nhưng vì ông Ấu nêu đặc tính không tham nhũng một cách khẳng định nên nhờ ông và các vị theo dõi thời cuộc hồi xưa góp ý để xóa tan huyền thoại trong sạch tưởng tượng mà ông Ấu nêu ra để bênh vực ông kỳ. Nói cho đúng ra, Nguyễn Cao Kỳ có đong góp công lao để ổn định chính trị bát nháo do CS dực dây thời đó, VD ông dùng tương Loan để ổn định tình hình nhóm Phật giáo quá khích gây ra gọi là biến loạn miền Trung, đó là công lao lớn của ông và một số việc khác tuy nhiên kiểm lại thì số hạt đậu trắng ông có được cũng còn thấp xa những hạt đậu đen trừ khi nhìn đen thành trắng như bài viết của ông Bằng Phong Đặng văn Ấu!

  4. http://en.wikipedia.org/wiki/Samuel_P._Huntington
    tôi không rành tiếng Anh xin người quan tâm vào trang trên dể biết về suy tư của Huntington….Việt nam sẽ ra sao trong cái thế giới mà người Mỹ đã làm phẳng ra này …nhờ đó mà ta thấy nhau qua ngàn dậm
    Chúc các bạn người Mỹ gốc Việt có điều kiện hơn người Việt trong nước ( dặc biệt là tự do và bình đẳng về cơ hội ) sống cuộc đời có ý nghĩa hơn….là chỉ bốn món ăn chơi

    • Tui lục lọi một hồi trên mạng, kiếm được một đọan văn hơi giống giống bản phiên dịch bằng tiếng Việt cũa bác THC. Xin cắt và dán đoạn văn trên ở đây đễ rộng đường dư luận

      “It is my hypothesis that the fundamental source of conflict in this new world will not be primarily ideological or primarily economic. The great divisions among humankind and the dominating souce of conflict will be cultural. Nation states will remain the most powerful actors in world affairs, but the principal conflicts of global politics will occur between nations and groups of different civilizations. The clash of civilizations will dominate politics. The fault line between civilizations will be the battle line of the future”

      Tri’ch The Clash of Civilizations ? Samuel P Hamilton

  5. Tui cũng dậy các bác , đọc tới đọc lui cũng chả hiểu ông Cơ muốn nói ký gì. Đúng là nhà quê nhà quéo ,cứ thấy tên ông Tây ông Mẽo là xanh mặt xanh mày ,lại thêm cái link ông Cơ cho mở ra thấy tàn là tiếng Mẽo là sợ thí mồ ,tiếng của Công Tử là Tự Teo kiêm tự ti ngu dốt. Ráng đọc với cuốn Tự Điển Anh Việt kế bên cũng chả lãnh hội được gì ,càng đọc càng ngu. Thôi thì ,xin ông Tô huy Rứa ,xin lỗi Tô huy Cơ , đã làm ơn dậy dỗ, thì xin ông làm ơn cho chót. Xin ông Cơ cho chúng tôi biết ông Mẽo này là cái chi chi của chúng tôi ,và tại sao chúng tôi cần phải biết CÁI suy tư của ổng và phải đọc ổng để ” sống cuộc đời có ý nghĩa hơn…là chỉ bốn món ăn chơi(?) ” như ông Cơ đã dậy.

    Xin rữa tai chờ nghe lời chỉ dậy của người học rộng biết nhiều Kính.

    • ” Tô huy Cơ, on September 22, 2008 at 4:57 am Said:
      Bập bẹ vào Web mà biết được Hoàng Hải Thủy người mà vợ tôi ( Pham thị Thanh – con gái của ông Phạm đình Tước và bà Dương thị Mùi ) phải gọi bằng cậu .Tôi tuổi quí mùi 1943 kém cậu một thập can , vào năm 1974 bị giải lên trại Phong Quang ( Lào Cai ) ,ở đó tôi cùng một toán tù với thi hào Nguyễn Chí Thiện ( mà bây giờ trên báo Saigonnho có đăng bài của một kẻ dấu mặt có tên là Triệu Lan với nội dung nói xấu và thách thức người bạn tù của tôi ).Rồi vô tình tôi lại lạc vào blog này của cậu Hải nên nẩy ý nhờ cậu ( nếu biết tên Triệu Lan kia là ai ) hãy bảo với hắn rằng đừng lợi dụng cái Tự do của đất nước Dân chủ Tự do mà thở những dọng điệu thối tha từ cái mồm thối của hắn!.Thôi , lần đầu tiên biết cậu qua blog này cho cháu ( Tô huy cơ – chồng của Phạm thị Thanh – tohuyco@yahoo.com.vn – 126 Trấn Vũ Hà nội ) được chào cậu và cầu chúc cậu khỏe và đạt được nhiều điều may mắn .”

      Xin xem phan Lien Lac .

      —————————————————————————

      Xin chào Bác Backy54,

      Bác Tô Huy Cơ là cháu rể của Bác CTHĐ và cũng bị đám CSVN bán nước bỏ vô tù 1 thời gian.

      Em tin bác THC là 1 trong những kẻ sĩ Bắc Hà hiếm hoi còn xót lại. Mặc dù bác THC đang sống ở trong nước nhưng vẫn theo dõi tình hình người Việt hải ngoại , vẫn đóng góp ý kiến trên trang mạng này mà không sợ tụi chó VNCS làm khó dễ. Em tin chắc rằng bác THC là phe ta đấy bác Backy54 ạ.

      Em không nghĩ bác THC có dây mơ rễ má gì với tên Tô h. Rứa hoặc kiều phong đòn gánh đâu.

    • Bác BK54 dữ hén? Bán ra-phan ào ào Đánh cho Mỹ cút nhưng bám đuôi Mỹ, nó ho ra một tiếng thì vồ chụp khen ngợi tíu tít Ba Trợn tui ban đêm bán cây xăng, ban ngày đi học lớp I Ếch Eo mà đọc đoạn văn từ bản tiếng Anh đăng bởi NDT hiểu dễ dàng hơn là cái bản dịch thổ tả từ mấy ông dịch “giả” bên VN Còn “bốn món ăn chơi” của ông THC thì “xin trã lai người” Đi cầy xứ người trả nợ nhà hai bên bờ biển Thái Bình, mệt ứ hự, thì giờ đâu mà hửởng hả bác Tô Huy Cơ.

  6. Thưa Quí Anh, sao kỳ quá, mỗi lần tôi nghe nói tới 3 chữ
    Nguyễn Cao Kỳ bổng dưng tôi cảm thấy muốn ói thấy bà cố bác
    Hồ. Xin quí Anh tha lỗi, vì tôi trước đây chỉ là một nghĩa quân gác
    cầu Chẹt sậy, chi khu Giồng Trôm, tỉnh Kiến Hoà,nước Việt Nam
    Cộng Hoà. Tôi ít học nhưng không thuộc vào loại người nhổ ra rồi lại liếm vào, giá áo túi cơm, bưng bô rửa đít cho cộng sán
    Hà Nội. Năm 1965, thật là trao duyên lầm tướng cướp đó Quí Anh ơi!!! Gian hùng thời chiến, lòn trôn thời bình. Phục ông sát đất,ông ạ!….Tư Thẳng.

  7. Gởi bácPham Loc ,tui chịu cái câu “Gian hùng thời chiến ,lòn trôn thời bình ” của bác dể chỉ con người Ng Cao Cầy thiệt là đúng quá xá. Mèn ơi ,cảm khái quá trời với 8 chữ dzàng này. Tui mà là NC Cầy thì tui tự vận chết quach cho rồi ,nhục quá sống làm chi cho vợ nó khi cho con nó buồn ,(nói nhỏ, “con” của chả hổng biết có biết buồn không nha ,chứ tui thấy là “cỏn” trước khi nói là cứ cười he he,hehe để làm duyên mà thiệt ra là dô duyên hết sức ,nhạt như nước ốc ,lấy tay chọt nách cũng cười hổng nổi ,thiệt là gái vô duyên chưa nói đã cười !)

    Theo tui không phải từ năm 1965 ta mới trao duyên lầm tướng cướp cao cầy mà mà kể từ ngày 1 tháng 11, 1963 ,miền Nam ta đã bị hiếp dâm rồi bán vô lầu xanh bởi những tên ma cô dắt mối , những Mã Giám Sinh thời đại như duong van minh ,mai hữu xuân….để dến năm 75 cững chính những tên phản thầy giết chủ này hai tay dâng nạp miền Nam cho loài quỷ đỏ ,loài quỷ mà quỷ sứ dưới địa nguc gặp chúng còn phải quỳ xuống kêu bằng sư phụ !!!

    Xin lỗi các bác, nhắc đến đám cầm thú này không những muốn ói mà còn muốn ị nữa cho nhẹ bụng. Lãnh đạo miền Nam đều là Gian hùng thời chiến,lòn trôn thời bình thì không mất nước mới là chuyện lọa.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: