• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Nửa Thế Kỷ Xưa

Ảnh Tháng 10, 1975, Sài Gòn quằn quại trong vòng kìm kẹp của cái gọi là Ủy Ban Quân Quản. Người VNCH đi tù, sách, nhạc VNCH bị coi là đồi trụy, phản động. Người nhẩy đầm trong nhà riêng bị bắt. Trong ảnh: cả 10 tên bộ đội CS đi bắt một đám thanh niên Sài Gòn nhẩy đầm, cho đeo bảng dẫn đi riễu phố. Ảnh này xưa đã 35 năm.

1975 – 2010… 38 mùa lá rụng đã qua đời tôi.. Sáng nay, buổi sáng Ngày 11 Tháng Chín năm 2010, sống những ngày tị nạn cộng sản cuối đời ở xứ người, tôi thấy trên màn ảnh TiVi những cảnh người Mỹ tưởng niệm Tai Họa 911 Trăm Năm Một Thưở của họ.

Sau mùa hè nắng nóng, đêm qua mùa thu tha thướt trở lại Rừng Phong, sáng nay trời Virginia Xanh mát.

Cảm vì Em bước chân đi
Nước rung mặt ngọc lưu ly phớt buồn.
Anh về xa mái cô thôn
Mình Anh trong khói hoàng hôn nhớ nhà.
Từ Em mới bước chân ra
Tuy rằng cách mặt, lòng ta chưa sầu
Nắng trôi, vàng chẩy về đâu?
Hôm nay mới thật bắt đầu là Thu…

Tôi không ưa Trần Dần. Phải viết cho đúng là tôi không ưa bất cứ anh văn sĩ, thi sĩ đương thời nào của bọn Bắc Cộng. Tôi coi họ và tôi gọi họ là những Văn Nghệ Sĩ Bị Rọ Mõm.

Trần Dần được nhiều ông Việt văn nghệ lưu vong sống ở Pháp, Mỹ ca tụng, bốc lên mây xanh, tôi thấy tởm khi đọc những việc ông văn nghệ sĩ Bắc Hà Trần Dần làm trong thời gọi là Nhân Văn Giai Phẩm, những việc do chính Trần Dần ghi lại trong quyển GHI – xuất bản năm 2000 ở Paris – như việc Trần Dần đầu hàng bọn Tố Hữu, Trần Dần quì mọp nhận tội, Trần Dần xin tha, như việc “ba Nhà Văn Nhân Văn Giai Phẩm có khí phách” Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Ðạt mở cuộc tố cáo, kết tội Nhà Văn Phùng Cung, tôi càng tởm hơn khi tôi đọc những vần Thơ Dzờ Dzoạc làm sau năm 1980 của Trần Dần. Vụ ba ông “ Nhà Văn Nhân Văn Giai Phẩm khí phách đầy người “đứng ra tổ chức cuộc họp văn nghệ để tố cáo Nhà Văn Phùng Cung không được ông Trần Dần ghi một dòng chữ nào trong tác phẩm GHI, không được ba ông Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Ðạt nhắc đến nửa lời. [1]

Nhưng trong bài Viết ở Rừng Phong đầu Thu 2010, tôi phải ghi và kể với quí vị bạn đọc một chuyện tôi cho là “hay” về Trần Dần..

Một tối cuối năm 1975, hay đầu năm 1976, tôi gặp Hoài Bắc ở Ngã Ba Ông Tạ. Khoảng 9 giờ tối, trời mưa lâm râm, Sài Gòn tắt điện, thành phố âm u, từng đoàn người trên xe đạp lầm lũi đi dài dài hai bên đường như đoàn người đi xuống địa ngục. Hai chúng tôi đi trên xe đạp. Xe Hoài Bắc có cái bị cói móc ở ghi-đông. Chúng tôi ghếch xe lên vỉa hè, đứng trong bóng tối nói chuyện.

Hoài Bắc nói:

“Văn Cao chưa vào được. Bà Văn Cao vào. Văn Cao nhắn nói với Thái Thanh: “Hát như cô mới là hát. Ở ngoài này chúng nó không biết hát.” Trần Dần nhắn bà Văn Cao nói với Vũ Hoàng Chương: “Anh yên tâm. Thơ Anh và Thơ Anh Hùng không bao giờ mất được.”

Khi bà Văn Cao vào Sài Gòn, Thi Bá Vũ Hoàng Chương chưa bị bọn Công An Thành Hồ bắt.

Ngay trong những ngày đen tối nhất của Quốc Gia VNCH năm 1976, 1977 – đen hơn bóng tối, đen hơn cái Lá Ða Ca Dzao, đen đến không còn gì có thể đen bằng – khi toàn bộ Thi Văn VNCH bị bọn Bắc Cộng thẳng tay hủy diệt, khi Thơ Vũ Hoàng Chương, Thơ Ðinh Hùng bị bọn Ðồ Tể Văn Nghệ Bắc Kỳ kết án là “Thơ Bệnh Hoạn, Thơ Ma Mị”, hai loại Thơ chúng cho là có tội nặng hơn cả Thơ Phản Ðộng, Trần Dần đã nói ngay một câu chắc nịch như thế. Cái “nhìn thấy trước” của Trần Dần thật sáng. Ðúng như lời Trần Dần nói ngay từ những ngày Lão Già Hồ mới chân ướt, chân ráo láo ngáo vào Sài Gòn:

Thơ Vũ Hoàng Chương, Thơ Ðinh Hùng không bao giờ mất được.”

Sáng nay thu về trên Rừng Phong, nhớ Thơ Mùa Thu Ðinh Hùng, tôi nhớ và kể chuyện Trần Dần nói về Thơ Ðinh Hùng.

Tháng Bẩy năm nay – 2010 – tôi viết mấy bài về các văn nghệ sĩ đã sống, đã chết ở Sài Gòn kể từ những năm 1960. Bài hôm nay tôi viết về TÚ KẾU.

Ðây là tài liệu về Tú Kếu trên Internet:

Nói tới Tú Kếu Trần Ðức Uyển người ta nghĩ và nhớ đến những bài “Thơ Ðen, Thơ Chì” của ông. Và như thế, người ta nhớ và biết đến Tú Kếu nhiều hơn biết Trần Ðức Uyển.

Chúng ta có rất nhiều thi sĩ, nhưng những người làm thơ trào phúng, châm biếm, để lại tên tuổi, chỉ có thể đếm được trên những đầu ngón tay. Tú Kếu là một trong những nhà thơ hiếm hoi ấy.

Ðiều đó chứng tỏ, Thơ Trào phúng không phải là thể Thơ dễ làm. Trong 20 năm Tú Kếu đã làm nhiều Thơ Châm Biếm hơn Trần Ðức Uyển làm Thơ Tình. Rồi thi phẩm “Thơ Ðen” của ông được in ra với tên tác giả Thi sĩ Tú Kếu. Nên người đọc Việt Nam biết Tú Kếu nhiều hơn họ biết Nhà Văn Nhà Thơ Trần Ðức Uyển là một điều tự nhiên.

Nhưng, ký hai cái tên khác nhau như thế, rõ ràng ông đã phân biệt hai công việc riêng biệt. Ngoài “Thơ Chua, Thơ Chì, Thơ Ðen” trong những năm từ 1965 đến 1975 còn có bao nhiêu Thơ Tình ký tên Trần Ðức Uyển, không ai biết rõ.

Sau biến cố Tháng Tư 1975, ông bị cộng sản bắt giam tù hơn 10 năm, những ngày ở tù, những ngày còn lại sau đó, ông nghĩ gì, làm gì, cũng như hầu hết các văn nghệ sĩ ở miền Nam khi ấy, chỉ một mình ông biết.

Ngoài sáng tác Thơ, Trần Ðức Uyển còn dịch một số truyện ngắn ngoại quốc ra Việt ngữ, các bản dịch thơ Langston Hughes của ông được coi là rất đạt.

Một vài bài thơ của Trần Ðức Uyển, do bằng hữu của ông mang ra được nước ngoài, hay bằng cách nào đó lọt được ra hải ngoại, cho thấy, ông có một hồn thơ trong suốt. Hình như hoàn cảnh đen tối không làm u ám tâm hồn ông.

Bài thơ “Buổi Chiều Ngồi Trên Ðồi”, làm sau năm 1975, của ông là một thí dụ:

Ngồi dưới gốc cây gõ ống trúc
Hứng thú nghêu ngao vài ca khúc
Trên cành lảnh lót tiếng chim xanh
Trời đất thu tròn trong khoảnh khắc

Gió cao lồng lộng hồn cao tĩnh
Học thói người xưa đắc đạo vàng
Rũ bụi khi về tưng gót nhẹ
Bóng mình phấp phới trên đồi ngang.

Tự hỏi về đâu! Ðâu chẳng được!
Hãy tìm bên suối ngủ đêm nay
Gối đầu lên đá nhìn trăng sáng
Rừng núi mù sương ướt chẳng hay

Trước những bạo hành của cuộc sống, phản ứng của nhà thơ đôi khi kỳ lạ: Cố giữ một trạng thái tâm hồn bình an, trong sáng, một tâm trạng mà những kẻ chủ trương bạo động không bao giờ có thể có được. Không có được trạng thái tâm hồn như thế người ta sẽ không bao giờ làm được những gì Thi sĩ làm được, đó chính là Thơ:

Sáng thức dậy ra vườn
Lòng nhẹ tênh mùi đạo
Tai vừa nghe chim hót
Ðã thấy mình vô vi

Hoa sớm còn e ấp
Mắt lá lệ long lanh
Ôi những buồn chất ngất
Trôi sạch tự khi nào

Dòng sông hồn trong trẻo
Chảy ngược xuyên thời gian
Gặp hồn xưa quấn quít
Trong màu sắc huy hoàng

Biến thiên của cuộc sống nhiều khi đẩy con người vào những hoàn cảnh khốn cùng đến nỗi, người ta không dám tin rằng trên đời còn có ánh sáng nữa!

Thơ xua đuổi bóng tối, đẩy lui những đám mây mù, thắp sáng lại hy vọng. Thi sĩ chuyển giao niềm hy vọng ấy cho cuộc đời:

Núi cao chót vót trời cao rộng
Ta ném mình lên vút ngọn cao
Bỗng thấy dưới chân mây nổi sóng
Tưởng ngẩng đầu tay với được sao

Ta ngao du khoái tỉ vô cùng
Trăng lên dây đàn tơ khẽ rung.
Gió lộng nghe lòng thương bạn hữu
Biết gặp nhau chăng giờ lâm chung

Vài cánh chim đêm xoải vội vàng
Quanh mình trăng lụa nõn mênh mông
Nằm đây đồi cỏ nghe trời rộng
Nghe cả chiều sâu của sắc không

Sau 1985 khi đi tù CS về Tú Kếu Trần Ðức Uyển sống ở Sài Gòn mấy năm rồi về Bảo Lộc, vùng cao nguyên trồng Trà gần Ðà Lạt.

Những ngày cuối cùng ấy ông bị chứng Alzheimer. Hiển nhiên, bệnh trạng của ông là nỗi khổ của gia đình ông. Nhưng rất có thể đó lại là điều may mắn cho chính ông. Không ai ở trong những trại được gọi là “cải tạo” ra mà cả thể xác lẫn tâm hồn lại không bị thương tổn và dễ dàng quên được những gì đã xẩy ra với mình cùng những người chung quanh.

Có lẽ chỉ có căn bệnh – Alzheimer – cho đến nay vẫn chưa có thuốc chữa ấy, mới giúp người tù xóa bỏ được ký ức đen tối chăng?

Có thể coi, những bài thơ cuối cùng của Trần Ðức Uyển đã được viết giữa ranh giới của những ngày nhớ/ quên của ông và không vướng một chút oán hận nào:

Người hỏi vợ anh đâu?
Ta đáp không mà có
Nhân gian dưới trời sâu
Tỷ tỷ nằm trong mộ

Lại hỏi nay đi đâu
Nơi vui không thiếu chỗ
Hãy cứ đi trên đường
Cất tiếng ca cùng gió.

Thơ Tú Kếu chửi Ðảng

Năm mươi năm đời ta có Ðảng
Ðảng cho ta khoai sắn thay cơm
Năm mươi năm đời ta có Ðảng
Ðảng cho ta áo rách vai sờn
Nhờ có Ðảng ta quen với Ðói
Ngày càng ngày gần với điêu ngoa
Yêu mến Ðảng là yêu gian dối
Là yêu luôn cả những tà ma!

Ðây là đoạn tài liệu thứ hai về Tú Kếu trên Internet:

Ông đă cùng với ông Chu Tử (chủ nhiệm Nhật báo Sóng Thần) sau năm 1976 lập một tổ chức mang tên là Nguời Việt Tự Do nhằm mưu đồ Phục Quốc. Tổ chức này bị VC khám phá, bắt và xử tử hình 23 người vào năm 1976, Tú Kếu Trần Ðức Uyển mang bản án 18 năm tù, dành cho Ủy Viên Văn Hóa của tổ chức. Ðến năm 1989 ông được thả ra, nhưng vẫn bị quản chế tại gia 5 năm. Ðến năm 1992, Tú Kếu đồng ý với đường lối chính trị của Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc và Xây Dựng Dân Chủ của ông Nguyễn Ðình Huy nên có nhiều liên hệ mật thiết với ông Nguyễn Ðình Huy. Năm 1993, Phong Trào bị đàn áp, Tú Kếu bị công an kêu lên kêu xuống hành hạ về tinh thần khiến ông mất trí nhớ và lâm trọng bệnh, ông bị bệnh Quên và qua đời năm 2002.

Bài thơ trên là một trong những bài Tú Kếu làm trong lao tù, được đăng trên báo Ðông Á tại Hoa Kỳ. Toàn bộ số tác phẩm của ông bị VC tịch thu và tiêu hủy.

Nhân một lần gặp Nhà Văn Lê Văn Trương trong đường phố Sài Gòn những năm 1960, Tú Kếu làm bài Thơ:

Nhớ Một Lần Bác Trương

Một lần tôi gặp Bác lang thang
Bác gọi tôi sang giọng vội vàng:
“Ðằng ý có tiền cho tớ ít !”
Ðường trưa bốc khói nắng chang chang

Lúc ấy tôi đang quả thật nghèo
Tiền lương viết báo chẳng bao nhiêu
Tay không lúng túng sờ trong túi
“Còn mỗi trăm đồng bác tạm tiêu”

“Một trăm tốt quá “Mẹc-xi vu”
“Chính phủ mày xem chúng nó mù
“Văn nghệ như tao mà bị đói
“Trách nào không khổ bọn dân ngu.”

Bác nói tôi nghe mủi cả lòng
Ngày xưa có thuở Bác thành công
Một thời hiển hách ngôi thần tượng
Tiền bạc ê hề như nước sông!

Thấm thoắt qua đi đã hết thời
Bây giờ Bác rách chẳng ai chơi
Cái đời văn nghệ buồn hơn chó
Thua thiệt riêng mình thua thiệt thôi

Từ đấy đôi lần nhớ Bác Trương
Lòng tôi se thắt nghĩ mà thương
Thương mình, thương Bác, thương đồng nghiệp
Muốn dứt tơ tằm sợi vấn vương

Con tằm dứt ruột nhả tơ dâu
Rút cuộc hồn đơn nặng gánh sầu
Nhân thế lập lờ đôi mắt giấy
Chiều tà bóng xế ngẫm càng đau

Ngưng trích bài trên WEB về Tú Kếu.

Nhà Văn Lê Văn Trương

CTHàÐông: Một buổi chiều cuối năm 1975 hay đầu năm 1976, tôi gặp cậu em vợ của Tú Kếu. Khi ấy tôi nghe anh em nói Tú Kếu bị bắt trên Ðà-lạt, cậu em cho tôi hay:

– Chúng nó xử anh Tú em 18 năm tù.

Hai chân tôi mềm ra, tôi muốn ngồi sụp xuống vỉa hè. Tú Kếu đi tù Cộng sản 18 năm? Làm sao sống nổi? Chết là cái chắc. Hai văn nghệ sĩ bị đi tù Cộng sản tôi tin chắc sẽ chết trong tù là Tú Kếu và Phan Nhật Nam. Phan Nhật Nam cương cường quá, Tú Kếu quá yếu về sức khoẻ.

Những ngày như lá, tháng như mây.. Năm 1989 nằm phơi rốn trong Nhà Tù Chí Hoà, tôi được tin Tú Kếu đã trở về. Năm 1989 tôi giã từ Nhà Tù Chí Hoà để đến Trại Tù Khổ Sai Z 30 A. Tại đây tôi gặp Lê Hoàng Anh, một người tù chính trị án 20 năm khổ sai trong tổ chức của Tú Kếu. LH Anh cho tôi biết Tú Kếu, và anh, đựơc chuyển từ Nhà Tù Ðại Bình, Ðà-lạt về đây được mấy năm, Tú Kếu đã ra khỏi tù – Án tù của Tú Kếu là 18 năm, người tù Tú Kếu ở tù 14 năm, nếu tôi đến Z 30 A sớm hai năm, tôi gặp Tú Kếu ở đây – tôi lập tức nhờ vợ con các bạn tù đến trại thăm nuôi người tù cầm thư về nhà cho vợ con tôi, dặn vợ con tôi cầm thư tôi đi tìm đưa cho Tú Kếu, tôi viết trong thư:

Anh Doãn Quốc Sỹ và tao lên Z 30 A. Mày lên gặp chúng tao ngay.”

Tú Kếu là con rể ông Chủ Hãng Trà Tiến Ðạt, một nhà sản xuất trà nổi tiếng ở Sài Gòn. Nhà Tiến Ðạt có trại trồng trà ở Bảo Lộc. Nghe nói Tú Kếu có tiền, giúp nhiều khoản công ích cho trại, cho bạn tù, được Trưởng Trại và nhiều cai tù trọng nể nên tôi muốn Tú Kếu lên giới thiệu cho tôi vài câu.

Tú Kếu lên Z 30 A ngay, trên xe Honda do người em lái. Anh lên gặp Trưởng Trại rồi gặp anh Sỹ và tôi, anh cho tôi một khoản tiền.

Năm 1981 mãn án tù, tôi trở về mái nhà xưa và gặp lại Tú Kếu mấy lần. Lần cuối tôi gặp Tú Kếu là buổi tối trong tiệc cưới con của Thanh Thương Hoàng năm 1993. Vào năm này đời sống của đa số anh em ký giả Sài Gòn chúng tôi đã dễ thở, nhiều anh đi Honda, đi ăn cưới nhiều anh mặc lại những bộ complet veston xưa, anh nào luộm thuộm lắm cũng có cái cravate. Ăn xong, một số anh em chúng tôi hội lại ngoài sân chụp ảnh. [2]

Tôi báo với Tú Kếu:

“Tao và vợ con tao sắp sang Mỹ.”

Tú Kếu nói:

“Mày đi đi. Tao không đi.”

Anh ôm tôi, hun tôi. Anh để râu lởm chởm. Râu anh đâm vào má tôi. Tôi kêu:

“Râu mày làm tao nhột quá. Cứ như là Phi-đen Cát-trô hôn tao vậy.”

Ông Chu Tử Chủ Báo Sống đi khỏi Sài Gòn Ngày 30 Tháng Tư 1975, không có ông trong Tổ Chức Người Việt Tự Do chống Cộng cùng với Tú Kếu.

_______________________________________________________

[1] GHI: Hồi ký của Trần Dần, xuất bản ở Paris năm 2000.

Người kể chuyện ba ông Nhân Văn Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Ðạt dựng tòa án tố cáo ông Phùng Cung tội phản động chống Ðảng là anh Phùng Hà Phủ, con trai của Nhà Văn Phùng Cung.

[2] Trong tiệc cưới con của Thanh Thương Hoàng ở Sài Gòn năm 1983 có các anh Mặc Thu, Như Phong, Choé, Tú Kếu. Nay bốn anh đã ra người thiên cổ.

Advertisements

10 Responses

  1. Những người muôn năm cũ,
    Hồn ở đâu bây giờ ?!?

  2. “Năm 1981 mãn án tù, tôi trở về mái nhà xưa và gặp lại Tú Kếu mấy lần. Lần cuối tôi gặp Tú Kếu là buổi tối trong tiệc cưới con của Thanh Thương Hoàng năm 1983. Vào năm này đời sống của đa số anh em ký giả Sài Gòn chúng tôi đã dễ thở,…”
    Bác viết có nhầm không? Năm 83 đời sống dân SG đen như mõm chó mực, theo cách nói của bác. Chắc bác nhầm với năm 93 chăng.
    Năm 83 thì tôi còn nằm tênh hênh trong trại Thanh Cẩm, còn ai mà ở SG thì mặt mày méo xệch, nhấp nhổm chờ … vượt biên.

    • Theo thiển ý của tôi, căn cứ vào trình tự thời gian của câu chuyện thì ĐÓ LÀ NĂM 1991 THÌ ĐÚNG HƠN.

      Nếu bắt đầu từ đoạn : “Những ngày như lá, tháng như mây.. Năm 1989 nằm phơi rốn trong Nhà Tù Chí Hoà, tôi được tin Tú Kếu đã trở về”…. Hình như Bố Già CTHĐ bị lỗi typo – gõ là 1981, nhưng thực ra là 1991 -thì phải ? Bác xem lại thử.

    • Sept.18. 2010. Cam on Ban Ngan Vo. Toi viet sai: 1993, khong phai 1883. Xin loi qui vi doc gia. CTHD

    • Sept. 18, 2010. Lai viet sai: 1993, khong phai 1883. Toi xin loi. CTHD

  3. Trích :

    …”Anh ôm tôi, hun tôi. Anh để râu lởm chởm. Râu anh đâm vào má tôi. Tôi kêu:

    “Râu mày làm tao nhột quá. Cứ như là Phi-đen Cát-trô hôn tao vậy.” …

    Ngưng trích.

    Cũng là ‘UM HUN THẮM THÍT”, nhưng chả chết thằng tây nào. Giả sử người um hum CTHĐ là … Đỗ Mười chẳng hạn ! Bảo đảm là đời Công Tử sẽ “lúa” liền một khi !

  4. Em vừa sửa đấy các bác.

  5. […] Ôn lại mấy chuyện  hồi thời “được giải phóng”  : Nửa Thế Kỷ Xưa (Hoàng hải Thủy blog) […]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: