• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Đến Từ Địa Ngục

Nhà Văn viết bằng máy chữ những năm 1980 ở Hoa Kỳ.

Tháng Mười 2010.. Thấm thoắt dzậy mà đã 15 lần tôi thấy mùa thu lá phong vàng trên Rừng Phong. Liêu lạc bi tiền sự. Chi ly tiếu thử thân. Tôi sống ở Bắc Kỳ 20 mùa xuân hoa đào, tôi sống ở Sài Gòn 45 mùa hạ sầu riêng, và cho tới hôm nay tôi đã sống 15 năm lá phong vàng đỏ ở Kỳ Hoa Ðất Trích. Ðã 75 năm qua trong cuộc sống 80 năm Trời cho tôi sống.

Ðêm. Phòng ấm, đèn vàng, yên tĩnh, an ninh 500%. Mò trên Internet tôi gặp lại những lời viết về Nhà Văn Alexandre Solzhnetsyn. Tôi đã viết về ông mấy bài, tôi đã dịch The First Circle của ông. Ðêm nay vài mẩu chuyện đời ông lại làm tôi cảm khái. Tôi viết bài này.

Tôi trích đăng vài đoạn tiếng Anh:

Mr Solzhenitsyn dared not travel to Stocklom to accept the prize for fear that the Soviet authorities would prevent him from returning. But his acceptance address was circulated widely. He recalled a time when “in the midst of exhausting prison camp relocations, marching in a column of prisoners in the gloom of bitterly cold evenings, with strings of camp lights glimmering through the darkness, we would often feel rising in our breast what we would have wanted to shout out to the whole world – if only the whole world could have heard us.”

He wrote that while an ordinary man was obliged “not to participate in lies,”  artists had greater responsibilities. “It is within the power of writers and artists to do much more: to defeat the lie.”

Ngưng trích.

Tôi đăng những đoạn tiếng Anh để quí vị yên tâm. Tôi không bịa ra, tôi cũng không dịch bậy những lời này, những chuyện này:

Phỏng dịch:

Ông Solhzhenitsyn không dám đi sang Stockholm nhận Giải – (Văn Chương Nobel 1970) vì sợ nhà chức trách Sô-viết sẽ không cho ông về nước. Nhưng diễn văn nhận giải của ông được lưu truyền rộng khắp. Ông nhớ lại thời gian khi “trong những lần chuyển trại vất vả, đi giữa hàng tù nhân trong những buổi tối lạnh giá, với những dẫy đèn lờ mờ trong bóng tối, chúng tôi thường thấy rộn lên trong ngực những lời chúng tôi muốn thét to với toàn thế giới – chỉ cần toàn thếgiới nghe được tiếng chúng tôi.

Ông viết trong khi người dân thường bị bắt buộc “ không dự vào những lời dối trá,” nghệ sĩ có trách nhiệm lớn hơn. “Văn sĩ và nghệ sĩ có sức mạnh làm nhiều hơn: Ðánh bại Dối Trá.

Từ trước vẫn có thông lệ: Những người đòi Dân chủ, chống Cộng độc tài bị bọn Cộng cầm quyền bắt tù, thường được người các nước dân chủ Âu Mỹ xin tha, đưa ra nước ngoài. Bọn Cộng chịu thả tù, cho đi. Thế là những người Dân chủ Âu Mỹ cho là bọn Cộng phải nhượng bộ, họ thắng. Do đó bọn Cộng ma lanh, ma bùn chơi cái trò “chính trị con tin,” bắt người, cho chuộc. Chúng giam tù người tranh đấu, chờ người nước ngoài xin, trao đổi quyền lợi gì đó, là thả, cho đi. Tống khứ đi cho khuất mắt. Rảnh nợ mà lại được cám ơn, cho là nhân đạo. Người chống Cộng sang sống ở Pháp, Anh, Úc, Hoa Kỳ coi như tàn đời, không còn một su teng giá trị. Nhà Văn Alexandre Solhzhenitsyn không chịu đi khỏi nước Nga. Bọn An Ninh Nga – thời Bép-nhép – bắt Nhà Văn ở giữa đường, tống ông lên phi cơ bay đi khỏi nước Nga. Nhà Văn sang Ðức, ở Thụy Sĩ ít tháng rồi sang Hoa Kỳ. Ông sống ẩn dật trong vùng xa vắng Cavendish, Vermont. Ông không tiếp ai. Ông không hay diễn thuyết, nói chuyện. Người Mỹ không ưa ông, ông chỉ trích họ nặng lời.

Ðây là đoạn tiếng Anh:

His rare public appearances could turn into hectoring jeremiads. Delivering the commencement address at Harvard in 1978, he called the country of his sanctuary spiritually weak and mired in vulgar materialism. Americans, he said, speaking in Russian through a translator, were cowardly. Few werw willing to die for their ideals, he said. He condemned both the United States government and American society for its “ hasty” capitulation in Vietnam. And he criticized the country’s music as intolerable and attacked its unfettered press, accusing it of violations of privacy.

Phỏng dịch:

Những lần xuất hiện trước công chúng ít có của Nhà Văn thường trở thành những cuộc thở than cay đắng. Năm 1978, trong cuộc nói chuyện mở đầu ở Harvard, ôn g gọi đất nước dung dưỡng ông là quốc gia yếu về tinh thần, và chìm trong vật chất phàm tục. Ông nói bằng tiếng Nga qua người thông dịch: Người Mỹ là bọn hèn nhát, ít người Mỹ dám chết cho những lý tưởng của họ. Ông lên án chính phủ Hoa Kỳ và nhân dân Hoa Kỳ đã “vội” đầu hàng ở Việt Nam. Ông chê nhạc Mỹ không thể chịu được, ông đả kích nền báo chí Mỹ không bị ràng buộc, ông kết tội báo chí Mỹ xâm phạm chuyện Riêng.

Ngưng trích.

Ðêm khuya. Ðọc lại truyện Tầng Ðầu Ðịa Ngục, tôi xúc động với đoạn chuyện Người Tù Nerzhin và nữ nhân viên Simochka , thuộc Ban Quản Ðốc Nhà Tù, tự tình. Khi chàng báo tin có thể chàng sắp phải đi, nàng hỏi chàng đi đâu? Chàng nói:

“Anh đến đây từ vực thẳm, từ địa ngục, anh lại trở về đó.”

Những năm 1950 Stalin cho lập những nhà tù đặc biệt, tuyển những nhà khoa học, những kỹ sư trong những nhà tù khắp nước về làm việc. Những người tù đặc biệt này được trao việc sáng chế những loại máy do Stalin ra lệnh làm, như máy điện thoại phá vỡ tiếng nói, không ai nghe trộm được, phải có cái máy điện thoại ấy mới nghe được. Người tù nào chế được máy sẽ được giảm án. Những nhà tù này ở trong những toà lâu đài, người bên ngoài không ai biết đó là nhà tù. Nerzhin là một kỹ sư tù nhân trong Nhà Tù Mavrino của tiểu thuyết The First Circle.

Tôi đăng ở đây đoạn truyện ấy.

Người Tù Alexandre Solzhenitsyn. Ảnh những năm 1950, Nhà Văn 40 tuổi.


Tầng Ðầu Ðịa Ngục

Nerzhin đi theo nàng vào phòng. Anh đóng cánh cửa lại, gài khóa cẩn thận và buông tấm màn che xuống. Simochka bá lấy cổ anh, nàng đứng nhón gót để hôn lên môi anh.

Trong lòng căn phòng hẹp không còn chỗ để cho hai người xoay chuyển. Nerzhin nhấc bổng người thiếu nữ gầy và nhẹ lên, anh ngồi xuống chiếc ghế duy nhất trong phòng và đặt nàng ngồi lên đùi anh. Họ ngồi ôm nhau như thế trước ống micro và tập danh sách bị vứt ở góc bàn.

“Anton gọi anh đến làm gì? Có việc gì vậy?”

Nerzhin thì thầm:

“Máy phóng thanh có mở không đấy? Coi lại xem. Ðừng để cho cả phòng nghe tiếng mình nói.”

“Chuyện gì?”

“Sao em lại cho rằng có chuyện gì xảy ra?”

“Em biết ngay có chuyện khi họ gọi anh. Lúc anh trở về, chỉ nhìn mặt anh, em biết ngay. Chuyện gì?”

Anh cảm thấy hơi nóng từ da thịt nàng chuyền sang anh, má anh chạm vào má nàng. Cảm giác này là cảm giác hiếm có với những người  tù. Không biết bao nhiêu năm tháng đã qua trong đời anh kể từ lần cuối cùng anh được ôm một người đàn bà.

Thể xác Simochka thật nhẹ, nhẹ một cách lạ lùng, như trong nàng không có xương, như cả người nàng đều là sáp ong. Nàng như một loài chim trông thì có vẻ lớn nhưng chỉ có toàn lông.

“Em yêu… có lẽ anh sắp phải đi…”

Nàng xoay mình trong vòng tay anh và đặt hai bàn tay nhỏ bé của nàng lên hai thái dương anh, chiếc khăn len choàng trên vai nàng trễ xuống:

“Ði đâu?”

“Sao em lại còn hỏi anh đi đâu? Anh đến đây từ vực thẳm, từ địa ngục, anh lại trở về đó. Về trại tập trung.”

“Nhưng tại sao…? Tại sao?”

Nerzhin nhìn vào đôi mắt mở lớn đang nhìn ngây chàng của người con gái mộc mạc này, người con gái mà anh không ngờ anh chiếm được tình yêu. Nàng còn xúc động vì số mệnh của anh hơn cả chính anh.

“Anh vẫn có thể ở lại được” – Nerzhin buồn rầu nói – “Nhưng anh sẽ phải sang Phòng khác. Dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, chúng mình cũng không còn được gần nhau.”

Với tất cả sức mạnh của đôi vòng tay, nàng ôm ghì lấy anh, nàng đặt hết trọng lượng thân thể nhẹ bỗng của nàng lên anh và nàng hỏi anh có yêu nàng không.

Trong những tuần lễ vừa qua, sau khi hôn Simochka chiếc hôn đầu, tại sao anh lại không tiến tới việc yêu nàng? Sao anh lại thương hại nàng? Sao anh lại chỉ nghĩ đến chuyện nàng sẽ khổ sở nhiều hơn là sung sướng với cuộc tình ngắn ngủi này? Dù anh có không yêu nàng, nàng cũng khó lòng tìm được một tấm chồng, dù là chồng không ra hồn, nàng sẽ rơi vào tay một gã đàn ông nào khác, bất kể là gã nào có dịp gần nàng. Nàng đến trong vòng tay anh, tự nguyện hiến dâng, sẵn sàng cho anh yêu. Tại sao anh lạïi từ chối anh và từ chối cả nàng? Mai đây anh sẽ trở về trại tập trung, cơ hội hiếm có này sẽ không thể đến với anh trong nhiều năm nữa…

Anh vội vã nói:

“Anh không muốn ra đi như thế này… Anh không muốn xa em mà không để lại cho em một kỷ niệm gì của anh… Anh muốn… anh muốn cho em một đứa con…”

Nàng giấu mặt nàng vào ngực anh, anh đặt ngón tay dưới cằm nàng, âu yếm nâng mặt nàng lên.

“Em yêu, đừng giấu mặt. Nhìn anh, xin em nhìn anh… Sao em không nói? Em không thích ư? Em không chịu ư?”

Nàng ngửng mặt lên và từ tận cùng trái tim nàng, tâm hồn nàng, nàng nói:

“Em sẽ chờ anh. Anh chỉ còn năm năm. Em sẽ chờ anh năm năm. Khi nào anh được ra, anh về với em?”

Nerzhin chưa bao giờ nói với nàng như thế. Nàng đã ước mơ, nàng đã làm cong queo sự thật, nàng làm như chàng là người không có vợ. Tội nghiệp cho nàng, người con gái có cái mũi dài quá khổ này, nàng ao ước được lấy chồng.

Vợ Nerzhin sống ở đâu đó trong thủ đô Mạc Tư Khoa ngay gần đây, nhưng với anh, vợ anh xa anh như nàng đang ở trên Hoả tinh.

Và bên cạnh người con gái đang ngồi trên đùi anh, bên cạnh vợ anh đang sống ở Hỏa tinh, anh còn những trang giấy giấu trong bàn viết của anh, những trang giấy ghi những hàng chữ trừu tượng đã làm anh tốn không biết bao nhiêu công phu, tâm huyết. Ðó là những ghi nhận và phê phán của anh, về thời đại hậu Lê-nin, những tư tưởng đẹp nhất được đúc kết trong óc anh.

Nếu anh đi khỏi đây trong một chiếc xe chở tù, tất cả những công phu ấy sẽ phải làm mồi cho ngọn lửa.

Anh nên nói dối nàng, anh nên hứa là khi ra khỏi tù, anh sẽ đến với nàng, sống với nàng. Một lời nói dối, một lời hứa như tất cả mọi người vẫn nói, như bất cứ người nào ở trong tình trạng của anh cũng phải nói. Nói dối để khi anh phải ra đi, những tờ giấy có chữ anh viết quý báu của anh sẽ được nàng giữ cho anh. Chắc chắn, không sao có thể mất được.

Nhưng anh không sao có thể nói dối được với cặp mắt đang nhìn anh chứa chan hy vọng kia.

Ðể tránh tia mắt ấy, anh cúi xuống hôn lên đầu vai xương xẩu do những ngón tay anh mở lộ nơi cổ áo nàng.

Một lát sau, anh do dự nói:

“Có lần em hỏi anh là anh viết những gì trên những tờ giấy nhỏ đó… Em nhớ không?”

“Nhớ. Mà anh viết gì vậy?”

Nàng hỏi anh với giọng tò mò y hệt lần hỏi đầu tiên.

Nếu nàng đừng hỏi lại anh câu đó, nếu nàng đừng tỏ ra tò mò, đừng có vẻ thúc giục anh nói, Nerzhin đã nói hết với nàng sự thật ngay lúc đó. Nhưng vẻ tò mò dục dã của nàng làm cho anh chợt nhớ đến việc đề phòng. Anh đã sống quá nhiều năm trong cuộc sống mà đề phòng trở thành một thói quen như việc hít thở khí trời, giữa những bãi mìn đầy những dây bẫy vô hình có thể làm nổ tung bất cứ lúc nào.

Ðôi mắt ngây thơ, chan chứa yêu thương này có thể là đôi mắt của một nhân viên mật vụ. Lát nữa đây biết đâu nàng lại chẳng kể lại hết từng lời anh nói với tên sĩ quan thượng cấp của nàng.

Ðột nhiên, anh nhớ lại những chuyện đã xảy ra giữa anh và Simochka. Lần đầu tiên, chính nàng đã để má nàng chạm vào má anh trong phòng ghi âm này. Biết đâu đó lại chẳng phải là một hành động cố ý? Biết đâu nàng lại chẳng nhận được lệnh phải làm như thế? Biết đâu tất cả mối tình này lại chẳng là một cái bẫy?

“Ðó là những tài liệu anh ghi về lịch sử” – Nerzhin trả lời mơ hồ – “Lịch sử nói chung kể từ đời vua Peter. Chẳng có giá trị gì với người khác nhưng có giá trị với riêng anh. Anh sẽ tiếp tục viết cho đến khi nào Yakonov tống cổ anh ra khỏi đây. Nhưng nếu anh phải đi, không biết anh có thể nhờ ai giữ giùm anh.”

Ðôi mắt Nerzhin bây giờ nhìn sâu vào mắt Simochka, nhưng anh nhìn không phải là để xúc động, để tỏ tình mà là để dò xét.

Simochka bình thản mỉm cười:

“Anh còn phải hỏi nữa sao? Ðưa cho em, em giữ cho anh. Anh cứ viết đi. Ðừng sợ.”

Và nàng hỏi câu hỏi nàng muốn hỏi từ lâu nhưng vẫn sợ phải nghe câu trả lời:

“Nói cho em biết… vợ anh… đẹp lắm phải không?”

Tiếng chuông máy điện thoại nối liền phòng ghi âm với phòng thí nghiệm bên ngoài chợt reo làm đôi tình nhân giựt mình. Simochka mở máy khuếch âm trước khi nhấc ống nghe để trả lời người gọi vào bên ngoài. Nàng ngồi đó, đôi má ửng hồng, y phục sộc sệch và nói vào máy như người đang bận rộn với việc đọc bản danh sách âm thanh “Dop, fskop, sthap”. Những người ở bên ngoài sẽ nghe thấy những tiếng nàng vừa nói.

Nàng nhấc ống điện thoại và trả lời:

“Chi đó Valentine Martynich? Ống đèn đôi diode-triode ư? Anh cần gấp không? Mình không có sẵn đèn 6G7 nhưng đèn 6G2 thì có. Ðược, để tôi đọc xong sẽ lấy cho anh… Droot, moot, shoot…”

Nàng tắt máy rồi vuốt nhẹ má Nerzhin:

“Em phải ra thôi. Họ nghi… Cho em ra…”

Nhưng nàng không có vẻ gì là muốn ra khỏi đó.

Nerzhin hôn nàng, anh ôm ghì nàng chặt hơn.

“Em không đi đâu hết. Ở đây, anh… anh muốn…”

“Ðừng. Họ đang chờ em. Em còn phải cất tài liệu…”

“Ngay bây giờ…”

Anh đòi hỏi. Và anh hôn nàng.

“Ngay bây giờ thì không thể được…”

“Bao giờ? Bao giờ?”

Nàng ngoan ngoãn trả lời anh như lời anh hỏi là một mệnh lệnh:

“Thứ hai. Thứ hai em lại trực. Em trực thay cho Lyra. Anh đến đây sau giờ ăn trưa. Chúng mình sẽ có cả một giờ đồng hồ.”

Trong lúc Gleb Nerzhin mở cửa, Simochka vuốt lại mái tóc, sửa lại y phục, gài lại mấy nút áo.

Tạm ngưng trích.

“Anh đến đây từ Ðịa Ngục. Anh trở về Ðịa Ngục.“

Cảm khái cách gì! Svetlana ơi!

Advertisements

21 Responses

  1. Nguoi den de tang toi
    Mot nhat dao tuyet voi
    Dep nhu lan anh sang.
    Bo^~ lam doi cuoc doi.,,,,

  2. A commencement speech or commencement address is a speech given to graduating students, generally at a university, although the term is also used for secondary education institutions. The “commencement” is a ceremony in which degrees or diplomas are conferred upon graduating students. A commencement speech is typically given by a notable figure in the community, during the commencement exercise. The person giving such a speech is known as a commencement speaker. Very commonly, colleges or universities will invite politicians, important citizens, or other noted speakers to come and address the graduating class.

    Cháu không dám múa rìu qua mắt thợ , nhưng theo như cháu hiểu , commencement address trong trường hợp này , thì dịch theo nghĩa trên có lẽ đúng hơn.

    ” Delivering the commencement address at Harvard in 1978,”

    Năm 1978 , trong buổi nói chuyện ( hoặc diễn văn ) ở lễ ra trường tại Harvard ,….

    Mặc dù thời gian cháu sống ở Kỳ Hoa Đất Trích dài hơn ở Việt Nam , nhưng cháu xưa nay vẫn khẩu phục tâm phục Bác CTHĐ về sự uyên bác của Bác về 2 ngôn ngữ Anh và Pháp…Nếu cháu có sai , mong Bác bỏ qua.

  3. Kính thưa Ông Hoàng Hải Thủy và quý độc giả.

    Tôi không nhớ có danh tính của một vị độc giả nào đó, ông đã có một yêu cầu nói vê vị sử-tia quân đội Phạm Văn Sơn.

    Tôi rất biết về ông. Nhưng tiếc thay, lại không thể tường thuật từng chi tiết. Hôm nay tình cờ lên mạng đọc được, nên xin được post lại một phần. Bởi trong khuôn khổ hạn hẹp của muịc reply này không cho phép. Vậy tôi chỉ xin trích một phần rất nhỏ, vậy nếu quý vị nào muốn đọc được trọn vẹn xin vui lòng vào link sau.

    Nguồn : http://www.uminhcoc.com/forums/showthread.php?t=28726

    Chuyện kể về những Người Ngã Ngựa

    CÁI CHẾT CỦA SỬ GIA PHẠM VĂN SƠN

    Nguyễn Văn Dưỡng

    Trước năm 1975, ở miền Nam, ông Phạm Văn Sơn là một trong rất ít những vị viết sử. Bộ sử được nhiều người biết đến nhất của ông là bộ Việt Sử Tân Biên.
    Tôi hân hạnh được làm việc dưới quyền chỉ huy của ông từ năm 1958 đến 1960. Thời gian này ông mang cấp bậc Thiếu tá, giữ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Quân Báo & Chiến Tranh Tâm Lý Cây Mai; tôi mang cấp bực Trung úy, là huấn luyện viên và sĩ quan an ninh của Trường. Chính trong thời gian này, ông đã tu chỉnh bộ sử nói trên và cho tái bản.
    Những thì giờ nhàn rỗi, tôi đã tình nguyện giúp ông. Tôi được ông giới thiệu đến gặp ông Lê Ngọc Trụ, công chức làm việc ở Thư Viện Quốc Gia — lúc đó còn nằm trên đường Gia Long — để nhờ hướng dẫn sưu tầm tài liệụ Ông Lê Ngọc Trụ còn là một học giả, giảng sư Ngữ học của I.a.i học Văn khoa Saigon, đã chỉ dẫn cho tôi tìm được khá nhiều tài liệu và sách viết bằng tiếng Pháp về thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Các tài liệu này cũng như những tài liệu quí giá khác, giúp cho ông Phạm Văn Sơn tu chỉnh Việt Sử Tân Biên. Thời gian làm việc với ông, tôi đã học được ở ông nhiều điều về viết lách.
    Năm 1961, trường Cây Mai đổi tên, chỉ còn là trường Quân Báọ Ngành Chiế Tranh Tâm Lý tách ra riêng, đuợc dạy riêng ở một trường của ngành này, mới thành lập, ở một địa điểm khác; do đó, Thiếu tá Phạm Văn Sơn cũng được thuyên chuyển về ngành Chiến Tranh Chính Tri.. Sau đó không lâu, ông được bổ nhậm vào chức vụ Trưởng Ban Quân Sử của Quân Lực VNCH, thuộc Bộ Tổng Tham Mưụ Ông lần lượt được thăng đến cấp I.a.i tá và giữ nhiệm vụ này cho đến ngày miền Nam sụp đổ.
    Tôi nghĩ rằng, với khả năng của ông và và dưới sự chỉ đạo của người viết sử sở trường và kinh nghiệm như ông, hẳn là Ban Quân Sử Quân Lực VNCH đã viết được những bộ sử chiến tranh VN cận đại quí giá, nhất là binh sử thời kỳ sau năm 1954 trở đị Tôi nghĩ như vậy vì tôi biết ông PVS rất thận trọng, không thể khinh xuất trong nhiệm vụ của mình và càng không thể để cho thuộc cấp khinh xuất. Ngày trước ông thường bảo tôi :”Phải cố gắng làm sao cho mức độ trung thực và chính xác cao chừng nào tốt chừng đó, như vậy thì những điều mình viết về sử mới mong có thêm một chút giá trị Việc sưu tập những sự kiện, chứng tích, tài liệu có độ xác tính cao nhiều chừng nào thì việc so sánh, nghiên cứu, lượng giá, đối chiếu…dễ chừng nấy”. Ịó là lề lối làm việc nghiêm cẩn, thận trọng của ông. Vì vậy sau này, năm 1972, tôi đã không ngạc nhiên khi chiến trường An Lộc còn đang sôi động với những trận đánh đối tuyến chỉ cách nhau có một con đường, giành nhau từng góc phố — giữa các đơn vị VNCH và quân CS Bắc Việt — khi những cơn pháo kích dữ dội của địch quân chưa giảm, khi không một chiếc trực thăng nào đáp xuống An Lộc mà không sợ tan xác,tôi đã thấy ông hiện diện ở chiến trường này để tìm hiểu sự thật viết về trận chiến khốc liệt đó.
    Lúc bấy giờ, tôi là Trưởng Phòng 2 của Bô Tư Lệnh Hành Quân của tướng Lê Văn Hưng, đã cung cấp cho ông những tài liệu, sự kiện “sống” nóng bỏng, chính xác và đầy đủ. Tuy nhiên, muốn viết cho trung thực hơn, ông đã ở lại trong hầm chống pháo với tôi một đêm, thức trắng để nghe tiếng đạn pháo của địch quân rơi trên đầu mình và xung quanh đâu đó, vừa hỏi tôi thật chi tiết về những sự kiện ghi trong nhật ký hành quân (mỗi phòng của Bộ Tư Lịnh Hành Quân đều có) kể cả tài liệu, cung từ tù binh của địch bắt được trong các trận đánh trước ở đó.
    Sau khi ông rời An Lộc, không bao lâu mặt trận được giải tỏa, tôi đến Bộ Tổng Tham Mưu để gặp ông thì được biết ông đã ra Quảng Trị để làm nhiệm vụ như đã làm ở An Lộc. Như vậy ông và những sĩ quan thuộc cấp trong Ban Quân Sử đã hiện diện ở khắp chiến trường lớn để tìm sự thật viết về binh sử…
    Tôi nêu lên những chi tiết trên đây mong các bạn hình dung được tư cách khả trọng của một người viết sử chân chính, ông PVS, một người đã thành danh trong giới trí thức VN, để rồi tôi xin kể lại những ngày cuối cùng bi đát trước cái chết thảm thương của ông trong lao tù, dưới chế độ bất nhân, tàn độc của CSVN.
    Ngày 30/4/75, như mọi người đều biết, Dương Văn Minh, một tổng thống phi hiến định, tuyên bố đầu hàng CS Bắc Việt vô điều kiện, Quân Lực VNCH bị bức tử, buông súng, tan rã. Một số tướng lãnh, sĩ quan cấp tá, cấp úy tuẫn tiết. Tất cả những sĩ quan còn lại ở miền Nam vào lúc đó, bị dồn vào các trại tập trung tạm trong lãnh thổ miền Nam, cùng với các cấp chỉ huy cảnh sát, công chức cao cấp và các nhà hoạt động chánh trị trong các đảng phái miền Nam.
    Một năm sau, CS đưa tất cả những người mà họ gọi là có “nợ máu” nhiều nhất với nhân dân miền Bắc, giam giữ và bắt lao động khổ sai ở những trại giam trong rừng sâu nước độc của Thượng du và Trung du Việt Bắc. Một số sĩ quan và công chức khác còn bị giam giữ ở các trại cải tạo miền Nam.
    Tháng 6, năm 1976, đợt tù nhân đầu tiên bị đưa ra Bắc, trong đó có tôi, bị dồn cứng dưới khoang của những chiếc tàu thủy cận duyên cỡ nhỏ. loại chuyên chở của quân đội CS. Sau 4 ngày 4 đêm, tàu cập ở Bến Thủy thuộc Vinh. Từ đó vào nửa khuya, chúng tôi bị chuyển vào bờ, lần này thì bị dồn vào các toa tàu hỏa dùng để chở súc vật, lên phía Bắc.
    Ngày 15/6/76 — ngày duy nhất mà tôi nhớ suốt 13 năm tù — đúng một năm sau ngày tôi đưa đầu vào cùm ở trường Don Bosco ở Gò Vấp — trên chuyến tàu hỏa nói trên, qua một kẻ hở thật nhỏ của toa tàu, tôi đã nhìn thấy nhà thương Bạch Mai và ga Hàng Cỏ, những địa danh của Hà Nội mà tôi đã được đọc qua trong các tác phẩm của Tự Lực Văn Ịoàn, thuở tuổi học trò. 2 sĩ quan tù nhân cấp Tá đã ngộp thở chết trong toa chở súc vật, quãng giữa đường Việt Trì – Yên Báị Kể từ đó, có thêm hàng trăm tù nhân đi trên những chuyến tàu định mệnh này đã ngã xuống ở các trại tù miền Bắc, vĩnh viễn không còn thấy được những chuyến tàu xuôi Nam…Trong số những người này có I.a.i Tá Phạm Văn Sơn.
    Một số tù nhân trên dưới một ngàn người trên các toa tàu này được đổ xuống ga Yên Bái, trong số đó có tôị Từ ga Yên Bái, bộ đội CS dùng xe quân sự Molotova chuyển chúng tôi theo đường bộ lên Sơn La giam giữ ở các trại giam dành cho quân nhân. Tôi ở đó được một năm rồi bị chuyển sang trại giam công an, cũng ở Sơn La, trong 2 năm nữạ
    Năm 1979, trước cuộc chiến ngắn ngủi giữa Trung Cộng và CSVN không bao lâu, tất cả chúng tôi — những tù nhân chính trị — ở những trại giam trên các tỉnh biên giới phía Bắc và Tây Bắc được chuyển về các trại giam vùng Trung Du và các tỉnh phía nam, tây nam Hà Nội, như các trại giam Tân Lập (Vĩnh Phú), Nam Hà (Nam I.i.nh), Thanh Phong (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh),…
    Sự chuyển dồn trại như vậy làm cho đời sống lao tù chúng tôi đã cơ cực càng cơ cực hơn, ăn đã đói càng đói hơn, mỗi người không có được đến 4 dm2 để có thể nằm ngửa, phải nằm nghiêng chen chúc lẫn nhau mà ngủ sau mỗi ngày lao động nặng nhọc, nên phòng giam nào cũng hôi hám, thiếu ánh sáng, thiếu không khí đến ngộp thở, bao nhiêu chứng bệnh ngặt nghèo nguy hiểm đã bộc phát trong anh em chúng tôi, thuốc men không có để trị, mạng sống của mọi người cũng bị Tử Thần rình rập từng ngày từng đêm.
    Da số anh em chúng tôi được đưa về trại giam Tân Lập do công an quản chế, bây giờ đặt dưới sự chỉ huy của Trung Tá công an Nguyễn Thủy, một tên cán bộ chữ nghĩa viết chưa hết một lòng bàn tay nhưng vẫn thích đọc thơ Tố Hữu và Huy Cận trước mặt anh em tù nhân, trong khi lòng dạ lại hiểm độc vô lường…
    Tân Lập là một hệ thống trại gồm một trại chính và nhiều phân trại thường được gọi là K, đánh số từ K1 đến K7, nằm rải rác hai bên bờ một nhánh sông bắt nguồn từ sông Lô, chảy qua xã Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú. Tôi đến Tân Lập ngày nào năm đó, đã không còn nhớ nữa, chỉ nhớ là lúc đó trời đã bắt đầu trở lạnh; dù vậy, sau mỗi buổi lao động vẫn phải theo mọi người ra những bãi vắng trên sông này để tắm trước khi về trạị Chính ở các bãi tắm này chúng tôi mới thấy hình hài khốn khổ của nhau, vì mọi người đều trần truồng. Trong khi số tù nhân từ Sơn La mới chuyển về người ngợm còn chút thịt da, thì, những anh em tù đã ở trại giam K2 Tân Lập từ mấy năm trước thân thể chỉ còn da bọc xương, đến 2 bên mông là nơi lý ra phải còn có chút thịt, cũng chỉ thấy có xương xẩu nhô hẳn lên, trông thật thảm nãọ Khi tắm ai cũng rét run, vì cái lạnh của trời và nước làm cho mọi người thấu buốt ruột gan…bởi trong người không còn năng lượng để kháng nào nữạ
    Tôi nói lên những điều này để chỉ rõ chế độ quản chế, đối xử với tù nhân chính trị của trại giam Tân Lập cay nghiệt hơn bất cứ trại giam nào mà chúng tôi đã trải qua trước đó, mặc dù chúng tôi biết rằng với chế độ tập trung cải tạo, trại giam là nơi CSVN giết người kín đáo nhất, ít đổ máu nhất, bằng áp đặt khổ sai vắt sức, bằng bỏ đói trường kỳ khiến cho tù nhân chết mỏi mòn vì kiệt sức, vì bệnh hoạn hay vì những lý do mờ ám khác nữạ Không một ai trong chúng tôi, lúc đó, thoát khỏi sự thách đố của định mệnh, của cái chết đến bằng nhiều cách ở bất cứ lúc nàọ Ở Tân Lập, bọn công an Nguyễn Thùy đã làm hơn những điều chúng tôi nghĩ, đã biết. Vì thế các tù nhân chính trị chết trong các phân trại Tân Lập nhiều hơn bất cứ nơi nào khác. Riêng ở phân trại K2, mấy tháng mùa đông cuối năm 1979, đầu năm 1980, mỗi ngày ít nhất cũng có 1 đến 2 tù nhân chết; con số tù nhân đến bệnh xá (không có một thứ thuốc men nào để trị bệnh), hằng ngày hơn 200 người, mục đích không phải là để xin trị bệnh, nhưng để được khám, chứng nhận là bệnh, để khỏi đi lao động, được ngày nào đỡ ngày đó, mặc dầu họ là những người bệnh thực sự cần phải được điều trị và miễn làm việc…
    Tại K2 Tân Lập, trong hoàn cảnh chung như vậy, tôi đã gặp lại ông Phạm Văn Sơn.. Tôi đã nhìn thấy tận mắt những ngày sống bi đát cuối cùng của đời ông.
    Chừng một tháng sau khi đến K2, một buổi trưa, tôi và một người bạn tù khác cùng đợi đến phiên phải lên phạn xá gánh cơm về cho anh em trong đội ăn sau buổi lao động; trong khi chờ đến lượt mình nhận cơm, tôi đã vơ vẫn đến bên ngoài hành lang của một căn phòng nhỏ cạnh phạn xá, tôi thấy một người, đã nhận ra ông mà cứ ngỡ là đôi mắt mình đã nhìn lầm.
    Ông chính là Dại tá Phạm Văn Sơn, vị chỉ huy trưởng ngày xưa của tôị Ông chỉ còn là cái bóng âm thầm, một cái xác sắp mục nát, bất động, câm nín sau chân song sắt, bên trong cửa sổ của căn phòng “cách ly”, duy đôi mắt hiền hòa thì vẫn tinh anh như thuở nàọ Rõ ràng ông hiện hữu như một tĩnh vật có linh hồn sáng suốt, đang nhìn ngắm mọi sự vật đổi thay, quay cuồng điên đảo với những nhận định xuyên suốt, những ý nghĩ sâu sắc, cao xa nào đó một cách hữu thức, vì chính đôi mắt nhìn lắng sâu, và sáng kia là “cửa sổ linh hồn ông”, cho tôi biết điều đó.
    Tôi nhìn ông và ông nhìn tôị Trong một thoáng, quá khứ như chổi dậy; không biết vì mừng rỡ hay vì ngỡ ngàng xúc động, tôi chợt buộc miệng gọi lên :
    – “Thầy” !
    Chỉ một tiếng rồi lặng thinh. Tôi còn biết nói gì hay làm gì hơn khi mà ai cũng biết rằng mình bất lực trước hoàn cảnh bất hạnh nào riêng của mỗi ngườị
    Mắt ông hình như sáng hơn, ông đã nhận ra tôị Trong gương mặt đã biến dạng, sần sùi của ông, với đôi môi khẽ chớp động, tôi đã nhìn thấy một nụ cườị Ông đã hiểu rõ tâm trạng của tôi, tuy ông lặng lẽ không nói một lời nàọ
    Không một dấu hiệu, ông rời song cửa sổ. Chỉ chưa đầy một phút sau, cánh cửa ra vào của căn phòng nhỏ — đang khép hờ — mở rộng rạ Ông đứng ở ngưỡng cửa, thẳng thớm như đứng giữa giang san của mình, một giang san thu hẹp đến thật nhỏ nhoi, lạnh lẽo, cô độc…
    Với thế đứng vững vàng như vậy ông đã cho tôi ý nghĩ là, chính nơi này, nơi thật nhỏ nhoi này, là nơi ông đã tìm ra nguyên ủy, phương trình giải quyết và kết luận cho một nan đề khó giải quyết nhất, hay ông đang ấp ủ một điều gì thật to tát trong tư tưởng của ông. Nhận xét của tôi không thể nhầm lẫn vì ngày xưa nhiều lần tôi đã nhìn vào mắt và tư thế của ông mà đoán đúng những gì ông định ra lệnh cho tôi hay muốn nói cùng tôị Ở lần gặp lại này, tôi cũng linh cảm được ý nghĩ của ông như thuở đó.
    Tôi định bước vào hành lang, tiến đến gần ông nhưng kịp thấy ông nhìn tôi khẽ lắc đầụ Tôi dừng lại và ghi nhận đầy đủ hơn tín hiệu của căn bệnh ghê gớm đã và đang tàn phá cơ thể của ông.
    Ông đứng thẳng, hai tay chập lại để trước người, những ngón tay đan chéo vào nhau, chỉ nhìn tôi không nói một lời nàọ Ngày đó, trời đã la.nh. Tuy nhiên, tôi nghĩ không phải vì trời lạnh mà ông trùm kín đầu bằng một chiếc khăn lông trắng đã trở màu vàng, bẩn và lấm tấm những vệt máu, mủ. Vòng khăn quấn kín cổ chỉ chừa có đôi mắt, mũi, miệng và một phần rất nhỏ ở 2 bên má. Ông trùm kín mặt như vậy có lẽ đã che bớt đi những vết lở lói trên mặt mình, bởi chứng bệnh nan y của ông.
    Thân thể gầy gò nhưng cộm lên vì mặc nhiều lớp áo quần bên trong; bên ngoài, ông mặc một chiếc áo mưa màu nhà binh đã thật cũ, sờn rách một đôi nơị Chân được bó lại bằng những mảnh vải quần áo cũ xé ra, dính đầy bụi đất và những vết máu, vết mủ.
    Chỉ có một phần mặt mũi và hai tay của ông lộ ra, các phần thân thể khác không thấy được. Và chỉ có vậy thôi, tôi cũng nhận ra rằng không phải ông mang chứng lở lói bình thường mà tôi đã từng thấy, từng biết. Mũi ông đỏ ửng, bóng; hai má cũng vậy, cộng thêm một số vết lở lói; lông mi ở mắt đã ru.ng. Hai bàn tay cũng có những vết lở tấy, nhưng các ngón tay đã co lại, móng tay nhiều ngón đã bị khuyết lại hay mất hết : ông bị chứng phong hủi (leprosy) ở thời kỳ trầm tro.ng. Vì không có thuốc và vì điều kiện vệ sinh không thể có được trong tù nên bệnh của ông phát triển rất nhanh. Dó là lý do tại sao chỉ mới đi tù trong vòng bốn năm năm ông đã trở thành người tàn phế, bị cách ly riêng biệt.
    Có lẽ người ta gán cho ông chứng bệnh lở lói là để tránh sự loan truyền căn bệnh cùi trong trại giam. Vả lại ông bị “cách ly”, chỉ được ra ngoài vào những giờ mọi người đã đi lao động, không còn ai trong trại, nên ít ai biết rõ. Nhưng chính ông, ông biết rõ bệnh trạng của ông.
    Tôi nhìn ông thật lâu, trong lòng xót xa, không biết phải nói gì, làm gì. Vị sĩ quan cao cấp chững mực với quân phục chỉnh tề trang nghiêm ngày xưa nay đã mang hình hài của một người tàn phế giống như một kẻ hành khất lở lói mà ai cũng có thể gặp ở đâu đó. Dôi mắt tôi nói rõ sự thương cảm của tôi đối với ông. Và một lần nữa ông cười, nụ cười nhăn nhún với một chiếc răng khểnh trong môi, như ông muốn nói với tôi rằng :”Tôi chấp nhận định mệnh của tôi, nhưng tư tưởng của tôi đã vượt khỏi thân xác nhỏ nhoi tàn phế của tôi rồị Anh đừng thương hại cho tôị”
    Sau nụ cười là ánh mắt nhìn tôi sâu hơn. Trong ánh mắt đó của ông, tôi đã ghi nhận được sự thương xót của ông đối với tôị Hình như ông đã nhìn thấy lại người sĩ quan thuộc cấp trẻ tuổi của ông ở những ngày xưa, còn độc thân, mặt còn non sữa, nhưng sáng sủa và nhanh nhẹn, đã từng lúc làm ông hài lòng, cùng từng khi khiến ông phải chỉ bảo…Ngày nay, hắn ta đã trở thành một người cằn cỗi, gầy ốm, lam lũ với áo quần chùm đụp rách rưới, má hóp, mắt thâm vì những ngày thiếu ăn, những đêm thiếu ngủ. Hơn thế nữa, hắn ta còn chưa biết phải làm gì trong cảnh tù đày và trong tương laị
    Tôi chưa biết nói gì thêm, làm gì thêm ở buổi gặp lại ông trong hoàn cảnh khốn khổ đó, thì anh bạn cùng tôi đi lãnh cơm, tìm được tôi, thấy tôi đang đứng “nói chuyện” với Dại tá Sơn. Anh đến gọi tôi vì cơm anh đã lãnh xong để ngoài sân phạn xá.
    Tôi tần ngần một phút nhưng rồi cũng phải theo anh trở lại phạn xá gánh cơm về cho anh em ăn. Chúng tôi chào từ giã ông, không thấy ông trả lờị Tôi quay đi, mang theo nỗi buồn thật lớn. Anh bạn nói với tôi :
    – Dại tá Sơn đó, ông ta bị chứng bệnh nan y, vừa bị suyển, bệnh tim, lao phổị Ông không hề nói chuyện với aị
    Tôi trả lời ngắn : “Xếp cũ của tôị”
    Suốt ngày hôm đó tôi thẫn thờ vì những ý nghĩ miên man trong đầu óc tôị Dêm đó cũng không thể ngủ được. Tôi suy nghĩ về ông và những ngày tù đày của chính bản thân tôị
    Quả thật, trong lần đối thoại bằng mắt ở buổi gặp lại lạ lùng này, ông đã nói với tôi thật nhiều về thân phận của ông và tôị Tôi biết rõ ông đã vượt khỏi cái thân xác bệnh hoạn yếu đuối nhỏ nhoi của con người, dẫn phần tâm linh của ông đến một cõi an bình nào đó, như một tín đồ công giáo tin tưởng sự an bài của Dấng Tạo Hóa về định mệnh của mình. Hơn thế nữa, trong tư tưởng, ông không chỉ còn là một người viết sử bình thường, một sĩ quan bình thường, mà đã trở thành một triết gia lớn biết cả cội nguồn của dân tộc và tổ quốc. Tâm trí ông đã đi ra ngoài thân thể ông để đến một khung trời bao la nào đó, cao rộng, hay ít nhất cũng phủ trùm trên bờ cõi VN.
    Rõ ràng ông đã tìm được cho ông một lối thoát, sau khi đã trải qua đau khổ đến tột độ : thể xác nứt nẻ, nhức nhối vì bị gặm nhấm, rút tỉa bởi con máu độc hại của chứng bệnh nan y; bị bỏ đói khát lạnh lẽo, cô độc trong một nơi cách biệt đến trở thành câm nín. Bao nhiêu tháng ngày đau đớn oằn oại mà ông phải chịu đựng từng phút từng giây đó không đủ để ông trở thành một triết nhân hay sao, vả lại ông là một người thâm trầm, hiểu sâu học rộng…Dù sao thì ông cũng đã vượt thoát được đau khổ và tìm ra cho mình một con đường.
    Một ngày nào thoát khỏi gông cùm CS, nếu tấm thân tàn phế của ông còn hơi thở, thì biết đâu khối óc phong phú và tĩnh đạt của ông sẽ không giúp ông trở nên bất tử trong lòng mọi người, vì những điều chứa đựng trong đó sẽ có thể cho chúng ta những hiểu biết về lịch sử VN — trong thế hệ chúng ta — một cách xác đáng nhất, tường tận nhất, đáng suy gẫm nhất vì sao chúng ta đã đau khổ triền miên trong cuộc chiến tranh tàn khốc dai dẳng vừa quạ Hay xa hơn nữa, biết đâu ông cũng có thể cho chúng ta một triết lý nhân sinh rút tỉa từ kinh nghiệm bản thân ông, khả dĩ giúp được nhiều người tìm ra sự an bình trong tâm hồn ở cuộc sống nhiều đau thương nàỵ
    Tôi yên tâm phần nào về ông, vì tôi biết, dù ông là kẻ chiến bại trong cuộc sống, nhưng lại là người chiến thắng chính bản thân mình.
    Còn tôi, ông đã nói cho tôi biết bằng ánh mắt, là ông thương cảm cho tôi, vì ông đã biết rõ tôi đã và đang còn mù mờ, quờ quạng trong đáy ngục, trong lưu đàỵ Tôi chưa nghĩ gì cho hôm nay và cho ngày mai hơn là phải sợ lao động nặng nhọc sáng nay hay sợ bị đói lạnh chiều nàỵ Tâm trí, tư duy của tôi là một thứ bong bóng.
    Tôi phải gặp lại ông, tôi phải học tấm gương của ông, phải biết nhận chịu cái đau buốt tận xương tủy, để nghiền ngẫm về lẽ sống và tìm cho mình một con đường thích hợp nhất mà bước đị
    Từ ngày đó tôi định bụng hôm nào thuận tiện tôi sẽ đi tìm ông, vì ông ở phòng “cách ly” không phải lúc nào cũng tự tiện mà dến được, bọn cán bộ cấm ngặt mọi tù nhân đến đó.
    Trong mấy ngày liền, sau các buổi lao động xong về trại, tôi đi theo các bạn lãnh cơm lên phạn xá, lảng vảng đến gần căn phòng cách ly mong nhìn thấy ông để đến gặp, nhưng lần nào cũng trở về không. Rồi một buổi chiều tôi trở lại đó, từ xa tôi đã thấy ông sau xong cửa sổ, mắt đang nhìn ra xa xôi cao hơn bờ tường rào của trại trước mặt ông. Tôi muốn nhìn ông cho rõ hơn nên bước thêm mấy bước nữa rồi dừng lạị Một chập rất lâu, ánh mắt ông vẫn thế, không thay đổi hướng. Ở hướng đó, mặt trời chiều đã xuống thấp, nắng đã nhạt, mấy áng mây thật mỏng, ráng hồng, còn vơ vẩn, rồi bị gió xé nát rạ Tôi chợt thấy ông rùng mình.
    Tôi tự nghĩ : Chẳng lẽ mình nhầm hay sao khi nhận xét về ông ở buổi đầu tiên. Không do dự nữa, tôi bước đến gần, đứng ngoài sân, trước hành lang, chào ông và khẻ hỏi :
    – Chào Thầy, hôm nay Thầy có khoẻ hơn không ?
    Ông quay lại nhìn tôi, nhẹ gật đầu nhưng không trả lờị Dôi mắt ông lại hướng về góc trời có một bóng mây vừa tan, một thoáng như mờ đi, như nghĩ ngợi, rồi chợt sáng hẳn ra nhìn thẳng hơn vào mắt tôị
    Thôi, Thày ơi ! Tôi đã hiểu rồị Tôi đã hiểu trong lòng Thầy nghĩ gì và Thầy muốn gì ở tôị Lòng tôi trong một phút cảm thấy đau điếng.
    Tôi có nên nói đến những điều này cho các bạn nghe hay không ? Liệu các bạn có tin rằng tôi nói bằng sự thật, bằng tấm lòng của tôi hay không ? Thôi thì tôi cứ nóị
    Ông đã cãm nhận được định mệnh của ông rồị Hơn ai hết, ông hiểu rõ tình trạng sức khoẻ của ông. Ông chỉ sợ mình như ráng mây mong manh kia, sẽ phải tan rã mất đi vội vàng. Thời gian quí báo không còn nữa đối với ông, ngọn đèn hắt hiu trong tim ông sắp tắt, nhưng ngọn lửa lớn trong óc ông, đang rực sáng, không có chỗ thoát rạ Bốn bức tường của nhà giam này thật cay nghiệt; cái hoài bão của ông, niềm ấp ủ đã hình thành trong tâm não ông cũng sẽ tan biến mà thôị Ông không sợ bản thân ông bị tiêu hủy, ông chỉ sợ những điều đó bị tiêu diệt, tôi nghĩ như vậỵ
    Với ánh mắt nhìn thẳng vào mắt tôi, tôi nhận ra hình như ông muốn ủy thác cho tôi một việc gì đó sau này — khi tôi ra khỏi 4 bức tường của trại giam — chẳng hạn như sẽ thay ông viết lên những gì mà ông muốn để lại cho những thế hệ tương laị
    Nếu quả thật điều này tôi đoán đúng, tôi cam đành chịu sự thất lễ đối với ông. Dù tôi hiểu ông, nhưng làm sao tôi có thể hiểu tường tận những gì tách bạch định hình trong tư tưởng của ông.
    Ông đã nghĩ gì, ông đã biết những gì — hẳn nhiên là phải rộng lớn và khúc chiếc — ông muốn viết những gì, làm cách nào tôi có thể biết được. Vả lại, những thứ ấy là những điều mà ông phải phấn đấu thật cam go với bệnh tật, với chính mình bao nhiêu năm trời, chịu đựng vô vàn đau đớn tủi nhục từ thể xác đến tâm não mới có được. Nó là của riêng ông. Làm sao tôi có thể cảm nhận được hết, khi mức độ thương đau của tôi có hạn định; làm sao tôi có thể viết những điều ấy thành lờị
    Sở năng của ông là viết sử. Ngay ở công việc này, nếu tôi có hiểu biết một đôi điều, thì với khả năng của tôi, tôi cũng không thể thay ông mà viết nổi hết cái cao xa rộng lớn của ông, cái sâu sắc phong phú của ông, cái chiết trung tinh túy của ông, cái kinh nghiệm dồi dào của ông về những gì phức tạp nhất, nhiêu khê nhất, khuất lấp nhất của lịch sử ở thời đại nhiễu nhương nàỵ
    Nếu tôi cần thời gian để có được những ưu điểm trên đây như ông, thì sẽ bao lâụ Có lẽ suốt đời đến khi nhắm mắt, tôi cũng không có được.
    Hôm trước tôi gọi ông bằng “Thầy” để tránh tiếng gọi bằng cấp bậc đã trở thành “không thích hợp” nữạ Hôm nay, tôi cũng gọi ông bằng chữ đó, cùng nghĩạ Xét cho cùng, tôi chưa đáng là học trò của ông trên nhiều phương diện.
    Tôi đành cam chịu sự bất lực rồị
    Cái hy vọng giữ được cuộc sống của ông thật mong manh, cái hy vọng giữ sự hiểu biết trong trí não ông cũng không thể có, rồi cát bụi sẽ trở về với cát bụi mà thôi…Bỗng nhiên tôi nghe mấy giọt nước mắt lăn trên má tôị
    Ông nhìn tôi lặng lẽ thở dài rồi quay đị
    Tôi trở về phòng giam của mình với tâm trạng buồn bã, mệt mỏị Tôi muốn làm vui lòng cố nhân, muốn làm tròn bổn phận với một cấp chỉ huy tôi quí trọng, nhất là khi ông đang ở trong hoàn cảnh khốn cùng, nhưng tôi biết tôi kém tài, thiếu khả năng để khả dĩ hoàn thành sự ký ủy của ông.
    Sau buổi chiều đó, lại một đêm và nhiều đêm khác nữa tôi mất ngủ. Dù ông muốn hay không, tôi cũng thương cảm cho ông, xót xa cho ông. Niềm trắc ẩn của tôi không ngoài việc tôi biết ông cảm thấy sức khoẻ của ông đã cạn, ông biết ông sẽ không thể — bằng cách nào đó, phổ cập được những gì đó thật hữu ích đã kết tinh trong não tủy của ông qua những tháng ngày đau khổ. Niềm hy vọng cuối cùng là ký thác những điều đó cho một ai đó có khả năng, cũng đã bị giập tắt. Sự cô đơn của ông bây giờ đã hoàn toàn, tất cả đã quay lưng lại với ông. Bên ông có lẽ chỉ còn Thượng Ịế là vị an ủi, là vị cứu tinh cuối cùng mà thôị Con người đã không còn trong tầm mắt và niềm hy vọng của ông nữa, mãi mãi…
    …………………………………………………………………………..

  4. Để mất nước thì không còn gì nói được nữa. ! Đã đọc Solzhnetsyn qua Tầng đầu địa ngục , đã đọc Paxtacnac qua Bác sĩ Jivago , đã đọc Bàn tay bẩn của Janpolsac …v…v… mà còn để sa vào tay giặc .! thì còn nói gì nữa đây ….tốt nhất hãy xin lỗi các nhà văn đó vói những tác phẩm tầm Nobel mà ta vẫn hoàn toàn ngu muội và….đến già vẫn ngu !. Mùa hè 1974 khi bị chuyển lên trại Phong quang Lao cai trong mảnh báo gói đồ tiếp tế của một tù nhân ,tôi được biết Solzhnetsyn.qua mẩu tin phê phán ông dữ dội (- ông thật vĩ đại – tôi vô cùng khâm phục ông sau khi đọc mẩu tin đó ). Noel 1976 Khi ra tù may mắn tôi được đọc ( từ Sài gòn chuyển ra )nhiều tác phẩm vĩ đại của những con người trở nên vĩ đại trong đó có ” tầng đầu địa ngục ) .Thông điệp Solzhnetsyn. nhắc nhở không để bọn angten sống sót , không bao giờ ( dù chỉ trong ý nghĩ ) được thỏa hiệp với cs ), mọi nơi mọi lúc làm tất cả những gì có thể – theo khả năng của mình – góp phàn xóa bỏ chế độ cs !. Ấy thế mà các bạn tôi đọc như là ” một món ăn chơi ” – duy ngã độc thư cao (!) ….không chỉ để mất nước mà còn để thân mình tái diễn cảnh – Một ngày của Ivan – và hơn thế nữa vợ con còn khốn nạn hơn nhiều !. Than ôi ” súng đẻ ra chính quyền và gìn giữ chính quyền ” mà các bạn tôi lại buông !mà bây giờ vẫn đổ cho ” đồng minh tháo chạy ” …..họ đã bỏ ra 150 tỷ $ , gần sáu vạn sinh mạng – còn muốn gì nữa ?! hãy tự trách mình hãy nghe lời Ngũ tử tư nhắc Phù sai . Xưa tôi hy vọng ở các ban ! giờ tôi gửi đến các bạn lời cảm thán cảm thương chân tthành.

  5. Thưa ông Tô Huy Cơ ,

    Ông giống như một con ếch cứ bám mãi vào cái giếng sâu ngu dốt. Tui đã trả lời ông trong bài ” Trang nhà Hoàng Hải Thủy và những lời phỉ báng QLVNCH” chắc có lẻ ông chưa được đọc. Cũng không sao. Ông cứ mãi trách móc “những người bạn Miền Nam” đã để mất nước rồi còn tự nguyện chui đầu vào tù. Hể đọc mấy nhà văn Nga sô lốp ca lốp cốp rồi thì giữ được nước và không chui đầu vào tù hay sao.

    Người Mỹ can thiệp vào VN không phải để giúp VNCH chống lại bọn CSBV xâm lược, mà chỉ để ngăn chặn làn sóng đỏ. Người Mỹ tham chiến với chủ trương không đi đến chiến thắng cuối cùng. Chúng tôi làm được gì trong một cuộc chiến tranh tùy thuộc hoàn tòan người Mỹ. Bao nhiêu lần chúng tôi đề nghị Bắc Tiến không bao giờ người Mỹ chấp nhận. Không đem được chiến tranh ra ngoài Bắc. Không thành lập được Mặt trận giải phóng Miền Bắc thì chỉ có từ huề đến thua. Cho một thí dụ để ông hiễu. Thay vì cung cấp cho chúng tôi F4C để chúng tôi có thể oanh tạc ngoài Bắc thì người Mỹ lại cung cấp cho chúng tôi F5E. F5E đắt tiền hơn F4C nhưng là short range. Chỉ để phòng thủ không có khả năng tấn công ra ngoài Bắc. Khi trận hải chiến Hoàng Sa nổ ra. Những phi công F5E can trường của chúng tôi chuẩn bị cất cánh phải hủy bỏ vì khi bay ra Hoàng Sa tham chiến chỉ có 15 phút tác chiến và không đủ nhiên liệu để trở về Đà Nẳng. Giả sử người Mỹ đồng ý cho chúng tôi Bắc Tiến. Họ sẽ đảm nhận việc đổ bộ Sư Đoàn TQLC , Sư Đoàn Nhảy Dù và các Liên Đoàn Biệt Động Quân cùng các Lử đoàn Kỵ Binh Thiết giáp thì quân CS Bắc Việt có dám đem quân vào Miền Nam không. Chúng nó sẽ giữ lại những Sư đoàn tinh nhuệ để phòng thủ miền Bắc thì còn lâu chúng nó mới chiếm được Sài gòn. Người Mỹ không tháo chạy như nhiều người la hoảng. Người Mỹ sắp xếp cho binh sĩ của họ hồi hương giữa tiếng kèn tiếng trống theo nhịp quân hành với lời chúc thượng lộ bình an của chúng tôi. Khi mà người tù binh Mỹ cuối cùng rời Hilton Hoatel để hồi hương với cái bắt tay “hữu nghị” giữa Mao và Nixon thì chiến tranh VN đã chấm dứt. Giờ phút nầy chúng ta đã biết được TT Thiệu đã không chịu ký cái hiệp định Paris quái đản cho phép quân đội CSBV xâm lược ở lại Miền Nam. Và khi cái quân đội đó được phép ở lại Miền Nam thì hòa bình là sao có. Từ khi ký cái hiệp định quái đản đó CSBVXL đã chiếm được tỉnh nào của Miền Nam chưa. Từ khi người Mỹ rút quân đầu năm 1973 đến đầu năm 1975 Quân CSBVXL ở đâu. Chui rút trong rừng già , chém vè bên Miên bên Lào các lảnh đạo CSBVXL đã ê càng trận chiến Mùa hè đỏ lửa 1972. Giả sử vì một thỏa thuận nào đó giữa Mỹ và Liên Sô và Trung Cộng ngưng viện trợ cho Miền Bắc thì Miền Bắc có chiến thắng được không? Viện trợ Mỹ từ 2 tỷ 4 xuống 750 triệu rồi cắt xuống 350 triệu rồi không tháo koán thì Quân Lực VNCH của chúng tôi còn gì mà chiến đấu nữa. Thua là cái chắc.

    Thế chiến quốc. Thế Xuân Thu
    Gặp thời thế, thế thời phải thế

    QLVNCH chúng tôi có 260 ngàn chiến sĩ hy sinh và hơn nữa triệu thương binh. Chừng đó chưa đủ để nói lên rằng Quân Lực VNCH chúng tôi đã chiến đấu và đã hy sinh cho Tổ Quốc VNCH chăng.

    • Hoan hô ông Ngụy Sàigòn!!!

      Đanh thép, sắc bén như thế mới là lý luận của dân “Ngụy” chính gốc Sàigòn! So với bọn việt cộng mồm loa mép giải thì quả là một trời một vực.

      Riêng vế đối “Thế Chiến Quốc, Thế Xuân Thu …” của Ngô Thời Nhiệm được ông trích dẫn ở trên cũng đủ chứng tỏ được cái khẩu khí của một bậc trí giả đang quát vào mặt lũ tiểu nhân đắc chí.

  6. @ Ô. Tô Huy Cơ.

    Thấy mấy ông cứ nói hoài cái vụ thua việt cộng. Rồi nào tù, nào tội tùm lum mà nản chí không thể tưởng.

    Bây giờ chúng ta nên suy nghĩ và chuẩn bị tinh thần cũng như tư tưởng để sống và phấn đấu thời ‘ HẬU VIỆT CỘNG” đấy ông ạ.

    Ông cứ yên chí bự mà rằng việt cộng không còn bao lâu nữa đâu. Tôi có thể quả quyết chỉ đếm trong một bàn tay. Tôi hiện vẫn ở trong nước nên hiểu bọn thủ lợn ở ba đình rất rành. Rành hơn bàn tay tôi có ngón nào dài nhất.

    Những người lính chiến đấu “thứ thiệt” như chúng tôi đây, thú thật với ông dẫu từng tù tội, áp bức, đoạ đày, kỳ thị v.v… chúng tôi chưa hề lấy một lần biết sợ việt cộng là gì.

    Nhớ lại năm 1972, đại quân việt cộng dốc toàn lực vượt sông Bến hải. Chúng tôi với một đại đội lẻ tẻ bị tấn công khốc liệt, phải ly tán. Nhưng vẫn chắc tay súng. Để sau đó gia đình tập họp lại được đầy đủ mà vừa rút vừa đánh cho đến khi về đến sông Mỹ chánh an toàn, nhưng vẫn bảo toàn được quân số (kể cả những anh em đã anh dũng hy sinh và bị thương).

    Chúng tôi chỉ ưu tư và ái ngại nhất là sau khi chúng sụp đổ mà thôi. Cái thời đó mới là cái thời chết dở. Bởi lẽ hắc bạch khó phân minh lắm. Nào là đám chống cộng cò mồi, bọn chống cộng giả hiệu. Bọn lính quốc gia đã đào ngũ, rồi trở cờ. Bọn người không ra người, ngợm cũng cóc ra ngợm v.v… Bỗng hiên ngang nhẩy xổm vào chính trường y như chó nhẩy bàn độc…. thế mới chết đấy ông ạ.

    Tóm lại, lịch sử đã sang trang. Giờ chúng ta không cần bận tâm đến những trang sử cũ làm gì cho mất thì giờ và mất sức khỏe. Giờ chúng ta nên dốc tâm, dốc sức cho trang sử mới của nước nhà mà thôi. Với hết cả tấm lòng thiết tha với dân với nước. Tôi cầu nguyện với vong linh tổ tiên nước Đại Việt chúng ta phù hộ sao cho Nước Ta, dân ta ngày mai được tươi sáng.

    Thân mến.

    • thua Ong Van Toan,
      Nay da la nam 2010,ngot nget 35 nam roi Ong a.Nhung nam dau thap nien90,CS roi rung dan dan,o hai ngoai nay nhieu tay thay mu so voi,cung lac quan (teu)cho rang csvn chi song bang so nam dem tren dau ngon tay.Toi cung co duoc gan 6 nam o tu (khong cai tao cai con me gi ca),vi chinh mieng bon “quan giao” tung noi thang voi chung toi rang ,chung no khong the cai tao duoc chung toi. Roi thoi gian cu troi qua,ban dau lac dat vai ten tro co,den gio xem co ve so luong dong hon,that dang ho then (trong so do co nhung nguoi cung chien tuyen voi toi,da o tu lau hon toi nua),co the vi cho mai(MA KHONG MUON LAM GI) nen ho xuoi theo dong doi chang?rieng toi,thay that ngan ngam cho con nguoi trao tro,toi khong trach moc ai,khong nhieu thi it cung da dong gop cho su tan hang cua QLVNCH (con ngu muoi)o lai(khong phai vi lopcalopcop) ma vi da qua vat va tren TL7,nen dut dau vo tu. Dang luc o hai ngoai nay,may ten bai tuong,tau tuong dang bay tiec moi,toi chan ngan su doi thi may man duoc doc nhung dong chu (chac nhu …bap rang) ve su tan ra cua dam bac bo phu cua Ong ,toi phan chan tro lai,nhat la nghe Ong khuyen chung ta chuan bi song thoi hau vc.

      Xin Ong dua ra mot vai hanh dong cu the de toi noi theo,chu cu cho ngay cs tan ra nhu nhung thay mu chuc nam truoc thi toi cho than gia cua toi qua Ong oi!

      • Thưa Ông n2n.

        Trích : …………… “ Dang luc o hai ngoai nay,may ten bai tuong,tau tuong dang bay tiec moi,toi chan ngan su doi thi may man duoc doc nhung dong chu (chac nhu …bap rang) ve su tan ra cua dam bac bo phu cua Ong ,toi phan chan tro lai,nhat la nghe Ong khuyen chung ta chuan bi song thoi hau vc.
        Xin Ong dua ra mot vai hanh dong cu the de toi noi theo,chu cu cho ngay cs tan ra nhu nhung thay mu chuc nam truoc thi toi cho than gia cua toi qua Ong oi!

        Thưa Ông n2n:

        Rất cảm kích và cảm động vì những lời nói còn nhiều nhiệt huyết của Ông. Trước đây có Bác Backy54 muốn tôi nêu lên những ý kiến riêng của mình về tình trạng suy sụp và tương lai hậu vận của bọn thủ lợn ba đình.

        Tiếc thay, tôi vốn dốt nát nên khó có thể trình bầy sao cho thấu đáo và cặn kẽ được. Nay lại được thêm ông khuyên khích như trên. Vậy tôi cũng xin rán hết sức “bình sinh” mà vận công để “thi triển” võ vẽ đôi ba nét hầu Ông.

        Phàm trên đời này muôn vật đều phải có gốc, có ngọn. Sự việc thì phải có nguyên nhân, có hậu quả. Tức là có trước, có sau phải không ạ !

        Vậy, mình cứ xét vật bằng nơi gốc của chính nó, thời mình mới có thể đoán non, đoán già là nó bền, tốt đến độ nào.

        Sau đó nếu mình tinh tường hơn, nhìn vào tim, gan, ruột, phèo, phổi của nó, mình sẽ biết rõ là nó đã chết, hoặc đang chết, hay sẽ chết. Nếu nó “cà chớn”.

        Ngược lại bộ đồ nghề của nó ngon lành thì nó sẽ “thọ”. Còn thọ được bao lâu thời còn tùy vào cái gốc của nó nữa. Bi giờ thiên hạ sính dùng chữ “gien” di truyền.

        Ông hãy thử nhìn vào những cành hoa còn tưoi mơn mởn đang cắm trong bình thử xem. Nó đang chết đấy đấy chứ. Phải không ạ !

        Bởi sao ? Bởi cái gốc nó không còn nữa. Nên nó vô dụng với chính nó rồi. Giả như, nó vẫn còn trên cành của cây sinh ra nó, thời nó có héo úa và tàn rụng đi chăng nữa, nó vẫn có ích cho đám hậu duệ mai sau.

        Hiện tại, tuy nó được người ta cắt, tỉa chưng diện rất là huê mỹ tới mấy, nhưng thực sự nó đã chết rồi. Theo ngôn ngữ của dân nhậu chúng tôi nơi miền quê : Chết từ trong tim đó Ông ạ. Hả họng ra vẫn còn tợp được mấy ngụm rượu. Vén môi ra, vẫn còn cười tồ tồ được mấy tiếng. Nhăn răng ra vẫn còn bô bô lếu láo mấy lời nói rỗng tuếch, vô hồn, vô nghĩa lý. Đó là triệu chứng chết từ trong tim rồi đấy. Phải không ạ !

        Kìa là đại ca chém gió, tức Sáu nổ – hỗn danh giang hồ vặt trong nước của Nguyễn minh Triết.

        Ông đã từng thấy đại ca chém gió bao giờ chưa ? Gã nổ vừa sảng, vừa ẩu vừa trơ trẽn muốn ói. Vốn là vang danh Sáu Nổ, nên đại ca nổ tứ lung tung, chẳng ra ngô, ra khoai chi hết. Đó là triệu chứng chết từ trong tim rồi đó Ông.

        Hoặc giả, không nổ ẩu, nổ bừa bãi như pháo kích của việt cộng vào thành thị VNCH. Mấy khứa kia trong đám thủ lợn ở ba đình, thì tên nào, tên nấy cứ dán chặt cặp mắt có mục kỉnh de luxe dzô tờ giấy được đàn em viết sẵn, cứ như tờ giấy đó có lớp keo siêu dính chuột vậy.

        Kiểu nói đó, thì tên nào cũng như tên nấy đếu sáo rỗng, vô hồn, vô bản sắc, vô nghĩa lý. Đó là triệu chứng chết từ trong tim rồi đó Ông ạ !

        Tôi nhớ là trên diễn đàn này, ít nhất là hơn một lần tôi có nói rằng : Việc gì mà chúng ta cứ tốn công, hoài sức để chống cộng.

        Bởi ta cứ ra rả chống cộng, chẳng khác nào ra bãi tha ma múa võ, hoặc ca vọng cổ … Phải không ạ. Bởi bọn đó đã chết từ phia lắm rồi, chẳng qua còn nhúc nhích … thế thôi !

        Tôi hoàn toàn ủng hộ ông Hoàng Hải Thủy – ít nhất những gì ông đã, đang và sẽ viêt trên trang mạng của ông. Ông viết những bài đó, cốt ý để chúng ta (hiện tại) và con cháu chúng ta (tương lai) đừng bao giờ quên, đừng bao giờ mù mờ ảo tưởng về cộng sản. Dù nó đã mai một (Liên sô và Đông Âu).

        Chỉ có thế thôi, còn với bọn việt cộng thì cùng lắm ông HHT chỉ bộp vài cái bộp tai, đá mấy đá vào mông nó là xong. Chả có gì là nặng nề và hận thù cả.

        Tôi nhớ thuốc lá CAPSTAN thời còn thanh niên mình hay hút, được thiên hạ huyên truyền như sau :

        CHIẾC ÁO PHONG SƯƠNG TẶNG ÁO NÀNG – NHẬN ÁO THƯ SINH PHỤ ÁO CHÀNG.

        CHIỀU ẤY PHỐ SẦU TÌNH ÂN NGHĨA – NGHĨA ANH TRÒN, SAO PHỤ ANH CHI.

        Kề từ khi bỏ lớp áo thư sinh, để khoác lên người ba thước kaki. Cho đến ngày không cố gắng mà phải tan hàng, đến nay có học hành được thêm mấy chữ nào đâu. Có chăng, thời trước mình vác súng. Nay vác cầy ra ruộng kiếm ba hột lúa cho đỡ thẹn : Hỏi rằng quan ấy ăn lương vợ …

        Những mong, vài lời “thủ thỉ” làm Ông n2n và Bác Backy54 được vui tí nào chăng ?

        Thân mến.

  7. Hoan hô hai bác Van Toan và Nguysaigon. Đọc bài của hai bác mà mát cả ruột gan. Chứ bài của người cõi trên đọc sao nghe…cõi trên quá. Nhờ ông cõi trên mà bi giờ tôi mới biết là chúng ta bị mất nước là vì chúng ta không chịu đọc mấy ông lốp ca lốp cốp ,và cũng nhờ hai bác mà tôi biết thêm là người ta cũng có hai loại người,một là người tầm thường bị mất nước như chúng ta và một là loại người cao cấp ,tục gọi là người cõi trên.

    Xin cảm ơn hai bác . Kính mến. Bk54.

  8. @ Ô. Tô Huy Cơ.

    Tôi nghe ông nói (trích) ” Đã đọc Solzhnetsyn qua Tầng đầu địa ngục , đã đọc Paxtacnac qua Bác sĩ Jivago , đã đọc Bàn tay bẩn của Janpolsac …v…v…”
    Mà hết cả hồn.

    Tôi chỉ biết những người lương dân vô tội, tay bồng, tay bế con nhỏ thơ dại, còn kéo cả mấy người nữa trong gia đình mà chạy giặc cộng sản. Nhất là trong mùa hè đỏ lửa.

    Tôi chi nghe những tiếng gào, tiếng thét, tiếng la, tiếng rên vì những người dân đó bị thương, hoặc thân nhân nhà đã trúng phải đạn của việt cộng bắn xối xả vào những đoàn người di tản.

    Tôi chỉ thấy được những đôi mắt thất thần đến vô hồn. Vi họ phải trải qua những thời gian qúa kinh hoàng của địa ngục trần gian mà việt cộng gây nên.

    Tôi chỉ chứng kiến những xác người dân lành chết đến mấy lần, đến nỗi xác thân bị đạn pháo việt cộng cầy xới tung toé khắp nơi … lên.

    Nay ông lại noí : ….. ” mà còn để sa vào tay giặc .! thì còn nói gì nữa đây ….tốt nhất hãy xin lỗi các nhà văn đó vói những tác phẩm tầm Nobel mà ta vẫn hoàn toàn ngu muội và….đến già vẫn ngu !.

    Vâng chúng tôi ngu thì đến chết vẫn còn ngu. Nhưng chả việc gì phải xin lỗi mấy ông trí thức xa lắc tí tè nào đó.

    Nhưng dù ngu đến độ nào đi nữa, chúng tôi vẫn không bao giờ quên những gì bọn việt cộng khát máu đã gieo rắc bao nỗi thê thảm, tan hoang, kinh hoàng lên đầu người dân Việt từ hơn nửa thế kỷ nay. Và sẽ còn nữa, còn nhiều nữa.

    Khi còn cầm súng để đối diện với quân bán nước, chúng tôi đã không biết bao phen phải chùn tay khi chứng kiến những cậu bé còn rất vụng dại, bị chúng xua ra chiến trường làm cầu thang cho chúng leo lên, cho thỏa mãn ảo mộng quyền lực đỏ của thiên đường xã nghĩa.

    Họ còn rất trẻ, phải nói là còn rất nhỏ, chỉ độ chừng 16, 17 tuổi là cùng. Thê thảm chưa hỡi ông ?!

    Họ bị bắt xiềng xích lại để nằm chốt trong hầm hố, để diệt dân lành chạy trốn chiến tranh, tránh xa nơi đầu tên hòn đạn. Đồng thời để đánh chặn những đoàn quân VNCH tăng viện.

    Rồi họ bị lửa đạn của chúng tôi rưới lên mà không thể nào vùng chạy cho thoát. Để khỏi bị thiêu sống.

    Họ bị xiềng xích từ khi chưa đi B cho đến khi bị tung vào chiến trường ngày càng khốc liệt. Có là gỗ đá chúng tôi cũng phải chùn tay.

    Chúng tôi phải bủn rủn cả người khi những thiếu niên còn quá non dại đó, cứ xung phong lên như những người lên đồng. Như họ là những người bị điếc, không hề nghe được tiếng súng, tiếng bom … Rồi họ hàng hàng lớp lớp mà gục đổ xuống như một cây chuối bị đốn.

    Sau đó, chúng tôi sẵn sàng im lặng chờ đợi cho đồng đội của họ đến kéo xác đi … nhưng thưa ông không … không hề ông ạ !

    Chúng tôi đã mệt tã người ra rồi, vì trắng mắt chờ đợi quân thù từ ngày này qua đêm khác. Nhưng chúng tôi cũng phải rũ người ra mà đào hố chôn họ. Mệt bã ngưòi đến nỗi, chúng tôi nay cũng không sao nhớ ra được những hố, những huyệt đó nông sâu bao nhiêu nữa.

    Đến nay thân nhân của những thiếu niên non dại đó nào có ai biết lấy một mẩu tin nào không ???

    Đất nước này, dân tộc này từng chịu quá nhiều đau thương qua hằng bao thế kỷ rồi. Chưa đủ sao ? Có cần lắm không để vươn lên tầm NOBEL ???????

    Có lẽ giờ này ông nên gửi đến các thân nhân, gia đình những nạn nhân của miền Bắc XHCN, có con em bị xua vào làm mồi cho chiến tranh, làm “vật liệu” cho ảo tưởng quyền lực, lời cảm thán cảm thương chân thành. Thì tốt hơn và nhân đạo hơn cũng như trí thức hơn.

    Chào ông.

  9. Lời nói đầu : Ngụy tui viết bài nầy để phản bác những lời nói những ý kiến sai lạc nhắm vào những người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong bài viết Dùi và Đất Cắm Dùi của Công Tử Hà Đông tức nhà văn Hoàng Hải Thủy trong website hoanghaithuy.com

    Trích từ Ông Tô Huy Cơ:

    “Hơn 30 năm trước tôi đã đọc nhiều tác phẩm của Sôn-giê-nit-sin, Bun-ga-cốp và nhiều danh nhân khác. Đến bây giờ mới thấy “Tầng Đầu Địa Ngục “trên trang Web này. Tôi tự nhủ trong tuổi trẻ mình đã nhận định đúng, mình đã cố gắng góp sức mình chống lại cái Ác ! Tiếc thay các ông bạn mình trong kia — Miền Nam — đã không giữ được mảnh đất cắm dùi… Nếu các ông trong Nam biết khi bị sa vào tay Giặc, các ông sẽ bị tù đầy, khổ nhục đến như thế nào, chắc các ông đã có ý thức hơn.”

    Ngưng trích

    Đây là tiếng thét bi thương từ lòng căm phẩn của một người hiểu cái ác của CSVN nhờ đọc sách của mấy ông lốp ca lốp cốp. Ông trách nhẹ mấy ông bạn Miền Nam (MN) đã thiếu ý thức nên đã không giữ được mảnh đất cấm dùi. Đúng là Oan Ơi Ông Địa . Thưa Ông Tô Huy Cơ. Chúng tôi hiễu nỗi lòng của người Miền Bắc khi nghe MN sụp đổ rơi vào tay giặc. Từ bi thương đi đến tuyệt vọng rồi có những lời trách móc nặng nhẹ. Tôi thông cảm cho Ông.

    Thưa Ông Tô Huy Cơ,

    Chúng tôi dù không đọc sách của mấy cha lốp ca lốp cốp nhưng chúng tôi cũng đã biết, đã nghe và đã thấy tận mắt những tàn ác tột cùng của cộng phỉ. Tổng thống chúng tôi từng nói “Đừng nghe những gì CS nói. Mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm” “Đất nước còn là còn tất cả. Đất nước mất là mất tất cả”.

    Đồng bào Miền Nam chúng tôi đã thấy đã biết hơn 5000 đồng bào chúng tôi tại Huế bị Cộng phỉ chôn sống. Hàng chục ngàn đồng bào Quảng Trị không một tấc sắt trong tay bị Cộng phỉ tàn sát trên 9 cây số đường mà báo chí ngoại quốc gọi là Đại Lộ Kinh Hoàng. Hàng ngàn đồng bào An Lộc chạy loạn bị Cộng phỉ bắn đến người cuối cùng tại Suối Tàu Ô, Bình Long. Và hàng trăm ngàn đồng bào chúng tôi bị sát hại tại Liên Tỉnh Lộ 7B trên đường chạy giặc Cộng

    Chúng tôi, những người lính chiến QLVNCH, đã vì dân chiến đấu và vì dân hy sinh. Anh em chúng tôi khi sức cùng lực tận bị bắt tại chiến trường và dù được trao trả tại Lộc Ninh, Thạch Hản hay Kontum…thì cũng đều giống nhau. Đó là những thây ma biết đi, biết bò. Trong quyển Tù Binh Và Hòa Bình của nhà văn Phan Nhật Nam, một chiến hữu tù binh của Ngụy tui đã tè trong quần ngay tại hàng. Được hỏi tại sao không xin phép đi vệ sinh. Anh trả lời rằng chúng nó (VC) tàn ác lắm không khéo nó giữ lại không trao trả thì chỉ có chết. Những chiến sĩ can trường của chúng tôi đã trở về từ địa ngục, đã về lại vòng tay ấm áp biết ơn của đồng bào ruột thịt miền Nam của chúng tôi. Họ là những hình ảnh sống thực nói lên cái tàn bạo dã man, phi nhân của bọn phỉ quyền Cộng Sản VN. Phần đông họ đã xin trở lại đơn vị cũ để chiến đấu lần nữa chống lại quân bạo tàn ác độc.

    Ông ở ngoài Bắc làm sao ông biết được những chiến thắng vang dội của chúng tôi.

    Tại Kontum, Tướng Lý Tòng Bá và Sư Đoàn 23BB đã đánh tan tác ba sư đoàn cộng quân thuộc B3 do Tướng VC Hoàng Minh Thảo chỉ huy. Bọn chúng phải trốn chui trốn nhủi chém vè qua Cao Miên trú ẩn.

    Tại An Lộc Tướng Lê văn Hưng cùng Sư Đoàn 5BB và các Liên Đoàn 81 Biệt kích Dù cùng Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù và các đơn vị Địa Phương quân và Nghĩa Quân và Cảnh Sát phòng thủ An Lộc đã chận đứng ba Sư Đoàn Bắc Việt xâm lược (BVXL). Chúng nó đã bỏ lại hàng chục ngàn cán binh sinh Bắc tử Nam chân cẳng còn bị xiềng vào xe tăng vào đại bác.

    Sáu Sư đoàn CSBVXL đã bị thảm bại tại cổ thành Đinh Công Tráng hằng chục ngàn cán binh cộng sản phơi thây tại chiến địa. Đó là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Cộng quân đã thua tan tác trên khắp các chiến trường từ Quảng Trị vào tận Cà Mau. Hơn 18 Sư đoàn Cộng quân tăng cường các Trung đoàn Pháo, Trung đoàn Chiến xa đã đọ sức cùng QLVNCH. Quân Mỹ chỉ còn khoảng 42 ngàn chờ hồi hương đang nằm án binh bất động. Mùa hè năm đó quân Cộng phỉ thua tan tác không còn đủ sức để mở bất kỳ một trận đánh lớn nào nữa về sau. Chui rút trong rừng già. Chém vè bên xứ Lào, xứ Miên. Gây kinh hồn tán đởm mấy tay trong bộ chính trị của đảng phỉ.

    Năm 1974 tại căn cứ Biên phòng Đức Huệ , Tỉnh Hậu Nghĩa. Tướng Kỵ Binh Trần Quang Kkhôi và Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III chỉ trong một ngày đã đánh tan Công Trường 5 CSXL gây kinh hoàng cho bọn phỉ quyền cộng sản.

    Trong trận tái chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị hơn 3500 chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến ưu tú của chúng tôi hàng ngàn Thiên Thần Mũ Đỏ cùng các Kỵ Binh, Bộ Binh yêu quý đã nằm xuống trong trận tái chiếm Cổ Thành thần thánh nầy.

    Tại cao điểm Charlie có hơn 600 Thiên Thần Mũ Đỏ trấn giữ. Cộng Sản BVXL đã dùng một sư đoàn để tấn công ngày đêm. Hơn 8000 quả pháo mỗi ngày trong một địa thế quá chật. Điều gì đã khiến họ giữ vững tinh thần để chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến giọt máu cuối cùng? Đại Tá Nguyễn Đình Bảo tiểu đoàn trưởng và hơn 400 chiến sĩ Nhảy Dù đã nằm lại đồi Charlie nghìn thu vĩnh biệt.

    Tại Tống Lê Chân, Trung Tá Nguyễn Văn Ngôn và hơn 300 chiến sĩ Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân Biên Phòng đã giữ vững tay súng hơn 500 ngày chiến đấu trong một hoàn cảnh khắc nghiệt, thiếu thốn tiếp liệu và không được tải thương để chận đứng nguyên một sư đoàn quân BVXL. Điều gì đã khiến họ dũng cảm can trường coi cái chết nhẹ tợ lông hồng? Đó chính là ý thức Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm mà bất cứ người lính chiến QLVNCH đều nằm lòng. Họ chiến đấu vì dân, vì Tổ Quốc quên mình. Họ không chiến đấu cho bất cứ một đảng phái hay thế lực đế quốc nào cả.

    Ông bảo rằng họ thiếu ý thức. Nếu thiếu ý thức tại sao họ đi vào lòng đất mẹ một cách thanh thản và hào hùng sau khi làm tròn nhiệm vụ của người trai trong khói lửa. Ông nhớ rằng chiến sĩ chúng tôi không bị tuyên truyền nhồi sọ mù quáng. Không bị kềm kẹp bởi chính sách hộ khẩu. Không bị lừa dối bởi chính quyền hay bất cứ thế lực đảng phái nào. Họ ra đi vì họ tới tuổi động viên. Một phần khác, họ tình nguyện vào lính để thỏa mản chí tang bồng hồ thủy, làm trai cho đáng nên trai. Xuống Đông Đông tỉnh lên Đoài Đoài tan. Sĩ quan xuất thân từ quân trường Vỏ Bị Đà Lạt, Hải Quân, Không Quân là những người tình nguyện vào lính để bảo quốc an dân. Chế độ quân dịch của chúng tôi là 18 tuổi không như miền Bắc đã gửi vào Nam những cán binh 14, 15 tuổi thậm chí Ngụy tui bắt được tù binh 12 tuổi. Được hỏi tại sao đi lính sớm thế. Mấy chú trả lời là trúng tuyển nghĩa vụ quân sự mà trốn thì cả nhà không mua được gạo và nhu yếu phẩm cả nhà sẽ bị công an sách nhiểu không sống được. Thuở đó chúng tôi khi nghe tù binh khai báo đã phì cười cho rằng con nít nói láo.

    Dài dòng như thế để cho Ông thấy rằng khác với miền Bắc, chúng tôi, những ông bạn miền Nam của Ông, đã có ý thức rất rõ hiểm họa xâm lăng của Cộng Sản. Chúng tôi đã gọi bọn chúng là quân Cộng Sản Bắc Việt xâm lược. Chúng tôi đã ý thức rất rõ nhiệm vụ bảo quốc an dân với tâm niệm Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm.

    Ngày tàn cuộc chiến, chúng tôi hàng ngàn Sĩ Quan, Binh sĩ đã tự sát để bảo toàn khí tiết trong đó có 5 vị Tướng Quân đã tuẩn tiết. Đó là những Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, những Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ. Những vị Tướng Quân đó ý thức được gì trong cơn quốc phá gia vong? Họ đã ý thức được đạo làm Tướng mà không giữ được thành bảo vệ được dân thì họ phải theo gương của Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản ngày xưa. Họ ra đi một cách can trường đầy dũng khí. Nhưng cũng có những vị Tướng Quân khác chọn cách hành xử khác. Đó là Tướng Lý Tòng Bá. Ông cùng Sư Đoàn 25 BB chận đường tiến quân của một quân đoàn CSBVXL đang tiến về Sài Gòn. Đó là Tướng Lê Minh Đảo đã cùng Sư Đoàn 18 BB đã chận đánh Quân Đoàn 4 CSBVXL tại Long Khánh gây cho chúng nhiều thiệt hại đáng kể. Đó là Tướng Kỵ Binh Trần Quang Khôi cùng với Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III đã đánh tan tác SĐ 341 CSBVXL và là đoàn quân còn nguyên vẹn duy nhất của Quân Đoàn III ngày cuối cùng trận chiến. Mỗi vị Tướng đó đều có trực thăng riêng. Họ có thể đào thoát dễ dàng bất cứ giờ phút nào, bất cứ ở đâu. Nhưng tại sao họ quyết định đánh đến hơi thở đến viên đạn cuối cùng? Tướng Lý Tòng Bá bị bắt tại mặt trận. Tướng Lê Minh Đảo và Tướng Trần Quang Khôi đã buông súng khi TT Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng. Có phải Họ không đào thoát vì không biết sự tàn ác của Cộng Sản VN? Không phải thế. Có người tuẩn tiết, có người ở lại chịu trăm cay nghìn đắng cùng với chiến sĩ của họ bởi vì họ ý thức được đạo làm Tướng. Cùng chia gian khổ cùng sống chết vói nhau trong tình huynh đệ chi binh. Riêng Tướng Kỵ Binh Trần Quang Khôi sau 17 năm tù Ông tuyên bố rằng nếu phải làm lại từ đầu thì Ông cũng làm như thế dù biết rằng sẽ mất tất cả trừ DANH DỰ. Cái danh dự mà Ông nói đó là trách nhiệm của người trai trong cơn khói lửa. Ông biết rằng con đường mà ông chọn lựa để đi đó là con đường phong ba bão tố tù đày nhưng Ông vẫn đi vì đó là con đường chính nghĩa, con đường của Tự Do và Dân Chủ.

    Để Ngụy tui kể tiếp Ông nghe câu chuyện về Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi -Tư Lệnh tiền phương Quân Đoàn III và Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân. Khi Cộng quân tràn vào phi trường Phan Trang hai vị Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Phạm Ngọc Sang đã cùng bộ binh triệt thoái khỏi phi trường. Tướng Phạm Ngọc Sang đã đề nghị Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi lên máy bay chỉ huy cuộc triệt thoái nhưng Tướng Nghi không đồng ý và ra lệnh cho Tướng Sang lên máy bay chỉ huy. Tướng Sang khẳng khái Trung Tướng ba sao ở dưới đất. Tôi một sao quyết theo Trung Tướng đến cùng. Khi Tướng Nguyễn Văn Toàn Tư Lệnh QĐ III ra lệnh cho Không Quân bằng mọi giá phải bốc Tướng Nghi về nhưng Tướng Nghi lại từ chối vì nếu trực thăng đáp xuống sẽ làm lộ địa điểm rút quân của các chiến sĩ Nhảy Dù. Cuối cùng Tướng Nghi và Tướng Sang cùng Đại Tá Nguyễn Thu Lương – Tư Lệnh Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù đều bị giặc bắt. Chắc hẳn ông sẽ bỉu môi cho rằng mấy Ông Tướng đó chưa biết cái tàn bạo dã man của CS nên thiếu ý thức chứ gì? Không đúng thế đâu thưa Ông Tô Huy Cơ. Những vị Tướng đó đã thể hiện được tình huynh đệ chi binh có phúc cùng hưởng, có họa cùng chia. Đó là ý thức của sự can trường và khí tiết của đạo làm Tướng trong thời ly loạn.

    Ngày xưa Ngụy tui là độc giả dài hạn của VNTP cho nên được tặng tập thơ Bản Chúc Thư của người VN tác giả vô danh trong đó có bài thơ “Vì Ấu Trỉ” làm Ngụy tui bần thần băn khoăn không ít.

    “Vì ấu trỉ thờ ơ u tối
    “Vì muốn an thân vì tiếc máu xương
    “Cả nước quay về một mối
    “Một mối hận thù ,.một mối đau thương…”

    Không lẽ giậu đổ bìm leo. Thua trận thì tất cả trút lên đầu những chiến sĩ can trường QLVNCH. Kẻ thù thóa mạ hẳn nhiên. Bạn bè đồng bào cũng thoá mạ nữa sao?. Ai ấu trỉ, ai thờ ơ, ai u tối?. Ai tiếc máu xương? Ai muốn an thân? Hơn 260 ngàn chiến sĩ đã hy sinh cho chính nghĩa Quốc Gia. Hơn nửa triệu thương binh đang sống lấy lất khổ ải dưới đòn thù của giặc. Hơn nửa triệu người đã phí tuổi thanh xuân trong các nhà tù chết tiệt. Gần 20 năm chiến tranh cộng quân chưa chiếm được một tỉnh nào để làm cái thủ đô cho chính phủ bù nhìn MTGPMN. Đầu năm 1975 khi viện trợ Mỹ bị cắt từ 2 tỷ 4 xuống 750 triệu rồi xuống 350 triệu mà Quốc hội Mỹ không chịu tháo khoán thì lúc đó cộng quân mới đánh thăm dò Phước Long rồi Ban Mê Thuộc, Quân Lực VNCH chúng tôi còn gì nữa đâu mà chiến đấu. Quý Ông cần phải hiểu phải biết rằng quân đội CSBVXL không bao giờ có thể chiến thắng Quân Lực VNCH của chúng tôi mà Chính phủ và Quốc hội Mỹ đã tiêu diệt QLVNCH chúng tôi bằng cách cúp hết viện trợ.

    Trích từ GIADAM:

    “Kính Quan Bác Công-Tử Hà-Đông bên hông Tân-Định.

    Thưa Quan bác… Đọc ké điện thư của ông Tô-Huy-Cơ gởi cho Quan bác, tui “chịu ” nhứt, tui “kết ” nhứt đoạn Ổng dziết như dzầy…

    : “… Tiếc thay các ông bạn mình trong kia — Miền Nam – đã không giữ được mảnh đất cắm dùi… Nếu các ông trong Nam biết khi bị sa vào tay Giặc, các ông sẽ bị tù đày, khổ nhục đến như thế nào, chắc các ông sẽ có ý thức hơn. ”

    Thưa Quan bác, ông cháu của Quan bác dziết đúng gì đâu…! Ừa, phải chi mấy thầy miền Nam có sự hiểu biết chun chút dzìa cái thói lưu-manh, côn-đồ, dã-man, mọi rợ… của lũ Cộng Bắc phương thì đâu đến nỗi thiệt-thà đến độ… gần như là khờ khạo… sau khi đã để mất nước, “lợi” còn cả tin theo lời chúng tuyên-truyền, ngoan-ngoãn như đàn cừu để cho chúng “tà tà” lùa cả đám dzô cửa tử.

    Ối… mà than mần chi, trách mần chi… dẫu gì thời mấy Thẩy cũng lãnh đủ… sơ sịa mổi Thầy… chí ít cũng từ 3 đến 5 năm, nặng thời mươi lăm đến hai chục năm chẵn chòi trong cái chốn… : “Ngồi sầu gãi háng dế lăn tăn… ” đặng có dịp mà nghiền-ngẫm, học-hỏi thêm, hiểu biết thêm dzìa cái bản-chất khốn-nạn của chúng… Đó là chưa kể đến những Thầy kém may mắn, bỏ mạng sa-tràng, một đi hông trở “lợi” dzì bị chúng giết bằng cách này hay cách khác…”

    Ngưng trích

    Đọc đoan trích nầy của tay Già Dâm, Ngụy tui bần thần dữ. Tiếng Việt mà không có dấu thì làm sao mà Ngụy tui không gọi Ông là Già Dâm cho được. Thưa Ông GiaDam, Ông “tâm đắc” cái đoạn của Tô Huy Cơ là cháu của Công Tử Hà Đông tức nhà văn Hoàng Hải Thủy, Ngụy tui tôn trọng cái “tâm đắc” (hết sức cà chớn) của Ông. Ông là một người sinh ra hay sống tại miền Nam nầy mà ông nói năng như thế Ngụy tui e rằng hàm răng của Ông chỉ còn cái lợi để mà húp cháo rùa thôi nhá . Bằng thứ chữ nghĩa cợt nhã, ông có vẻ khi dễ và khinh thị anh em chiến sĩ QLVNCH chúng tôi. Tôi buộc lòng phải thưa với Ông đôi lời.

    Thưa ông GIADAM,

    Ông cho rằng anh em tụi tui quá là ngu đần sau khi buông súng đầu hàng còn ngu ngơ tình nguyện vào tù cải tạo. Bởi vì ngu, tụi tui không biết cái tàn ác dã man của bọn phi nhân Cộng Sản. Ông gọi chúng tôi là “đàn cừu ngu ngơ” nên phải rán nghiền ngẫm, học hỏi thêm về bản chất của CS. Rồi Ông đâm ra tiếc cho mấy Thầy “bỏ mạng sa tràng” không có dịp học hỏi. Ngụy tui phải tự chế lắm để khỏi mở miệng chửi thề. Chữ nghĩa Ông rất … mất dạy, thứ chữ nghĩa của loại người vô ơn. Để tui thưa với ông đôi điều. Ông biết đấy Quân Lực VNCH tụi tui có kỹ luật mà thứ kỹ luật sắt nhé. Quân phong quân kỷ phải được thi hành tuyệt đối. Khẩu hiệu nhìn quân phục biết tư cách đủ nói lên một kỷ luật chặc chẽ là sức mạnh của Quân Đội. Nhìn quân phục người lính chiến QLVNCH thấy gì. Có lon lá có bảng tên có phù hiệu đơn vị. Cả một lý lịch được phô bày ra ngoài cho mọi người cùng thấy cùng biết. Đó là điểm yếu. Trong cuộc chiến tranh Nam Bắc bất cứ người nào cũng có thể là địch. Chúng trà trộn nằm vùng vào bất cứ nơi đâu. Có thể là một tay bán cà rem, bán bánh mì, bán báo, cũng có thể là người hàng xóm. Chúng ta không đánh mà tự khai. Cho nên khi chiến tranh tàn rồi có một số không đầu hàng kéo vào rừng tiếp tục cuộc chiến đấu. Một số tự sát, một số chạy thoát ra ngoại quốc và một số sau khi đánh đến viên đạn cuối cùng thi hành lệnh buông súng của TT DVM thì không biết làm gì. Chỉ biết chờ bị bắt. Những anh ngày xưa đeo lon giả để tán gái, để lấy vợ cũng bị lùa vào tù. Trước khi chúng kiện toàn hệ thống công an đến tận khu vực thì bọn nằm vùng bọn sư đoàn 304 đã chỉ điểm bắt trọn những người nào không chịu bước vào tù. Thân cá chậu chim lồng chưa kể nếu trốn thì gia đình vợ con sẽ bị sách nhiễu không thể nào chịu nổi.

    Ông GIADAM đã dùng thứ chữ nghĩa rất thô bỉ để cười cợt anh em tụi tui ngoan ngoản như đàn cừu, ngu đần chui đầu vào tù để gậm nhắm để buồn đau cho điều mà quý ông gọi là thiếu ý thức về chủ nghĩa CS. Ngụy tui rất mong ông có thể trình bày rõ tụi tui phải làm sao khi đất nước đã bị CS chiếm mà không đào thoát được.

    Bài viết “Dùi Và Đất Cắm Dùi” do Công Tử Hà Đông tức nhà văn Hoàng Hải Thủy viết được Tô Huy Cơ là cháu vợ và GIADAM một độc giả đã tỏ bày ý kiến chê trách, dùng thứ chữ nghĩa lên mặt bề trên phê phán, gọi tụi tui là thứ ngu đần chả biết mẹ gì về CS nên mới mất nước; mà không thấy Công Tử Hà Đông có ý kiến con cóc chết gì, nên Ngụy tui phải lên tiếng để phản bác những lời lẽ thiếu suy nghĩ thiếu ý thức của Tô Huy Cơ; và những lời lẻ trịch thượng mất dạy của GIADAM, một độc giả của Công Tử Hà Đông.

    Thử nhắc lại lời kết luận của GIADAM : “Phải chi miền Nam hồi đó có nhiều nhiều những người hiểu biết như ổng (tức Tô Huy Cơ) thời… dân Nam mình đâu có cái ngày đen tối xách quần chạy hổng kịp… phải hông Quan bác…? hế hế…” Mẹ nó! Tới chổ nầy phải cho Ngụy tui chửi một tiếng. Nói (ngu) như thế mà cũng nói cho lấy được. Thời trước chẳng những có những Ông (tức Tô Huy Cơ) và Nguyễn Chí Thiện mà còn nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, rồi đám tả khuynh xét lại mà tại sao miền Bắc vẫn còn oằn oại dưới sự cai trị sắt máu của bọn Công Sản lưu manh và tàn ác? Hơn 3 triệu người dân Miền Bắc bị Cộng phỉ lừa bịp sinh Bắc Tử Nam. Đem thân xác vùi lấp oan mồ để tạo ra nổi oan khiên chập chùng cho đến bây giờ. Tại sao 20 triệu người dân Miền Bắc không đứng lên bợp tay đá đít bọn Cộng phỉ mà lại vô Nam để bàn tay nhuốm máu đồng bào tàn sát anh em . Biết thì thưa thốt không biết thì dựa cột mà nghe. Đừng nhỏng đít mà phun ra những lời thiếu vệ sinh và mất dạy như thế. Coi bộ Công Tử Hà Đông rất “tâm đắc” với lời (phóng uế) của GIADAM, nên những lời lẽ hỗn xược của GIADAM vẫn thoải mái nằm trong trang nhà (Blog) hoanghaithuy.com.
    Phi ní lô đia (chữ của CTHD)

    Nguysaigon

  10. Chào “ ngụy Sàigon “ ( dùng nick name này đã tự nhận là “ ngụy “ hoặc đúng hoặc mỉa mai nhưng dù là là gì – lính hay công chức , người không đàng hoàng cho lắm mới dùng nick !).

    _ Tui đã trả lời ông trong bài ” Trang nhà Hoàng Hải Thủy và những lời phỉ báng QLVNCH” chắc có lẻ ông chưa được đọc…..phải ,tôi chưa đọc , nếu không ngại gì ông có thể chuyển về hòm thư của tôi tohuyco@yahoo.com.vn
    _ Người Mỹ can thiệp vào VN không phải để giúp VNCH chống lại bọn CSBV xâm lược, mà chỉ để ngăn chặn làn sóng đỏ …còn muốn gì nữa , việc mình mình phải tự làm , được vàng lại chê ít và …không biết tiêu
    _ phi công F5E can trường của chúng tôi _ mới can trường ở mức độ nào đó nhưng chưa đến mức “ thần phong “ đâm thẳng vào bọn Tầu ( nếu biết một năm sau chết đi sống lại trong tù có lẽ đã dám )
    _ TT Thiệu đã không chịu ký cái hiệp định Paris quái đản cho phép quân đội CSBV xâm lược ở lại Miền Nam… Anhstanh , nhà bác học lỗi lạc còn không dám nhận làm tổng thống Israen , thế mà lũ tướng lĩnh phản thầy, phản chủ tranh giành nhau chiếc ghế mong manh đó , thật là điềm báo đại họa cho dân tộc …nghe theo lời Thiệu nói “ Tùy nghi di tản “ ( thảm họa đã xẩy ra ) , xem việc Thiệu làm –đem cả nhà chạy trốn khỏi đất nước mặc dân mặc lính mặc mẹ chúng mày – đủ để lịch sử ghi lại sự ô nhục cho nền Cộng hòa đệ nhị !… Việc kẻ xâm lược là xâm lược , việc mình là việc phải đuổi chúng đi , có 16 tấn vàng trong tay , có binh lực hùng mạnh , có chính nghĩa quốc gia có bề dầy sản sinh ra những dòng thơ dòng nhạc , dòng văn lai láng tuyệt vời in dấu không phai được trong lịch sử , lại có chiến binh kiêu hùng đáng để kiêu hãnh như Nguyễn mạnh Tường , Lê văn Hưng , Nguyễn khoa Nam ! Lý tòng Bá ! ấy thế mà một sớm một chiều …!
    _ Này nguysaigon ,Ngô thì Nhậm , Bùi huy Ích , Đặng trần Thường cùng học một thầy . Đặng vào Nam phò Nguyễn Ánh , Khi Gia Long thống nhất sơn hà Đặng trở về Bắc . Ngô và Bùi bị bắt ( do phò Tây sơn ) khi bị xử Đặng trần Thường hỏi : “ Ai công hầu , ai khanh tướng , trên trần ai ai đã thắng ai “ .
    Ngô thì Nhậm trả lời “ Thế xuân thu , thế chiến quốc , gặp thời thế thế thì cứ thế “ ; họ Bùi sợ huých khủy tay bảo Ngô nói lại “ thế thì phải thế “nhưng Đặng đã nghe thấy nên phóng lao đâm chết Ngô còn tha Bùi

    Ở tuổi 68 , tôi Tô huy Cơ ,thoáng vui , khi lần đầu tiên trong đời có người bảo mình là:”con ếch cứ bám mãi vào cái giếng sâu ngu dốt ”. Đúng tôi đã ở cái giếng Hà nội này 60 năm ( trừ năm rưỡi ở Hỏa lò và ba năm rưỡi ở Phong quang – Lào cai với tội danh “ tuyên truyền phản cách mang “) nhìn lên chỉ thấy cái vung cs mà năm 75 nó cũng úp luôn lên Sài gòn !. Người đàng trong luôn luôn quên cái ngày 10/10/1954 là cái ngày đã đẻ ra cái ngày 30/4/1975 (!) .Ngày ấy tôi 11 tuổi rưỡi làm sao biết được trong cái đoàn quân tiến vào Hà nội kia có người…” bước đi không thấy phố thấy nhà , chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ “ ( ba năm sau tôi biết người âý là Trần Dần ) !. Chỉ vài tháng sau cái ngày ấy bố tôi – Tô đình Lung , người từ chối làm Chưởng ban “ Viện trợ Mỹ “ ( Nguyễn hữu Chí – thủ hiến Bắc kỳ – tin thầy của mình muốn giao cho ) bị đội cải cách ở quê ( Đại hoàng – Tiền hải – Thái bình ) mang cả súng lên tận nhà tống tiền vì “ mày là địa chủ “ tha bắn là may (!). Lúc đó tôi chưa biết địa chủ là gì , ba năm sau , học lớp 6 ở trường Chu văn An nghe cô giáo chính trị ( tên là Chỉnh )giảng rành mạch từng từ “ chính sách ruộng đất của đảng ta “ [ lấy cố nông , bần nông làm cốt cán , đoàn kết với trung nông lớp dưới , liên hệ với trung nông lớp trên nhằm tiêu diệt giai cấp phú nông cùng địa chủ và …ngăn ngừa con cái chúng ngóc đầu dậy ] (!). Rất may mắn bố tôi trươc khi là nhà kỹ thuật nông nghiệp đã thông thạo tứ thư ngũ kinh bắt anh chị em tôi phải thuộc lòng Tam tự kinh từ khi còn chưa biết chữ và…Trẻ thơ ta phải học hành ,Tinh thông sáng suốt mới thành người ngay ,Căn cơ tiết kiệm xưa nay ,Của ăn thường đủ chẳng vay mượn người , Thủ thường an phận ở đời …v…v…nên cá nhân tôi chẳng bao giờ cần “ ngóc đầu dậy “ .Cả cuộc đời niên thiếu của tôi mơ màng theo những làn gió mát mỗi mùa mỗi khác nhau từ xa xăm thổi về Hà nội – nhất là các đêm trăng khuyết, trăng tròn – lướt qua da thịt mình quện với các giai điệu trong âm nhạc ( nhạc vàng, nhạc cổ điển ) trong văn thơ ,trong mầu sắc hội họa ( của các tác giả lỗi lạc ). Sâu thẳm cõi lòng tôi vọng lên lòng biết ơn sâu sa vẻ đẹp của tự nhiên của lòng người như nó y thị và như nó được các bậc kỳ tài biểu đạt qua bẩy nghệ thuật
    Tôi có thể làm gì để trả ơn trên đây ?!
    Năm tháng trôi nhanh , thế hệ chúng tôi được nhà trường cùng xã hội nhắc nhở “ đời người chỉ sống có một lần , ta phải sống sao cho ra sống để khỏi sót sa ân hận rằng năm tháng qua ta đã sống hoài sống phí ; để sao khi nhắm mắt suôi tay ta có thể nói được – tất cả đời ta , tất cả sức ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao cả là sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người – “ . Rất nhiều người bị lập luận đó các kiểu nhấn chìm như Đặng thùy Trâm ,Bùi minh Quốc , Trần mạnh Hảo , Dương thu Hương …v…v…thành những con thiêu thân lao vào ánh lửa của cuộc chiến tàn khốc
    Thế rồi thời ấy có một ngày ơn Chúa qua Kieckerga giúp tôi nhận thức được : cái gọi là sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người là gì ? ( không như các thầy cô rao giảng – họ vì lương để sống nên phải nói thế !- cuối đời Chế lan viên , Trần Độ , Nguyễn minh Châu đều ân hận và đã “đọc lời ai điếu cho nền văn nghệ minh họa “ ) . Nên Năm 1971 tôi đã viết thư cho Phạm văn Đồng rằng Cuộc chiến tranh này là cuộc chiến “ huynh đệ tương tàn “ tuy mượn được danh giải phóng dân tộc nhưng thực chất là giải quyết “ ai thắng ai – CNTB hay CNCS – “ mà Nga Tầu đều bịp để ta đánh đến người Việt cuối cùng cho quyền lợi của họ !. Kết quả là tôi bị lôi ra tòa xử với án 5 năm tù và hai năm tước quyền công dân vì trước tòa tôi vẫn nói :” Như bóng ma đến gõ cửa mạch sống vô biên của loài người ,CNCS hiện nguyên hình là công cụ trong tay các chính khách cs đầy tham vọng quyền lực , để rồi lại ra đi nhanh như lúc nó đến ,về với nấm mồ là những chồng sách kinh điển mà năm tháng bụi thời gian sẽ nhanh chóng phủ mờ vì phải đợi chờ ai đó đến nghiên cứu lịch sử tư tưởng nhân loại “…thời gian sẽ trả lời quí tòa !. Tôi ngu quá “ ngụy Saigon “ nhỉ !.
    Những gì Nguy saigon viết vô tình hay hữu ý đã mắc vào bẫy của nq36 !.
    !. Mỗi lần gió heo may về nhìn cát bụi trần ai tôi chạnh lòng nhớ thương những người “ cứ thế “ như tướng Lê văn Hưng – khi khâm liệm – mắt còn chẩy ra dòng lệ máu , như tướng Nguyễn khoa Nam , như đại tá Nguyễn mạnh Tường , như những người trong “ chinh chiến điêu linh “ và “ mùa hè đỏ lửa “ …v…v… và vẫn cảm thương cho những ai “ phải thế “ .Chua xót biết bao lịch sử lặp lại (có thể lời nguyền vua Chàm xưa linh ứng ) ,cay dắng nhân lên, một lũ trong chính phủ “ ngụi saigon “ ôm 16 tấn vàng hèn hạ ngồi chờ chịu thua, ném hơn 260 ngàn hồn tử sĩ cho gió ù ù thổi !.
    Thôi , lần đầu cũng là lần cuối càng nói, tôi , con ếch , càng lộ cái ngu !,.
    Này Nguysaigon – buồn ơi ta chào mi

  11. Kính chào ông Tô Huy Cơ , người cõi trên !

    Xét về tuổi tác thì Bk tôi kém ông vài niên ,nên để tỏ lòng kính trọng xin được kính gọi ông bằng Anh(như Anh Cả ,Anh Hai) trước khi thưa chuyện cùng ông !

    Đọc xong bài thứ hai của Anh trả lời bác Nguysaigon khiến tôi bần thần quá ,xin phép bác Nguysaigon trả lời Anh từng điểm theo ý ngu của tôi.

    -Người Mỹ can thiệp vào VN không phải để giúp VNCH chống lại bọn CSBVXL, mà chỉ để ngăn chặn làn sóng đỏ…..và Anh dè bỉu như sau : còn muốn gì nữa ,việc mình mình phải làm, được vàng lại chê ít và…không biết tiêu.
    Đọc xong câu phát ngôn nông cạn của Anh ,tôi thấy tội nghiệp và chán ngán cho con người XHCN của Anh quá. Thua Anh ,thế nào là được vàng lại chê ít và không biết tiêu? Xin thưa với anh, số vàng đó là tài sản của quốc gia VNCH chúng tôi ,là tài sản của toàn dân chứ không phải là tài sản của riêng ông to đầu nào cả. Và toàn dân từ Tổng thống xuống đến người dân thường đều phải thượng tôn pháp luật. Cho nên dù chạy trốn(chữ của anh) ra nước ngoài ,ông Thiệu cũng không dùng quyền lực để mang theo số vàng đó. Và 16 tấn vàng đó vẫn còn nguyên trong Ngân Khố Quốc Gia cho dến ngày 30/4 khi nón cối dép râu ,răng hô mã tấu kéo vào làm chủ. Chắc anh cũng biết ,là cho đến nay số phận 16 tấn vàng VNCH đã bốc hơi đi đâu ,và vào túi những tên to đầu nào chứ? Dân miền Nam ai cũng biết rõ việc này. Xem ra Anh có vẻ cay cú vì không được sơ múi gì trong số vàng này chăng nên bảo chúng tôi ngu dốt có vàng mà không biết tiêu? Biết TIÊU theo anh thì phải thế nào? Đem gởi Ngân Hàng Thụy Sĩ cho chắc ăn hay mua nhà mua đất tại các nước Tư Bản Giãy Chết như bọn chóp bu của anh ở Ba Đình đã làm và đang làm?

    Tôi ngạc nhiên khi anh có vẽ hả hê khi nhục mạ được những người lính VNCH thua trận? Để làm gì vậy anh ? Anh thọc dao vào vết thương của chúng tôi và buông những lời ngạo mạn thì anh có xứng đáng để chúng tôi ,những tên lính VNCH thua trận nhưng vẫn còn liêm sĩ ,tôn trọng anh hay không ??

    –Anh nhục mạ các phi công của chúng tôi không dám đâm thẳng vào bọn tàu với lối nói xách mé mà tôi chả buồn nhắc lại làm gì tốn công gõ chữ. Bảo anh ngu thì hổn quá ,chứ anh chậm tiêu thiệt. Bác Nguysaigon đã cho anh biết là cái tầm bay của F5E như thế nào mà anh vẫn cứ giả mù sa mưa thì một là anh là người dốt nát ,hai là anh là kẻ Tiểu nhân đắc chí tiếu hi hi khi nhục mạ được người khác cho dẫu biết rằng mình nói bậy !!
    Vả lại Phi công chết nhát của chúng tôi không được dậy cái kỹ thuật núp máy bay trong mây để tiết kiệm nhiên liệu và chờ “địch” đến mới nhào ra oánh…lén , nên chúng tôi thua là đúng quá rồi,chả dám than thở gì với anh cả. Về việc này cần phải học tập các anh.

    Trích :-xem việc Thiệu làm –đem cả nhà chạy trốn khỏi đất nước mặc dân mặc lính mặc mẹ chúng mày – đủ để lịch sử ghi lại sự ô nhục cho nền Cộng hòa đệ nhị !… Việc kẻ xâm lược là xâm lược , việc mình là việc phải đuổi chúng đi , có 16 tấn vàng trong tay , có binh lực hùng mạnh , có chính nghĩa quốc gia có bề dầy sản sinh ra những dòng thơ dòng nhạc , dòng văn lai láng tuyệt vời in dấu không phai được trong lịch sử , lại có chiến binh kiêu hùng đáng để kiêu hãnh như Nguyễn mạnh Tường , Lê văn Hưng , Nguyễn khoa Nam ! Lý tòng Bá ! ấy thế mà một sớm một chiều …!” Anh đã dạy như thế thì chúng tôi phải cúi đầu xin nghe , chỉ nem nép hỏi anh là với tài thần thông và trí tuệ đỉnh cao của anh thì chúng tôi phải chiến đấu như thế nào để giữ nước ,để anh khỏi phải ngán ngẫm mà thở dài :ấy thế mà một sớm một chiều…!, vậy thưa anh?? Chúng tôi phải làm gì hơn khi đạn pháo binh yễm trợ chiến trường được tính từng trái một? Có những đơn vị ,không đủ đạn dược để chiến đấu trong vài ngày ,các phương tiện tiếp liệu đều bị cắt giảm thì chiến đấu và chiến thắng như thế nào đây anh?? Trong khi thằng CSBVXL thì sao? Nó có đủ và thừa mứa đạn để pháo chúng tôi một ngày hằng mấy ngàn quả cho một tỉnh lỵ bé tẹo teo là An Lộc ? Cái lẽ thắng thua đã rõ ,thì hà cớ gì anh phải nhỏ giọt nước mắt cá sấu mà than thở : Ấy thế mà một sớm một chiều.. và cái chấm than ?????Cái cách ăn nói của Anh làm tôi liên tưởng đến trận đấu võ đài giữa một bên là võ sĩ VNCH bị trói quặc hai tay ra sau lưng ,đang bị võ sĩ CSBVXL hai tay rãnh rổi đấm đá tơi bời ,miệng còn xoen xoét “Đồ hèn nhát, sao không dám đánh lại mà bỏ chạy hử ??” với sự phụ họa của bọn CSQT cùng nhào vô ăn có !!! Bác Nguysaigon ví von Anh là Ếch ngồi đáy giếng xem trời bằng vung vẫn còn lịch sự lắm đấy thưa Anh ,tuy nhiên đấy lại là sự thật không thể nào chối cãi được.

    Mới đọc anh ,người ta dễ tưởng lầm là anh thương cảm cho chúng tôi, những thằng lính thua trận ,nước mất nhà tan. Nhưng đọc thêm nữa thì sẽ thấy cái giả nhân giả nghĩa của của anh , của những con người sống và lớn lên trong cái Vung của chủ nghĩa cs , nói vậy mà không phải vậy.

    Anh mắng chúng tôi hèn hạ ôm 16 tấn vàng ngồi chờ chịu thua ,nhưng anh không chỉ chúng tôi phải làm gì với số vàng đó. Mua vũ khí chăng , ai bán?? Chia chác với nhau rồi bỏ chạy ? Việc hèn mạt này dân tôi không làm. Mà lạ nghe ,sao anh cứ thắc mắc về 16 tấn vàng hoài vậy??. Xót xa là chúng tôi xót xa chứ mắc mớ gì đến anh đâu mà anh cứ théc méc ? Đúng là -Khó chưa từng thấy của- Miếng giẻ chùi tưởng lụa Nam Vang !!

    Trích :
    . Nên Năm 1971 tôi đã viết thư cho Phạm văn Đồng rằng Cuộc chiến tranh này là cuộc chiến “ huynh đệ tương tàn “ tuy mượn được danh giải phóng dân tộc nhưng thực chất là giải quyết “ ai thắng ai – CNTB hay CNCS – “ mà Nga Tầu đều bịp để ta đánh đến người Việt cuối cùng cho quyền lợi của họ !. Kết quả là tôi bị lôi ra tòa xử với án 5 năm tù và hai năm tước quyền công dân vì trước tòa tôi vẫn nói :” Như bóng ma đến gõ cửa mạch sống vô biên của loài người ,CNCS hiện nguyên hình là công cụ trong tay các chính khách cs đầy tham vọng quyền lực , để rồi lại ra đi nhanh như lúc nó đến ,về với nấm mồ là những chồng sách kinh điển mà năm tháng bụi thời gian sẽ nhanh chóng phủ mờ vì phải đợi chờ ai đó đến nghiên cứu lịch sử tư tưởng nhân loại “…thời gian sẽ trả lời quí tòa !. Tôi ngu quá “ ngụy Saigon “ nhỉ !.
    Những gì Nguy saigon viết vô tình hay hữu ý đã mắc vào bẫy của nq36 !. Ngưng trích

    Thưa anh , Nếu quả thật anh đã có Can Đảm(viết Hoa) nói những lời như anh tự khoe như trên trước tòa án của bọn cộng sản ác ôn côn đồ kiêm mất dậy thì Bk tôi xin nghiêng mình bái phục cái Can Đảm của anh , nhưng bảo tôi tin thì cũng thưa mí anh là tôi không dám tin. Thằng cộng sản mà nó để anh nói tự do trước tòa như thế thì nó không còn là cộng sản nữa. Bức hình bịt miệng cha Lý trước tòa án cs được truyền đi khắp thế giới còn sờ sờ ra đó nói lên điều gì vậy thưa anh? Nói lên cái VÔ LUẬT PHÁP của một cơ quan đại diện và thi hành luật pháp trong chế độ ưu việt nhất của loài người : Chế độ cộng sản !!!!

    Anh chỉ giỏi cái tài đánh người ngã ngựa và nhục mạ chúng tôi ,chứ các anh và nhân dân miền Bắc đã làm gì để gọi là hổ trợ chúng tôi trong suốt cuộc chiến chống quân cộng sản xâm lăng ? Hay là các anh cũng biết sợ, biết im thin thít , mũ ni che tai để những cái tem phiếu thịt cá rau dưa không bị nhà nước cắt bỏ ? Nhắc lại để anh nhớ là có một văn sĩ nhớn chứ không phải làng nhàng bị rọ mõm của các anh đã từng tuyên bố : Tao còn sống đến bây giờ là vì biết sợ ! Tuổi anh như thế kễ ra là thọ trong xã hội cộng sản nếu anh không biết…sợ ,tuyên bố vung vít như anh đã viết !!!

    ….”…mạch sống vô biên của loài người “, và “thời gian sẽ trả lời quí tòa” sao đọc lên tôi thấy ,xin lỗi,có vẽ cãi lương kiêm chèo cổ quá , thưa anh .

    Kính Anh ,sở dĩ có bài góp ý này vì anh không tôn trọng chúng tôi thì Anh trách chúng tôi không hổn láo với anh làm sao cho được. Vì anh nói toàn chuyện xét ra là ba sạo trong chế độ cộng sản nên tôi xin gọi anh là người cõi trên một cách rất ư là kính cẩn , vì chỉ có người cõi trên mới “tâm đắc” với những gì mình phịa ta va2 tin đó là sự thật. Trong thế giới cộng sản sự thật và xảo trá sống với nhau rất hài hòa ,phải không anh ?

    Anh gọi chúng tôi này này nọ nọ , ra cái điều kẻ cả bề trên, còn chúng tôi dù coi thường anh vẫn cứ một mực kính thưa ,đó là cái khác biệt giữa văn hóa hai miền đó ,thưa anh !

    Kính chúc anh một ngày tốt lành ,và cũng xin thưa với anh là chả có cái quái gì để mà…buồn ơi chào mi cả .

    Kính chào.

    Ps : Chúng ta cùng là bắc kỳ ,nên dĩ nhiên anh biết danh xưng “Anh” bao hàm nhiều nghĩa chứ. Kính anh , Bk54.

  12. Kính chào bác Nguysaigon.

    Xin cảm ơn bác về những bài viết thẳng thắn ,hào hùng của bác , nói dùm anh em chúng ta với những người cõi trên ,cứ tưởng ban phát cho chúng ta lòng thương hại dỏm rồi có quyền mạt sát chúng ta và chúng ta phải im thin thít vì hèn. Chúng ta là người tuy thua trận nhưng chúng ta hãnh diện vì chúng ta là người dân VNCH ,đứng thẳng lưng trên đôi chân chứ không như người cõi trên đứng bằng đầu gối mà lên mặt dậy đời.

    Kính chúc bác nhiều sức khỏe để viết tiếp cho người cõi trên đọc. Có cái quái gì mà người cõi trên phải buồn ơi chào mi ,hả bác ?. Đơn giản thích thì viết , không thích viết(vì chẳng ai thèm đọc) thì thôi. Làm như “người ” không thèm viết là anh em chúng ta sẽ trở nên ngu dốt không người dậy dỗ vậy ? Đúng là Bố khỉ ,mẹc xà lù .

    Về nhân vật Giadam ,tôi không có ý kiến vì bác đã nói hết rồi.Thân mến.

    Cùng bác Phuong , nhớ có lần tôi đã cảm ơn bác ,người lính chiến VNCH, nay thêm một lần nữa cảm ơn bác về bài viết mới cho ông THCơ của bác. Cái đầu óc đỉnh cao trí tuệ của ông ta cứ nghĩ đơn giãn là 16 tấn vàng là Mỹ viện trợ mà sao không biết tiêu tức là xài. Chắc ông ta muốn chúng ta bắt chước Pock Whore của ổng đem cả trăm kilo(?) vàng đi cúng cho tướng tàu phù Lư Hán khi sang giải giới quân Nhật chăng? Sao ông ta không biết nghĩ rằng vàng đó là sức mạnh của nền kinh tế quốc gia ,là sự bảo đảm cho giá trị của đồng tiền lưu thông trong nước và giao dịch quốc tế . Cho nên tiền VNCH dù gì vào thời đó cũng giá trị gấp bao nhiêu lần tiền Whore thổ tả hiện nay. Lần nữa cảm ơn bác , chúc nhiều sức khỏe. Thân mến.

    Chào bác Van Toan ,
    Cảm ơn lời thăm hỏi của bác. Bác nói đúng , bọn thủ lợn ở ba đình chỉ là những cái xác biết đi ,chờ ngày đem chôn thôi. Gốc đã thối ruỗng ra rồi. Bờ Mu 18 rồi Vinashin ,đến huỳnh ngoc sĩ v..v.. không là thối gốc thì là ký gì hả bác ?
    Bác ơi, phe ta từ ngày 30/4 đen hơn mõm chó mực thì ai cũng đều là Quan tại gia cả ,vì còn ai là lính ai là quan nữa đâu ,thưa bác:

    Một ngọn đèn xanh, mấy quyển vàng
    Bốn con làm lính ,bố làm quan ,
    ……
    Hỏi ra quan ấy ăn lương …vợ
    Đem chuyện trăm năm giở lại bàn.

    Cảm khái cách gì nhưng vẫn cứ hãnh diện là dân VNCH ,không là loại cỏ đuôi chồn phất phơ trước gió như những người cõi trên ở miền bắc xhcn thân thương và anh hùng !!!
    Mong được đọc bài khác của bác .Kinh mến. Bk54.

  13. Lâu lắm rồi, hôm nay tôi mới thấy chút siêng năng mà gõ phím.

    Tôi yêu việt cộng biết bao. Nhờ mấy anh cu vẹm nhảy vô đây tí tuáy, nên có không khí hẳn ra.

    Khổ thân mấy cu cậu quá. Không có chỗ tí tuáy mới chui vào mấy trang phản động. Vì nơi này tha hồ mà vung xích chó. Còn mấy trang lề phải thì có cho kẹo cũng không dám.

    Tôi tuy người Việt gốc hoa (5 đời) Nhưng tôi và anh em tôi rất hãnh diện xưa là lính NGỤY (tôi xin viết hoa).

    Tôi và bạn bè dù mới quen biết, hoặc do giới thiệu, hoặc do tình cờ. Tất cả đều thích thú khi nhắc lời đời lính của nhau.

    Tôi không phải là hạng dư nước mắt, nhưng thấy thương tụi việt cộng gì đâu kể.

    Tụi mình tuy thua chạy tét ghèn. Nhưng còn dám hãnh diện với đời. Mai đây mấy tên (nói theo ngôn ngữ của ông Van Toan) thủ lợn – tức đầu heo ở Hà nội mà thua thì không biết 3 triệu tên đảng viên lấy gì đây mà hãnh diện ? Mặt mũi tụi nó để đâu đây. Bởi vậy, tụi nó ý thức đươc điều đó nên dốc lòng mà binh vực cái chủ nghĩa chó má đó.

  14. Xin mời ông Anh của Bk54 ghé mắt xem đoạn video này để thấy tội ác của bọn cộng sản trên quê hương của mấy ông nhà văn lốp ca lốp cốp. Theo …tôi ,những nạn nhân này bị giết vì ngu muội và không chịu biết cộng sản là gì ,ngoan ngoãn như những đàn cừu tự đi vào lò sát sinh vì chưa đọc các ông Sôn và Lốp cốp ??? :

    http://vimeo.com/12057428

  15. Hôm nay lần đâu tiên tôi mới submit comment. Vì mình không sẵn ý. Hơn nữa cũng không dám khua môi múa mép …

    Hôm nay hết sức can đảm mới dám viết lên ý nghĩ và cảm tưởng đôi lời.

    Việt cộng nó coi vậy mà dại. Cứ tôn trọng quyền tự do ngôn luận đi, thì chính nhà nước được hưởng lợi vì những ý kiến biện bác, và phản hồi.

    Dẫu có ngàn vàng chưa chắc đã có được những lời hay, ý đẹp của trăm họ thiên hạ.

    Là bởi vừa bất tài vừa bất đức mà nên nông nỗi như bây giờ vậy !

    Hiện tình của bè lũ ác ôn bán nước rối còn hơn mớ bòng bong quấn quanh hàng rào nữa.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: