• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

THI SĨ và TÙ NGỤC

Theo tôi, ông Huỳnh Thúc Kháng là “Người Tù Việt Nam Thứ Nhất viết Hồi Ký về những ngày Tù Ðày của mình.”

Tiến sĩ - Thi sĩ Tù Nhân Côn Đảo Huỳnh Thúc Kháng

Ba Nhà Yêu Nước Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Ngô Ðức Kế cùng bị Pháp bắt tù như ông Huỳnh Thúc Kháng, ba ông bị tù cùng thời với ông Huỳnh Thúc Kháng, nhưng ba ông vừa kể viết rất ít về cuộc tù đày của các ông,

Tiến sĩ – Thi sĩ Huỳnh Thúc Kháng sinh năm 1876, mất năm 1947, sinh quán làng Thanh Bình, tỉnh Quảng Nam, đỗ Giải nguyên năm 1900, đỗ Hoàng giáp năm 1904, năm ông 28 tuổi. Ông không ra làm quan, ông về sống như thường dân ở làng quê của ông. Ông bị Pháp bắt năm 1908. bị Pháp đày ngay ra Nhà Tù Côn đảo trong năm 1908. Ông sống đời Tù Nhân Côn Ðảo trong 13 năm – Ði tù từ năm 1908 đến năm 1921 ông mới trở về Quảng Nam.

Dù không muốn, tôi phải viết là chính quyền Thực Dân Pháp ở Ðông Dương, những năm xưa thường được dân Nam gọi là Chính phủ Bảo Hộ, đã đối xử rất tế nhị, nôm na, dễ hiểu là “nhẹ tay” với những Ông Tù người Nam chống Pháp. Nổi bật là trường hợp Người Tù Côn Ðảo Huỳnh Thúc Kháng.

Tù Côn Ðảo 13 năm trở về quê quán, Ông Tù Huỳnh Thúc Kháng không bị bọn Mật Thám Pháp làm khó dễ chi cả. Trái lại, ông được hưởng trọn quyền công dân, quyền ứng cử. Năm 1926, chính phủ Phàp cho tổ chức bầu cử hai Viện Dân Biểu: Viện Dân Biểu Bắc Kỳ, Viện Dân Biểu Trung Kỳ; ông Huỳnh – tuy có án tù, không phải án tù thường mà là án tù nặng, án tù chính trị, bị tù 13 năm ở Côn Ðảo, vẫn có quyền công dân – ra ứng cử Dân Biểu Trung Kỳ. Ông đắc cử, được cử làm Viện Trưởng. Trong 3 năm làm Viện Trưởng Viện Dân Biểu Trung Kỳ, ông đấu tranh kịch liệt với Thực Dân Pháp. Năm 1927, ông phản đối thái độ khinh mạn Dân Biểu Việt của Jabouille, Khâm Sứ Pháp tại Trung Kỳ, ông từ chức Viện Trưởng, bỏ luôn chức vụ Dân Biểu.

Nhà Yêu Nước kiêm Tù Nhân Côn Ðảo Phan Châu Trinh. Ảnh chụp năm 1911, ông Phan sang Pháp cùng với người con trai tên Phan Châu Dật. Năm 1911, ông Phan 39 tuổi.

Từ chức Dân Biểu, ông Huỳnh ra làm báo, ông mở tờ nhật báo Tiếng Dân tại Huế. Tiếng Dân là tờ nhật báo Việt thứ nhất và duy nhất ở miền Trung. Trong lúc các ông Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Văn Vĩnh – hai vị có văn tài, viết hay, viết nhiều – nhưng làm báo nào là báo ấy ngắc ngoải, rồi chết, ông Huỳnh Thúc Kháng làm nhật báo Tiếng Dân sống mạnh, có toà soạn-nhà in riêng, nhân viên đến 30 người làm thường trực. Ra đời năm 1927, Nhật báo Tiếng Dân sống mãi đến năm 1943 mới đình bản.

Tôi viết Nhật Báo Tiếng Dân là tờ Nhật Báo Thứ Nhất và Duy Nhất xuất bản ở miền Trung vì sau khi Tiếng Dân đình bản, ngay cả trong thời Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà cực thịnh, miền Trung vẫn không có nhật báo riêng. Không có tờ nhật báo nào xuất bản ở miền Trung có thể sống được. Trong những năm từ 1950 đến 1975, những nhật báo phát hành ở Sài Gòn chiều hôm trước, 6 giờ tối theo tầu hoả, sáng sớm hôm sau đã có mặt ở Nha Trang, Ðà Nẵng, Huế. Nhật báo ấn hành ở Huế không có người mua, ít quảng cáo, không thể sống.

Tôi viết: “Chính phủ Bảo Hộ có chính sách đối xử rất mềm với, có thể nói là tất cả những Ông Tù Chính Trị Việt Nam”, đặc biệt là với những Ông Tù Nặng Ký tù nhiều năm ở Côn Ðảo trở về; các ông được trả quyền công dân, được sống yên ổn, không bị đe doạ bắt lại, không phải trình diện Sở Liêm Phóng theo kỳ hạn, không bị mật thám Tây hạch hỏi làm gì, nghĩ gì, đi đâu, gặp ai? Không bị cấm đi lại, không phải xin phép mỗi khì đi khỏi nơi cư ngụ. Các ông được quyền viết báo, làm báo. Các ông được quyền ra ứng cử chức vụ Dân Biểu.

Hồi ký-Thi phẩm THI TÙ TÙNG THOẠI của Nhà Thơ Yêu Nước Huỳnh Thúc Kháng.

Ông Tù Phan Khôi tù 3 năm, sau đó ông tự do đi ra Hà Nội, đi vào Sài Gòn, viết báo, làm văn, không cần xin phép, cũng không cần báo cho Mật Thám Tây biết. Theo lời kể của bà con gái ông Phan Khôi, có lần Sogny, Chánh Mật Thám Trung Kỳ, đi qua gần làng ông Phan Khôi, ghé vào nhà ông thăm ông. Hôm ấy ông Phan bị cảm cúm, nằm trùm mền trong phòng tối. Người con trai của ông vào báo có ông Chánh Mật Thám Tây đến thăm, đề nghị ông dậy ra tiếp, hay cho mở cửa cho phòng có ánh sáng để mời Ông Tây vào phòng.

Ông Phan nói:

“Kệ nó. Nó muốn gặp, cho nó vào.”

Và ông cứ nằm trùm mền trong giường. Chánh Sở Liêm Phóng Trung Kỳ Sogny vào phòng tối, hỏi thăm ông, nói với ông vài câu, rồi đi.

Ðến thời bọn Việt Cộng cầm quyền, chúng đối xử ác nghiệt, tàn tệ tận tình với những người tù chính trị trong chế độ chúng. Người tù chính trị thời Việt Cộng nếu không chết trong tù, khi được tha ra, phải sống đời tù tội suốt đời. Bọn Việt Cộng không cho người tù chính trị được làm bất cứ công việc gì, không cho đi đâu, chúng kiểm xoát họ ngày đêm, chúng luôn luôn đe doạ bắt họ trở vào tù, chúng tước đoạt cả quyền được sống của con cháu người tù chính trị. Chúng sợ nhất, chúng thù nhất việc người tù chính trị viết Hồi ký, làm Thơ, tàng trữ Thơ.

Ông Tù Ngô Ðức Kế bị bọn quan lại Triều Huế kết tội “tiềm thông dị quốc: lén thông tin với nước lạ”. Thời Việt Cộng cầm quyền, tội ấy là tội “gián điệp,” án xử gián điệp là tử hình.

o O o

Trong thời gian làm chủ nhiệm-chủ bút Nhật Báo Tiếng Dân, ông Huỳnh Thúc Kháng viết Hồi Ký Thi Tù Tùng Thoại đăng hàng ngày trên báo. Ðăng báo xong, các bài viết được thu tập và xuất bản thành sách.

Thi Tù Tùng Thoại được Nhà Xuất Bản Tiếng Dân, Huế, ấn hành lần thứ nhất năm 1939, năm 1952 Nhà Sách Nam Cường, Sài Gòn, tái bản Thi Tù Tùng Thoại.

Thi Tù Tùng Thoại được đăng trên nhật Báo Tiếng Dân từ số báo 1106 đến số báo 1196. Giữa những chuyện kể về Tù Ðày, về những người Tù Côn Ðảo sống và chết ở Côn Ðảo, Hồi Ký có nhiều bài thơ làm ở Côn Ðảo. Có một số Thơ do các ông Tù làm – toàn là Thơ Chữ Hán – được gửi về nước từ trước, đa số Thơ trong Thi Tù Tùng Thoại do Ông Tù Huỳnh Thúc Kháng nhớ. Trí nhớ của ông phi thường. Ông nhớ những bài Thơ ông làm, ông nhớ những bài Thơ, những câu đối của các Ông Tù khác. Bài Thơ, Câu Ðố chữ Hán nào cũng được ông dịch thành Thơ Việt.

Nhiều người, trong số có tôi, vẫn tưởng tên của ông là Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng, nhưng tên hiệu của ông là Mính Viên. “Mính” chữ Hán, theo Tự Ðiển Hán Việt Ðào Duy Anh là “lá trà non”. Như vậy “Mính Viên” là “Vườn Trà.”

Bản in Thi Tù Tùng Thoại ấn hành năm 1939 ỡ đầu sách có bài:

Yếu Ðiểm nên biết.

1-Bản này là kí giả chép góp thi và chuyện của một ít bạn chính trị phạm đồng tội trong thời gian 13 năm bị đày ở đảo Côn Lôn (Poulo Condore) mà kí giả là một người trong đồng bạn ấy, tai nghe, mắt thấy, toàn là chuyện thiệt, khởi đầu năm 1908 đến năm 1921.

2 – Xưa nay có nhiều thi thoại, như Tùy Viên thi thoại, Vũ Thôn thi thoại, Ẩm Băng Thất thi thoại ..vv..vv, chuyên nói chuyện Thi. Ðây kí giả cũng nói chuyện Thi, song có hai giới tuyến khác với các thi thoại kể trên đây.

a: Rành là thi làm trong cảnh ở tù và xen một ít thi được nghe trong lúc ở tù.

b: Thi của nhà thi nhân có ở tù, hoặc có quan hệ với lịch sử khoảng tù ấy, hoặc không phải là thi nhân mà ở trong tù có vài câu đáng ghi chép. Còn những thi và chuyện không dính gì đến cảnh tù thì không vào giới hạn này.

3 – Ðã hạn trong phạm vi người và thi ở tù, nên một bài thi, hay câu đối, hay chuyện văn thoại gì, tùy từng chuyện, từng bài mà chép ra, không có thứ tự, không có kết cấu, chỉ biên đoạn một, song ở trong có cái “ngó đứt, tơ liền”, riêng ra thì đoạn nào có phần đoạn ấy, mà nhập lại thành chuyện tù sử có đầu đuôi.

4 – Nguyên văn tác giả viết bằng chữ Hán, nay dịch ra Quốc ngữ, tinh thần, ý tứ không bằng nguyên văn, nhứt là thi văn thì dịch mười phần không được năm, sáu; song không mất bản ý.

Mời quí vị đọc Thi Tù Tùng Thoại. Trích:

Từ cuộc Mậu Thân Dân Biến trở đi, sĩ dân trong nước, vì tội quốc sự mà bị đày ra Côn Lôn kế tiếp nối gót nhau không dứt, mà người thứ nhất đứng đầu quyển Sổ Tù Côn Ðảo là cụ Phan Châu Trinh.

Cụ, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã, người làng Tây Lộc, phủ Tam Kỳ, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, đỗ Phó Bảng khoa Tân Sửu, triều Thành Thái ( 1901), làm quan đến chức Trước Tác. Từ quan về, chăm lo việc nước, vào Nam ra Bắc, đề xướng tân học.

Năm 1906, cụ vượt biển sang tận Nhật Bản, cùng cụ Phan Bội Châu thương xác chính kiến và việc tấn hành. Về nước cụ làm bản Ðiều Trần, đưa lên chính phủ Pháp, trong bức thư ấy nói rõ hiểm tượng xứ Ðông Dương cùng chỉ vạch tình tệ trong nước rất rõ ràng.

Vì bức thư Ðiều Trần ấy, quan trường có lòng thù ghét cụ. Năm 1908, nhân sự dân biến, cụ đang ở Hà Nội, bị bắt giải về Kinh, giam nơi Hộ Thành, kêu án chung thân, đày ra Côn Lôn, trong án kết hình phạt “xử tử, gặp ân xá cũng không tha” (ngộ xá bất nguyên).

Cụ về Kinh, ra trước Hội Ðồng Xử Án, khẳng khái một lời không chịu khuất. Bị nghiêm giam ở Hộ Thành, cụ tự nghĩ không có hy vọng sống.

Một bưã, có người đội và hai người lính vào nhà giam, xem xét xiềng gông, khoá tay cụ rồi dẫn ra khỏi ngục. Cụ định chắc là bị dẫn đi chém. Theo lệ, phàm tù trọng tội bị xử tử thì dẫn ra cửa Bắc ( Cửa An Hoà ), nhưng cụ bị dẫn ra cửa Nam. Cụ hỏi, người đội trả lời:

– Anh bị đày đi Côn Lôn.

Cụ khẩu chiếm bài thi:

Luy luy già toả xuất đô môn.
Khẳng khai bi ca, thiệt thượng tồn.
Quốc thổ trầm luận, dân tộc tụy.
Nam nhi hà sự phạ Côn Lôn.

Xiềng gông, cà kệ biệt Ðô môn.
Khẳng khái ngâm nga, lưỡi vẫn còn.
Ðất nước đắm chìm, nòi giống mỏn.
Thân trai nào sợ cái Côn Lôn.

Trong cảnh cùng sầu luân lạc, đọc bài tuyệt thi ấy cũng tự an ủy được.

II

Nhân vật trong thời quá độ, tù đày ra Côn Lôn, cụ Tây Hồ đứng đầu sổ, mà thân hào trong nước, mang cái chức Tù vào nhà ngục thì cụ Tập Xuyên là người thứ nhất, vì lúc cụ Tập Xuyên vào nhà ngục, cụ Tây Hồ còn ở Hà Nội.

Cụ tên Ðức Kế, họ Ngô, con quan Tham tri Ngô Huệ Liên, đỗ tấn sĩ cùng khoa Tân Sửu, triều Thành Thái với cụ Tây Hồ. Khoa hoạn nối đời, vẫn là một nhà danh phiệt ở tỉnh Hà Tĩnh.

Sau khi đỗ đạt, cụ ở nhà đóng cửa đọc sách, thường lưu tâm đến việc nước. Học thuyết Âu Tây mà người Tầu đã dịch trong sách, cụ đọc được nhiều và có chỗ tâm đắc.

Sau khi cụ Sào Nam Ðông độ ( đi về phiá Ðông: sang Nhật Bản), có tên ngụy tác Hạ (1) do viên Án sát Hà Tĩnh lúc ấy là Cao.. ..(2), xui nó khai vu cho cụ, bắt cụ, kêu tội “tiềm thông dị quốc”, giam ở ngục Hà Tĩnh gần một năm, rồi đày ra Côn Lôn.

Lúc ở ngục Hà Tĩnh, cụ làm bài thơ:

Mã tự du long, xa tự lưu.
Vấn dư hà sự độc u sầu.
Niên lai ái thuyết văn minh học.
Dinh đắc Nam quan, tác Sở tù.

Xe như nước chẩy, ngựa như rồng.
Vì cớ gì ta vẫn bực lòng.
Ham học văn minh đà mấy lúc,
Mão tù đâu khéo cấp cho ông!

Học văn minh mà đổi được chức tù, câu nói chua cay mà sâu sắc. Tuy vậy, giá trị văn minh, muốn mua nó thì chỉ có tù mà thôi đâu.

III

Mới gặp như bạn cũ, bạc đầu như người lạ”, đạo giao hữu khó thế nào, xem câu cổ nhân nói trên rõ có ý vô cùng cảm khái.

Tháng Hai năm Mậu Thân (1908), tôi ( HT Kháng) bị bắt giam ở nhà ngục Faifo(3), giam riêng trong một phòng. Cách hai ngày sau, có 2 em học trò đem mền áo và quà bánh trình với quan Chef Ngục, xin đưa vào cho tôi. Lính gác xét trong số đồ gửi đó có bức thư của người bạn gửi cho tôi, thư viết bằng chữ Hán, thư chỉ hỏi thăm tôi nhưng Ngục Quan nghi là có gì quan hệ, hai em học trò bị bắt, bị giải giao lên quan tỉnh giam cứu. Từ đó thân nhân và bạn hữu không ai dám tới thăm, gửi đồ. Mà cách giam phòng càng nghiêm ngặt hơn trước, người ở ngoài đều lo cho tôi mà không ai dám đến hỏi thăm. Mỗi ngày có người cai mở cửa phòng giam hai lần, chính tay người cai ấy mang đồ ăn vào phòng.

Một bữa, người cai mang cơm trưa vào, mang thêm một gói thuốc hút, quà bánh, và đưa cho tôi một miếng giấy nói là của một lão chài gửi. Tôi giở ra xem, thấy trong giấy có vài hàng chữ:

Nghe ông bị giam, người nhà ở xa (nhà tôi –HTK- cách Faifo đến 2 ngày đường) không ai đến thăm được. Tôi đưa ghe mắm ra bán ở Phố đây (4), kính gửi vật quà thăm ông. Như ông có nhắn người nhà điều gì, tôi sẵn lòng chuyển đạt.”

Dưói có mấy chữ:

Hoà Thanh Lão Phố kính thư.”

Xem xong, tôi lấy làm ngạc nhiên, không biết “Lão Phố” là người nào. Nghĩ ngẫm một hồi lâu mới nhớ trong tháng Tám năm ngoái, tôi cùng người bạn đi đò từ Phố về Tam Kỳ, theo đường sông có ghé vào một nhà chài bên sông nghỉ trưa, cùng chủ nhà là một ông già nói chuyện. Ông già chủ nhà có ý lưu luyến nhưng tôi phải đi theo đò nên không ngồi lại với ông lâu được, chỉ uống trà xong là từ giã. Có lẽ “Lão Phố” là ông già này chăng?

Chiều, ngươi cai đem cơm vào cho tôi, tôi hỏi về ông già cho quà, người cai nói:

– Lão ghe chài đem mắm ra đây bán, hỏi thăm biết nhà tôi nấu cơm cho ông, ông ấy đến nhà tôi, nói là bà con với ông nhờ gửi quà tặng ông. Ông ấy không nói tên, chỉ dặn tôi nếu ông hỏi thì nói ông năm ngoái có ghé nhà ông ấy uống trà.

Bình sanh tôi giao du bạn hữu nơi nào cũng có, từ khi gặp hoạn nạn, phần đông người quen biết đều tránh xa. Trái lại, một lão nhà chài, chỉ tình cờ gặp nhau trong chốc lát, mà ông chài ấy tìm phương, kiếm nẻo, không từ khó nhọc cố tìm cách gửi lời thăm viếng để an ủy tôi trong lúc buồn rầu. Rõ là người đời biết nhau không xem tướng bề ngoài. Tôi có bài thi:

Trầm trầm địa ngục chích thân cô.
Trù nẵng thân bằng nhất tự vô.
Phiến ngữ ân cần lao thám ủy,
Hoà Thanh Lão Phố giả thôn phu.

Mình cô, ngục tối, cảnh âm thầm.
Một chữ thân bằng cũng vắng tăm.
Lưa có Hoà Thanh già Phố nọ,
Ân cần gửi thấu bức thư thăm.

Ngưng trích Thi Tù Tùng Thoại.

* Sau khi cụ Sào Nam Ðông độ ( đi về phiá Ðông: sang Nhật Bản), có tên ngụy tác Hạ (1) do viên Án sát Hà Tĩnh lúc ấy là Cao.., xui nó khai vu cho cụ, bắt cụ, kêu tội “tiềm thông dị quốc”, giam ở ngục Hà Tĩnh gần một năm, rồi đày ra Côn Lôn.”*

Chú giải: Ngụy tác Hạ, người này tên là Hạ, họ Lê, không phải tên họ là Ngụy tác Hạ. Lê Hạ trước là chiến sĩ trong Quân Ðội Phan Ðình Phùng, sau về đầu thú với quân triều Nguyễn. Án sát Hà Tĩnh là Cao Ngọc Lệ, cháu gọi Nhà yêu Nước Tống Duy Tân là cậu. Cao Ngọc Lệ lúc đầu cũng ở trong lực lượng chống Pháp, sau làm nội tuyến cho Pháp, báo cáo làm ông Tống Duy tân bị Pháp bắt. Cao được Pháp cho làm tri huyện, rồi làm Án sát Hà Tĩnh. Cao sui tên Lê Hạ khai ông Ngô Ðức Kế can tội “tiềm thông dị quốc: lén giao thiệp với nước lạ.” Như vậy, Cao Ngọc Lệ làm hai ông Tống Duy Tân, Ngô Ðức Kế bị Pháp bắt.

Dân Hà Tĩnh khinh ghét Cao Ngọc Lệ, truyền tụng câu thơ:

Vô địa khả mai Cao Ngọc Lệ.
Hữu thiên bất tử Tống Duy Tân.
Không có đất chôn Mai Ngọc Lệ.
Tống Duy Tân sống với trời xanh.

Phố: Hải Phố, tên Hán Việt của bến cảng Hội An. Người Pháp nói Hải Phố là “Faifo,” người Việt gọi theo là Faifo.

Tống Duy Tân: năm sinh 1837, năm mất 1892, đỗ tiến sĩ năm 1875, làm quan ở Thanh Hoá. Năm 1885 ông là Thủ lĩnh Lực Lượng Kháng Pháp ở Thanh Hoá. Năm 1892, Cao ngọc Lệ, người là cháu ông, làm tay sai cho Pháp, báo cáo nội tình quân lực của ông cho Pháp, do đó ông bị Pháp vây, bắt. Pháp xử tử ông năm 1892.

Khi tuẫn quốc, ông Tống Duy Tân 55 tuổi.

Tôi không biết Sài Gòn Xưa cuả tôi có tên đường Tống Duy Tân hay không.

Tiến sĩ Tống Duy Tân có câu đối:

Nhi kim thủy liễu tiền sinh trái.
Tự cổ do truyền bất tử danh.
Món nợ tiền sinh nay mới trả.
Cái danh bất tử trước còn truyền.

Khi ông chết vì nước, thân sĩ Thanh Hoá có câu đối viếng ông:

Tự cổ anh hùng, thiết thạch can trường nan tận tạ.
Ðáo đầu sự thể, xuyên hà huyết lệ hạt năng lưu.
Từ trước anh hùng, dạ sắt, gan vàng khôn xiết tạ.
Ðến cùng sự thể, máu sông, lệ suối chảy sao trôi!

Advertisements

18 Responses

  1. KLính xin Ông Hoàng Hải Thủy cho tôi được đâm hơi một chút.

    Số là, cuối tháng Bảy vừa qua, tôi không có thì giờ để lướt web nhiều, nên không hay biết là phải trả lời đến Bác T.Phạm.

    Tôi đã trả lời trong bài liên quan, nhưng cũng xion copy thêm vào đây cho mới mẻ hầu các bác ấy có thể đọc dễ dàng hơn được.

    Cám ơn Ông Hoàng Hải Thủy rất nhiều.

    Van Toan, on July 29, 2010 at 3:06 am Said:
    Kính gửi VungBacky54.

    Cám ơn bác đã đọc reply của tôi.

    Tôi xin hứa với Bác một ngày đẹp trời nào đó, nếu tôi còn đủ minh mận, cộng thêm sự nhắc tuồng của những bạn bè với nhau đã từng ngồi “đàm đạo” với Đồ Ngu, tôi sẽ viết lên đây hầu Bác về một số trong những lý do, khiến bọn thủ lợn Ba đình phải banh ta lông.

    Thân mến.

    Reply
    T. Pham, on July 29, 2010 at 5:24 am Said:
    Mèn ơi ,

    Bác V. Toan này thật đúng là giết người không cần gươm , dao hoặc súng.

    Ông bạn Đồ Ngu của bác luận về ngày tàn của lũ ch… đẻ mà bác hổng chịu chia xẻ thì quả là đau hơn hoạn…

    Mong Bác được dồi dào sức khỏe + cảm hứng sớm sớm để mọi người đở ấm ức…

    Cám ơn Bác V. Toan thật nhiều trước.

    ( Hy vọng bác V. Toan đừng ***giết em bằng cái u sầu , độc chưa*** )

    Van Toan, on September 24, 2010 at 8:56 pm Said: Your comment is awaiting moderation.
    @Bác T.Pham thân mến.

    Trước hết cho tôi thành thật xin lỗi – vì từ cuối tháng 7 đến bây giờ tôi mới biết là Bác trách tôi nặng đến thế.

    Nay, sau hơn 1 tháng đã hoàn tất những công việc cần thiết nhất của đồng áng và vườn tược. Nên mới lướt web được.

    Bác T.Phạm thân mến. Tôi đã thú nhận rằng mình quá ngu muội nên chưa thể lãnh hội hết những gì mà ông bạn Đồ Ngu của tôi đã để lại di cảo trước khi ra đi.

    Vả lại, bác Đồ Ngu tôi viết rất tỷ mỉ và kỹ lưỡng nên rất dài và hơi khó hiểu. Chúng tôi (tôi và các bạn hữu) phải xem đi xét lại rất nhiều mới dám share. Kính mong Bác thông cảm cho.

    Hơn nữa, Với diện tích của reply hẳn là không cho phép với những bài dài ngoằng như thế.

    Tôi và chúng tôi xin hứa sẽ cố gắng “toát yếu” lại sao cho gọn gàng và dễ hiểu để không làm phiền đôi mắt “người Sơn tây” của Bác cũng như của quý Độc-giả.

    Cuối cùng, tôi cũng xin tiết lộ thêm, bác Đồ Ngu của chúng tôi chỉ viết với tất cả những gì mà bác ấy ghi nhận, hiểu biết và tiên đoán. Bác ấy không hề tham chước bởi bất kỳ tài-liệu, hay sách vở của ai cả. Nên không tránh được những sự bất đồng, nghi ngờ của độc giả.

    Tuy vậy, chúng tôi đến nay đã 7 tháng qua, kể từ khi bác ấy mất, tất thẩy những gì bác ấy đề cập hoặc tiên đoán … gần như không sai (sai số gần như không đáng kể, bởi nó chưa xảy ra).

    Tôi còn nhớ, tối hôm rằm tháng Giêng năm Bính Dần (1986), bác ấy ra xem thiên văn rồi “phán” 1 câu chắc nịch : Thêm một trự nữa đi bán muối rồi. Sau đó xã hội dễ thở hơn 1 chút thôi, nhưng vẫn chưa khá hơn đâu. Vì chúng nó vẫn còn tồn tại.

    Quả nhiên năm đó Lê Duẩn chết.

    Kính.

  2. @Bác T.Phạm thân mến.

    Nhân đây tôi cũng xin đôi nét về “tài tiên đoán” (trong ngoặc kép cẩn thận) của bác Đồ Ngu chúng tôi. Mặc dầu bác ấy chưa hề là một nhà tiên tri, hay ít ra cũng là một nhà ngoại cảm. Hoặc hạng bét cũng là thầy bói bao giờ.

    Nhưng lời đoán trước của bác ấy chúng tôi – những người còn sống làm nhân chứng. Tỷ như nói về nhân vật N.C. Kỳ (hồi ấy khoảng năm 1980), tôi còn trong tù, nên không trực tiếp chứng kiến, nhưng bạn bè đều kể lại đúng 1 lời.

    Có người hỏi : Ông nhận thấy ông Kỳ như thế nào ? Trả lời : – Ông này sẽ về Việt Nam. Nhưng không rõ được “tư cách” và “thái độ” mà thôi.

    Đó là 1 điều chúng tôi ghi nhận là tuyệt trong những điều tuyệt của sự tiên đoán của Bác ấy. Còn như những việc khác (tuy rất đúng) nhưng chỉ là việc nhỏ mà thôi, không đáng kể ra nơi đây.

    Bác Đồ Ngu và bác Khùng, hai ông mà xáp với nhau bàn chuyện thiên hạ thì ai nghe cũng phải mê. Còn như giải World cup 2010 vừa qua, chúng tôi chỉ lấy đó làm mực thước, để giúp thêm phần tin tưởng mà thôi, chưa phải tuyệt học của hai bác ấy.

    Rất không nên khi chúng tôi nói thêm về lãnh vực này. Bởi nó rất dễ gây nên sự huyễn hoặc và hoang đường. Đó là điều không riêng gì hai bác ấy, mà tất cả chúng tôi cũng đều lấy làm tránh.

    Thân mến.

  3. Tôi lục được trên DIENDANTHEKY. Nay xin post lại để kính tặng Ông Hoàng Hải Thuỷ vá quý Độc giả.

    THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG SAU THÁNG TƯ 1975

    Tuesday, September 21, 2010
    Tết Bính Thìn

    Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
    Gà lợn om xòm rối bức tranh
    Rằng vách có tai, thơ có họa
    Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh
    Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
    Lòng lợn âm dương một tấc thành
    Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
    Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.

    HỌA THƠ TẢN ĐÀ

    Thơ khóc Tết

    Ngoảnh đi ngoảnh lại lại đến Tết
    Ông đến độ này mới thật chết
    Gạo tẻ đong chịu nếp thì không
    Áo vợ rách tan chồng cũng hết
    Cỗ bàn duy có ba ông Công
    Xu kẽm thì không một vẩy hến
    Thì ra lúc túng văn càng hay
    Lại được một bài thơ khóc Tết.
    Tản Đà

    Bài họa

    Cậu Ấm khóc đâu là khóc Tết
    Phải đâu núi Tản sông Đà chết
    Sông dù vặn được tuổi càng thêm
    Núi có dời đi duyên chẳng hết
    Kìa bánh đem lòng bóc giữa mâm
    Lại Rồng phun thuốc dâng đầy hến
    Thơ đang vời rượu bật lên cười
    Vang Bính Thìn Xuân Nam Việt Tết.

    HỌA THƠ DƯƠNG KHUÊ

    Thơ tự thọ

    Năm mươi lăm tuổi hãy mừng ta
    Còn bốn mươi năm nữa đó mà
    Đội đức hải sơn ngày tháng rộng
    Gẫm mình râu tóc tuyết sương pha
    Cung đàn ả nguyệt còn yêu trẻ
    Chén thọ lăng xuân vẫn kính già
    Lộc nước ơn vua ban đã khắp
    Được riêng mạnh khỏe phúc nhà ta.
    Dương Khuê

    Bài họa

    Sáu mươi hai tuổi hãy mừng ta
    Cũng trích tiên xưa tuổi ấy mà
    Đời đã xong rồi mau tịch mịch
    Sống chi nhiều nữa để phôi pha
    Văn chương đến buổi văn nằm ụ
    Tết nhất coi như Tết dối già
    Tái diễn năm nay màn “tróc nguyệt”
    Không chừng vai chính sẽ là ta.
    Xuân Bính Thìn 1976

    HỌA THƠ NGUYỄN KHUYẾN

    Thơ cảm xuân

    Năm nay tớ đã bẩy mươi tư
    Rằng lão rằng quan tớ cũng ừ
    Lúc hứng uống thêm ba chén rượu
    Khi buồn ngâm láo mấy câu thơ
    Bạn già lớp trước nay còn mấy
    Chuyện cũ mười phần chín chẳng như
    Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa
    Thử xem trời mãi thế này ư.

    Nguyễn Khuyến

    Bài họa

    Di cư từ một chín năm tư
    Đón Tết mừng xuân chỉ ậm ừ
    Có đất ngòi đây là đất hứa
    Gõ đầu trẻ cũng đứng đầu thơ
    Ngã ra thì ngã thân Từ Hải
    Chôn khó mà chôn mộng Tố Như
    Nợ đã sông Tiền xuôi ngọn nước
    Ai còn đeo đẳng khúc đuôi ư.

    HỌA THƠ BÀNG BÁ LÂN

    Ba trăm năm sau

    Chắc gì ba trăm năm sau
    Dễ ai vào nổi cơn sầu nằm đây

    Đọc mấy vần thơ gửi tới nhau
    Mà thương mà xót dạ thêm sầu
    Ta buồn nhìn nắng soi hiên vắng
    Mình giận nghe mưa rót mái lầu
    Ngõ hẹp sầu dâng vương lối cỏ
    Đời tàn bóng ngả xế nương dâu
    Ba trăm năm nữa ai tri kỷ?
    Hổ với người xưa, thẹn với sau.

    Bàng Bá Lân

    Bài họa

    Thơ đoạn trường kia liệu khất nhau
    Vay không vơi hận, trả thêm rầu
    Thơ vay bằng huyết tan vào sử
    Ngọc trả thành mưa đọng dưới lầu
    Trước đã trời xanh vay má phấn
    Rồi xem biển lớn trả nương dâu
    Mình vay mình hãy riêng mình biết
    Để trả cho mình những kiếp sau.

    Hoàng Hạc Lâu
    (Dịch bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu)

    Xưa hạc vàng bay vút bóng người
    Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
    Vàng tung cánh hạc đi đi mất
    Trắng một màu mây vạn bạn đời
    Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
    Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
    Gần xa chiều xuống đâu quê quán
    Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi.

    Cảm đề

    Hoàng hạc Lâu – Nguyễn Du
    Đã bao giờ có hạc vàng đâu
    Mà có người tiên để có lầu
    Tưởng hạc vàng đi mây trắng ở
    Làm Thôi Hiệu trước Nguyễn Du sau
    Hạc chưa bay khỏi mê hồn kịch
    Tiên vẫn nằm trong vạn cổ sầu
    Trăng gió hão huyền như khói sóng
    Nồi kê chín tới nghĩ mà đau!

    Đọc lại Nguyễn Du

    Văn tự hà tàng vi ngã dụng
    Cơ hàn bất giác thụ nhân diên

    Chẳng dùng chi được văn tài
    Thân này lụy áo cơm ai bất ngờ
    Phút giây chết điếng hồn thơ
    Nét đau mặt chữ bây giờ còn đau
    Chắc gì ba trăm năm sau
    Đã ai vào nổi cơn sầu nằm đây
    Nếu không cơm áo đọa đầy
    Như thân nào thịt xương nào bỗng dưng
    Chết theo vào đến lưng chừng
    Say từng mảnh rớt mê từng khúc rơi
    Nửa chiều say ngất mê tơi
    Khúc đâu lơ láo mảnh đời thi vương.

    Đọc Thôi Hộ

    Khứ niên kim nhật thử môn trung
    Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

    Ngày này xưa cổng này đây
    Hoa đào má đỏ cùng lây ánh hồng
    Đã ngưng một điểm thời không
    Mở ra ngoài phía chiếc lồng thiên cơ
    Đón vào sâu tận cõi bờ
    Chưa ai vào được hay mơ được vào
    Chợt nghe má đỏ hôm nào
    Cười lên từ cổng hoa đào nhặt thưa
    Cổng ơi mở cũng bằng thừa
    Đừng tin kích thước gửi vào Đường thi
    Chàng Thôi ngắm hão rồi đi
    Một khung chết đứng mong gì ngàn sau.

    Thị Lộ

    Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon
    Cớ chi ông hỏi hết hay còn

    Còn gì đây hết gì đây
    Chiếu nhà vua gái thơ ngây biết gì
    Chiếu gon ông hỏi làm chi
    Dệt nên tôi cũng bán đi là thường
    Hồ Tây còn nước còn gương
    Vai tôi còn chiếu tuy… giường thì không
    Ông còn đất trải không ông
    Mà toan mua chiếu mất công hỏi người
    Sao ông không hỏi ông trời
    Hỏi thân này trước hỏi đời hôm nay
    Còn đem non nước làm rầy
    Cả chiêm bao, cả chiếu này nữa ư?

    Cao Bá Quát

    Minh nhật dục từ Nam phố đạo
    Hà nhân cánh xướng Bắc cung thanh

    Đường Thanh Nghệ Tĩnh chon von
    Nhịp ba cung Bắc ai còn hát đây
    Cánh chim lượng gió đong đầy
    Khói Hoàng đô thoắt liền mây Đế thành
    Rồng Lê, Phượng Nguyễn tung hoành
    Chẳng e lưu xú, chẳng dành lưu phương
    Ba hồi trống giục pháp trường
    Máu tuông phách đựng phố phường còn mưa
    Cơn buồn gió lọt mành thưa
    Mấy mươi giông bão cho vừa nhịp ba
    Nào ai đáng mặt danh ca
    Mời ai danh sĩ Bắc hà về nghe.

    Bà Huyện Thanh Quan

    Người xưa cảnh cũ giờ đâu tá
    Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu

    Nước trong dòng đục thương ai
    Chiều sương gió tiễn sô gai bốn bề
    Yếm khăn đi cũng chẳng về
    Nghiệp văn chương ấy nặng nề đến đâu
    Lạ gì mưu lũ trọc đầu
    Cung vua dìm tiếng thơ sầu Thanh Quan
    Dễ gì khi qua đèo Ngang
    Chim kêu lại để gan vàng sót sa
    Mảnh tình riêng ta với ta
    Phải đâu tâm sự một bà Huyện thôi
    Nước còn chau mặt không trôi
    Hồn thu thảo láng chuông hồi cổ kim.

    Hồ Xuân Hương

    Giơ tay với thử trời cao thấp
    Xoạc cẳng đo xem đất vắng dài

    Đo xem đất có dài chăng
    Với tay xem có thật rằng trời cao
    Ôi sau đây hận đây sao
    Văn chương hồ thỉ hôm nào tung hê
    Sầu không nở trắng hoa lê
    Hận không chôn chặt bên lề cỏ xanh
    Cán cân rơi mất thôi đành
    Túi càn khôn thắt được danh bao giờ
    Còn tên còn tiếng lửng lơ
    Còn son để yếm còn thơ để đời
    Sân đu cọc nhổ còn chơi
    Ngã ra lại có đất trời ở trong.

    Trước một ngày trao

    Bè mây đã nát thu phong tứ
    Trùng cửu thơ còn trao ngất ngư
    Tháng cuối mùa trăng ngày hội hữu
    Năm đầu gác bút động hoa hư
    Thơ không thoái vị, trà say khướt
    Người vẫn đăng cao, mộng ngọt lừ
    Nam Bắc sương im đầy bóng nhạn
    May ra bệnh cũng xuống dần

    (phần này không copy vào mục reply được)

    Thủ bút Vũ Hoàng Chương

  4. Cám ơn bác V. Toàn thật nhiều .

    Mãi tới hôm nay mới được đọc trả lời cùa bác , chắc em phải đi mua vé số quá . (Nếu trúng em chia đôi , bác chịu không ???)…..

    Thiệt ra thì ai cũng biết cái chế độ bạo tàn , ăn hại đái nát, ngu hèn này sẽ tàn lụi trong nay mai mà thôi . Chỉ có điều em sợ là …càng lâu , càng khó khăn hơn khi chúng ta phải dọn dẹp những cái thối tha mà chúng để lại mà thôi .

    Mong bác nếu được thì …viết thêm cho mọi người cùng đọc . Em nghĩ là các bác trong đây ai cũng đều đọc rồi suy nghĩ chứ không phải đọc là tin liền rồi đi đồn đại tùm lum đâu.

  5. @ Bác T.Phạm mến.

    Chúng tôi suy nghĩ gần như nát nước. Cũng may là mình không có óc, chứ nếu có thì chắc óc chúng tôi nó nát còn hơn miếng đậu phụ thối của Taiwan nữa. Nó ngon nhưng mà bốc mùi kinh quá, khiến người ta ăn hơi khó bác ạ.

    Thôi như thế này nhé, riêng tôi lãnh hội được bao nhiêu, thì viết bấy nhiêu. Chứ lòng vòng là tôi bị lạc đường liền. Mong bác thông cảm cho. Tóm tắt là như thế này :

    – Sở dĩ tôi thích trang hoanghaithuy.wordpress.com, chỉ vì đây là chốn mọi người vào để bù khú truyện xưa tích cũ với nhau, trong đó có những kỷ-niệm đau thương, thống hận. Và trên hết nói lên những bất phục, bất khuất của những người dân mất nước.

    Đó là một điều thật thú-vị và hào tráng cổ kim mấy người được vậy. Xưa tôi đọc Tiêu Sơn Tráng Sĩ của Khái Hưng mà buồn buồn, mà thú vị vì những nét ngang tàng, thi văn, nghệ sĩ của chàng.

    Nhưng đến nay, chúng ta những người không hận vong quốc mà thôi, còn nuôi ý chí phục quốc nữa. Ý chí này không hề là mộng ảo, là huyễn hoặc chính mình. Và ý chí này rất rõ ràng, rất hiển nhiên (logic theo việt cộng dốt nhưng xính ngoại ngữ).

    Tôi và các bạn hữu cùng chung nhau một điểm có thể hơi hơi ngu, hơi khùng như hai người bạn đã quá cố (Đồ Ngu và Khùng) nên có ít hàng với bác T.Phạm cùng quý độc giả như sau :

    Chúng ta cứ ra rả chửi và tố việt cộng là bán nước là ươn hèn, khiếp nhược khi đầu lụy bọn Tàu cộng. Chúng ta đọc trên biết bao trang web chống cộng (thật lẫn cò mồi) thấy biết bao bài viết thật đao to búa lớn về cái gọi là chính ngĩa “chống cộng”.

    Thật là on uổng cho hai chữ cộng sản hết sức. Giờ phút này thuộc về thế kỷ XXI rồi, MAY RA còn có mỗi hai thằng nhãi ranh là Cuba và Bắc Hàn mới thực sự đáng gọi là Cu cộng và Hàn cộng mà thôi. Tôi xin nhấn mạnh là “may ra”.

    Ngay như cái nước to đầu nhất đám của bọn cộng là Tầu phù thì còn đáng gọi là cộng sản được nữa đâu. Nói chi đến mấy nước lau tau, lóc tóc khác trong đó có Việt Nam ?!

    Vậy thì ngay như chiêu bài “chống cộng” cũng không đáng để đề cập nữa rồi. Bởi chẳng lẽ ta chống, tức là đánh (bằng nhiều hình thức khác nhau, bằng bút, bằng computer …kể cả bằng chửi với ngôn ngữ Đan Mạch) với một chủ thể vô hình.

    Có nghĩa là mình chống, mình đánh vào cái KHÔNG. Nó vốn là không có, không còn hiện hữu nữa, vậy chẳng lẽ ta chống, ta đánh với BÓNG MA ??? Có mà điên, có mà rồ dại, thậm chí đáng gọi là xuẩn ngốc nữa. Phải không ạ !

    Nhưng công cuộc chống, chửi bọn thủ lợn ở Ba đình, bốn miễu vẫn cứ tiếp diễn đến vô hồi kỳ trận là tại làm sao ?

    Mọi người từ trong đến ngoài nước cứ ra rả tố khổ ” Bọn việt cộng bán nước”.

    Cơ khổ … Bọn cướp của giết người được rồi, thì nó có quyền xài theo kiểu nào thì quyền của nó. Nó có quyền bán những thứ gì mà nó đang sở hữu (dù bằng cướp của giết người).

    Theo dân gian thường nói : Một người bán vạn người mua. Tụi thủ lợn ở Ba đình bốn miễu nó muốn bán, muốn gạ cho ai là quyền của nó. Tại sao ta không lo thân ta, phận ta ???

    Nếu ta – những người ngày ngày ra ra chống cộng, tại sao thấy bọn cướp đó bán tất cả những gì mà tổ tiên chúng ta phải bỏ ra biết bao tâm huyết, xương máu, sinh mạng mới có được cơ đồ như ngày hôm nay – Nhưng chúng ta phải đành thúc thủ ???

    Một câu truyện có thật chăm phần chăm. Một người bạn chúng tôi đã bỏ ra một số tiền không nhỏ để cứu, chuộc 1 người em … bên vợ.

    Số là ông bà nhạc của ông bạn đã di chúc là ai nuôi thằng Út (bị bệnh thần kinh bẩm sinh) thì được hưởng thêm 2 công đất làm lợi tức.

    Người anh ruột của Út bèn xung phong. Nhưng sau một thời gian, bỏ bê đói khát, trần truồng, thậm chí còn đánh đập thật đáng thương vô cùng. Người bạn tôi cầm lòng không đậu, bèn lấy tư cách là anh rể và chị ruột để cứu, chuộc người em Út xấu số đó. Nhưng không động đậy gì đến 2 công đất phụ trội.

    Rồi đem về nuôi dưỡng từ đó đến nay cũng tròm trèm mươi niên vô vụ lợi.

    Xét qua câu truyện trên ta thấy được gì ?

    Có phải là tiền đồ đất nước, vận mệnh đồng bào Việt Nam chúng ta đang bị chúng ta bỏ lơ, bỏ bơ vơ hay không ? Nhưng được cái miệng lúc nào cũng đạo đức giả với “chính nghĩa chống cộng” ?

    Chúng ta đã làm được gì ? Cống hiến được gì ? Phục vụ được gì cho đất nước, cho dân tộc ? Một con số KHÔNG to thật là to.

    Nó Bán nước, thì chúng ta mua lại, chuộc lại nước. Giản dị có thế thôi. Giản dị đến mức dễ hiểu còn hơn ăn chè bà ba ở chợ Đông Ba Huế nữa.

    KẾT LUẬN :

    Vậy : Số phận của bọn thủ lợn Ba đình bốn miễu khi nào kết thúc – Đó là thuộc – hoàn toàn thuộc vào quyền hạn – một thứ quyền hạn đường bệ nhất của chúng ta. Một thứ quyền hạn đầy CHÍNH và THUẬN.

    THAN ÔI ! Đến nay trong chúng ta … chưa một ai có thể làm được. Chưa một ai có thể hành xử được cái quyền thiêng liêng và tối thượng đó ???

    Cho nên : Xin đừng hỏi là BAO GIỜ VIỆT CỘNG SẼ SỤP ĐỔ !

    Vì, điều đó hoàn toàn tuỳ thuộc vào lượng hải hà và bản lãnh của chúng ta – Những ngưòi tự xưng là người VIỆT NAM CHÂN CHÍNH !

    ĐỚN ĐAU LÀ Ở CHỖ ĐÓ.

    35 năm đã qua. Quá đủ để gọi là dài cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc.

    Thân mến.

    P/s – Bác T.Phạm ạ ! Có lẽ tôi uất hận quá chăng ? Nên có những lời nói thật là khùng khùng và ngu ngơ như thế nào ấy. Phải không ạ ! Mong Bác và quý độc giả miễn thứ.

  6. Cho tôi xin được nói thêm :

    Nhân đây, tôi cũng xin sẵn sàng chịu mọi búa rìu mà bác T.Phạm và quý độc giả giành cho. Không những thế, kính xin quý Bác cứ phang cho tận tình vào. Phang tới tấp dùm cho. May ra mới chừa cái tội ngu ngu. ngơ ngơ, khùng khùng mà còn ti ta, ti toe tí nào chăng ?

    Nếu được như thế thật là vinh hạnh cho riêng tôi và bạn hữu nói riêng, mà còn làm phong phú thêm cho trang mạng rất đáng yêu của CTHĐ nữa.

    Tuy vậy, trong vạn nhất, tôi không reply kịp, hẳn là đang rất bận rộn, đầu tắt mặt tối vì vụ mùa cho dịp Tết. Tuy cũng khá gọi là “nhớn” tuổi, râu tóc bạc phếch, bạc phơ, nhưng công việc vườn tược và đồng áng khiến chúng tôi luôn thấy yêu đời và yêu người vô cùng.

    Tuy lo hết mưa, tới nắng, rồi sửa soạn tới mùa nước lớn nữa. Rồi lo cả gió nữa. Bao giờ có gió chướng đây. Bởi gió chướng rất quan trọng cho nhà nông chúng tôi. Nó báo hiệu mùa sinh sản cho các giống chim, giống lông vũ nói chung. Như Ngỗng chẳng hạn. Sắp có gió chướng là mình phải lo làm ổ đẻ cho ngỗng, nếu không nó đẻ lang là mất toi một lứa. Vì giống này ác lắm, nó đẻ 1 năm chỉ vào mỗi một mùa gió chướng và gió bấc mà thôi.

    Không những vậy, mình còn phải trông gió chướng vì nó cũng khiến cho cây ra hoa để đậu quả nữa. Khi nó ra hoa, thì hằng đêm khuya mình phải ra trông chừng xem có sương không nữa. Nếu có sương thì lập tức sáng sớm trời vừa hừng sáng là phải ra tưới cây ngay.Tưới là tưới từ ngọn xuống, để những tạp chất trong sương phải trôi đi. Nếu không thì hoa sẽ rụng hoặc sẽ không đậu trái nữa. Thế là tiêu tán đường cả một năm trời ngay tức khắc. Tức là ĐÊ OI ĐOI SẮC ĐÓI.

    Vậy mà chưa đủ, còn phải lo sao cho kịp thời, kịp vụ, nếu không thì giá cả ngày một tụt dốc là trắng tay dễ dàng.

    Đa tạ.

    • @ Ông Van Toan ơi, ơi gài cờ thế ghê quá. Tui đọc từ hôm qua tới giờ, coi tuồng như một bàn cờ thế mà bên tiên nhìn vô thấy ngon ăn, nhưng thiệt là nát óc.

      Chỉ cần nước thứ nhứt mình đi trúng là những nước sau coi vậy mà gỡ ra dễ lắm.

      Nhưng ngặt một cái là nước thứ nhứt đi làm sao, cử quân nào đi mới là vấn đề.

      Công nhận thế cờ này hay thiệt. Khá khen cho ông Van Toan giỏi bày ra nha.. Có ông nào giải cho bà con đã mắt dùm đi.

      Hay a. Hay thiệt tình. Tui là dân chơi cờ ghiền, từ tối qua tới giờ mà chưa gỡ cho nổi.

      Cái khó là bên xanh (tức vc) là thua trăm phần chắc rồi. Nhưng mình chiếu sao bí ? Bởi bàn cờ này không thể thủ huề đặng.

      Trời, sao khó quá vậy nà!

  7. Mộ bàn cờ thế rất độc và rất hay. Nhưng chưa có người giải.

    Người giải phải là có tài và đức rất lớn, rất cao.

    • Lời than của Tư Mã Huy, sau khi đã tiến cử Khổng Minh cho Lưu Bị : “Tiếc thay, Khổng Minh gặp đặng chúa chứ không gặp đặng thời!” (Tam Quốc Chí ,hồi thứ 37).

      Đối với vận mệnh của VN, lời than thở trên có thể ngược lại : “Tiếc thay, nước VN gặp đặng thời chứ không gặp đặng chúa !”

      Từ sau khi vua Quang Trung mất đi cho đến nay, thử hỏi ai là người có đảm lược tương đương với ngài để gánh vác sơn hà ?

      • @ Phương Lê bạn tôi ơi.

        Trích … “Từ sau khi vua Quang Trung mất đi cho đến nay, thử hỏi ai là người có đảm lược tương đương với ngài để gánh vác sơn hà ?”

        Sao Ông lại hà tiện với tiền nhân nước nhà làm vậy ?

        Ngoài Quang Trung Hoàng đế, còn có 1 người tài và đức “khả dĩ” vẹn toàn ngay thời chúng ta mà thôi. Ôi … nhưng Người đã về nước Chúa rồi.

        “NGÀN GIỌT LỆ RƠI” được không ông ?!

  8. Bác Van Toan khéo đa đoan.

    Cổ nhân có câu. Ma vương dọn đường cho quỷ vương. Quỷ vương dọn đường cho Thánh vương.

    Nếu không có những thối tha, bầy hầy, nát bét hơn tương chao nhậu với lẩu dê, bê thui như hiện nay ở xứ sở Việt nam mình.

    Thì sau này làm sao dân mình mới thấu hiểu được bậc chánh vì vương lâm triều nhiếp chính ?

    Tuần Trang lừa thầy là Lý Trần Quán để hiếp Trịnh Tông đem nạp cho nhà Tây Sơn. Bị Án đô vương mắng :

    Ngươi phải biết, vua chúa đều có chân mệnh cả.

    Câu nói này tuy đúng thiệt, nhưng với Trịnh Tông thì e là hơi quá. Bởi ông nhờ vào lính tam tỉnh làm loạn mà phù lên, đoạt được ngôi Chúa nơi tay Trịnh Cán.

    Trịnh Sâm chê vì điềm người mẹ trước khi mang thai Trịnh Tông nằm mơ có được bức tranh thêu đầu con rồng mà thiếu cái đuôi.

    Ta lấy truyện kim cổ, đông tây ra mà nghiệm sẽ thấy có nhiều điều linh diệu vô cùng. Với trí lự hạn hẹp như chúng ta thì khó lòng nào biết được cơ Trời báo ứng cao xa, vi diệu ra sao đâu.

    Từ khi Trương Phụ nhà Minh diệt trọn nhà Trần, chỉ mất 20 năm sau trong đó 10 năm Bình Định vương Lê Lợi nằm gai nếm mật. Nước nhà lại độc lập.

    Thời nay đã 35 năm qua rồi mà chưa thấy hối rồi lại minh. Bĩ rồi lại thái … Than ôi !

  9. THÔNG TIN MỚI, CHÍNH THỨC CỦA NASA
    Tuesday, 28 September 2010

    Trích :

    ” Các quan chức NASA đã chính thức thông báo, năm 2013 trái đất của chúng ta sẽ bị chấn động bởi một vụ nổ mặt trời do bởi nguyên nhân: mặt trời đã đạt tới cực đại của sự vận động nội tại của nó. Vụ nổ này sẽ gây nên những thảm họa điện từ cho toàn thế giới. Tất cả các vệ tinh do con người phóng lên vũ trụ sẽ bị tê liệt, tất các các chuyến bay sẽ bị hủy bỏ, các máy phát điện sẽ nóng lên và toàn thế giới có khả năng sẽ chìm trong bóng tối.”

    ………………………….

    Người dịch: PHẠM VIẾT ĐÀO.

    Bài do bác Hoàng Long chuyển

    Ngưng trích.

    Hôm nay, như thông lệ tôi thường hay dạo chơi trên internet, đọc được nguồn tin trên. Nhưng trên điện báo này không nói rõ xuất sứ của nguồn tin đó.

    Tôi nhớ ngày còn bé ở Hà nội có mấy người bạn theo Công giáo kể lại những gì trong đạo của họ huyên truyền với nhau rằng : Năm 2000 sẽ tận thế.

    Đến lớn lên mến mộ đạo Phật, cũng nghe giảng Pháp về ngày Liên hoa thắng hội. Na ná với bên Thiên Chúa là ngày Chúa tái lâm. Nhưng trước khi có ngày đó, thế giới ta bà chúng ta phải chịu khổ nạn đại loại như là Tận Thế vậy. Bên Chúa nói cũng gần như tương tự.

    Hơn 24 tiếng đồng hồ trôi qua, trong sự chờ đợi những cơn “mắng mỏ” của quý độc giả, nhưng chưa nhận được.

    Sau khi nhận được tin này dẫu tỷ lệ bách phân khả tín là bao nhiêu chưa rõ. Tôi bỗng giở chứng triết lý vặt.

    Việt cộng hay chả việt cộng. Nước với chả non. Mộng bành trướng bá quyền, hay mộng gồm thâu thiên hạ của Tầu phù rồi ngày nào đó cũng ra tro.

    Phàm ở đời, bất kỳ điều gì, sự việc cũng như sự vật gì thẩy đều tuân theo định luật : THÀNH – TRỤ – HOẠI – KHÔNG. Đều phải sinh ly tử biệt cả. Không có triều đại nào là vạn tuế, là muôn năm. Chỉ có những chế độ nào trên thì thuận với trời đất, dưới thì hòa được với tâm, ý con ngưòi thì mới trường tồn. Dù sự trường tồn này cũng chỉ là tương đối bởi sự hữu hạn trong cái vô hạn, vô cùng.

    ĐAU KHỔ – KHOÁI LẠC – SUNG SƯỚNG – HẠNH PHÚC – BẤT HẠNH – BUỒN ĐAU – VUI MỪNG vân vân và vân vân rồi tất thẩy cũng đều là vô thưòng mà thôi. Tất thẩy đều là hư ảo cả.

    Nếu chưa là tận thế, Dù chế độ này còn tồn tại hay suy vong. Nhưng muôn đời sau, Dân tộc Việt Nam sẽ nguyền rủa mãi mãi bọn thủ lợn ở ba đình bốn miễu này khôn nguôi.

    Trăm năm bia đá thì mòn. Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ. Nhưng đám thủ lợn này vốn vô đạo nên đâu biết được sự nhiệm mầu của tạo vật phi phàm. Bọn đó chỉ biết có một điều mê tín mà thôi.

    Cám ơn Bác Phương Lê, Bác Bình&Phát đã có nhã ý
    “nhòm ngó” đến tâm sự của tôi và bạn hữu. Đó là một nỗi ưu uất nhất trong chúng tôi. Và có lẽ đến khi nhắm mắt.

  10. XIN ĐÍNH CHÍNH.

    Vì chúng tôi đã quá thân thuộc, vả lại tuổi tác cũng thuộc loại cao, nên mỗi khi đến nhà nhau chơi thường ngủ lại nhà nhau.

    Sáng ra tôi đọc thì mới biết Khuya qua ông bạn già Van Toan của tôi dùng máy nhà và gửi reply nhưng quên không xóa nick của tôi trong phần Leave a Reply mà thay nick của bác ấy.

    Vậy, tôi xin đính chính phần reply trên là của bác Van Toan bạn tôi, không phải là của tôi. Bác ấy lầm lẫn lần này là thứ nhì rồi. Lần trước là ở nhà bác Phan v Đông (phandong).

    Khổ thế đấy, có tuổi rồi nhiều khi thiếu minh mẫn. Rất mong quý độc giả niệm tình cho.

    Đa tạ.

  11. Cụ Huỳnh Thúc Kháng ra báo Tiếng Dân ở Huế,lúc đó hình như Trung Kỳ và Bắc Kỳ ở trong chế độ bảo hộ, ngoài luật lệ của thực dân Pháp còn có luật lệ của Nam Triều. Người Pháp quả có nhẹ tay với những người như cụ Huỳnh nhưng không nhẹ tay chút nào với Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông.
    Trong lúc đó xứ NamKỳ lại ở trong chế độ thuộc địa nên luật báo chí Pháp ra đời ngày 27/9/1881 được áp dụng chung cho Nam Kỳ kể từ ngày 22/9/1881. Đơn giản 2 điều là: xuất bản báo không phải xin giấy phép và chủ báo không phải nộp tiền ký quỹ. Cho nên khi ông Nguyễn An Ninh từ Pháp về SàiGòn nắm lấy luật nầy để ra tờ báo Tiếng chuông rè ” tiếng Tây ” La cloche fêlée,ngày 10/12/1923. Còn nhớ ký giả ( ký thật nha ) Trần Tấn Quốc viết lại rằng : ông Ninh vừa làm chủ bút, vừa viết bài, vừa xếp chữ và ôm chạy rao bán luôn. Thật là một nhà cách mạng chống Pháp hiếm có!
    Sau nầy, Bảy Trấn và nhóm ông ta gồm những tay Cộng sản bị Hà Nội cho ra rìa,xin xuất bản 1 tờ báo thì chỉ được cho phép dưới hình thức 1 bản tin. Khiến cho Bảy Trấn phải kêu gào: dưới thời thực dân Pháp đô hộ ra một tờ báo còn dễ hơn thời Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa độc lập tự do hạnh phúc!
    Tay Nguyễn Văn Trấn nầy không tốt lành gì: năm 1945 làm Giám đốc Quốc gia Tự vệ cuộc, tức là xếp sòng công an của Mặt trận Việt Minh Cộng sán, là người phải chịu trách nhiệm về biết bao vụ thủ tiêu người Việt Quốc Gia thời 45.

    pháplệcủalệngoài luật lệ của thực dân Pháp,còn có Nam Triều. Pháp quả nhiên có nhẹ tay với những người như cụ Huỳnh nhưng không nhẹ tay chút nào với Nguyễn Thái Học và các đảng viên của ông.
    Tại Nam Kỳ thì lại chịu chế độ thuộc địa,luật báo chí Pháp ra đời ngày 29/7/1881 và được áp dụng tại Nam Kỳ giống như tại

  12. Quí Anh đọc tới: người Việt Quốc Gia thời 45 là chấm dứt. Tai nạn tác xạ quí anh ơi!!!! Xin cám ơn.

  13. Một nan đề thiệt hóc búa cho nước Việt và dân Việt chúng ta.

    Nhưng riêng tui tự tin rằng ngày mai luôn luôn trời sẽ sáng.

  14. Chung nao bac in kieu giang

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: