• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

YOUR COUNTRY NEEDS YOU!

Ảnh Tổng Thống Ngô Ðình Diện gắn cấp hiệu Chuẩn Úy cho Sĩ Quan Nguyễn Ngọc Linh, Thủ Khoa Khoá 12 Trường Bộ Binh Thủ Ðức. Ảnh Hồn Việt.

Tôi – CTHÐ – vì được quen biết – phải viết ngay là quen sơ thôi, không thân thiết lắm – với ông Nguyễn Ngọc Linh nên khi thấy trên Nguyệt san Hồn Việt có những bài viết về ông Nguyễn Ngọc Linh, tôi đọc mê mải. Mèn ơi.. Trong mấy tấm ảnh đi cùng bài viết sao mà 50 năm xưa ông Nguyễn Ngọc Linh trẻ và đẹp trai quá đi mất. Trẻ, học giỏi, mà học ở Mỹ, mà đẹp trai mới là đầy đủ phong độ thanh niên thời đại. Những tấm ảnh ông Nguyễn Ngọc Linh năm xưa trên báo Hồn Việt làm tôi cảm khái. Và ngậm ngùi thương thân. Năm ông Nguyễn Ngọc Linh trẻ như thế, tôi còn trẻ hơn ông. Tôi ra đời sau ông chừng ba, bốn năm. Dzậy mà những năm xưa ấy, những năm 1960 – ông Nguyễn Ngọc Linh sống đẹp, sống hào hùng, ông làm được nhiều việc hay quá là hay. Tôi có làm được cái khỉ mốc gì đâu có.

Nay – Thu Vàng về trên Rừng Phong – tôi vì có được quen sơ sơ với ông Nguyễn Ngọc Linh, vì đọc những bài viết về ông tôi nhớ lại ngày xưa, tôi viết bài này. Tôi không có mặc cảm tự teo Thấy người sang bắt quàng làm người quen.” Mà có bắt quàng sì đã nàm thao! Vì người ta là người sang mình mới bắt quàng, người hèn mình lánh cho xa. Ai cũng thế thôi, chẳng cứ mình tôi. Mà tôi có được quen ông NN Linh thật chứ bộ. Quí vị cứ chịu khó đọc bài này sẽ thấy. Nhưng mời quí vị đọc những bài viết về nhân vật Nguyễn Ngọc Linh trước đã, tôi sẽ viết về “Ông NN Linh và Tôi ” sau.

Nguyễn Ngọc Linh: Cuộc đời nhìn lại… Người viết Lê Thiệp. Bài đăng trên Nguyệt san Hồn Việt Số 325 Tháng 10, 2010. Trích:

Ông sinh ra trong một gia đình thế phiệt, thân phụ là Tổng Ðốc Bắc Ninh Nguyễn Trọng Tấn. Ông thuật lại:

“Bố tôi thuộc lớp cựu học nhưng tự học chữ Pháp và cũng đã được sang Tây để trau giồi thêm. Anh em tôi đều học chương trình Pháp nhưng ở nhà vẫn phải học hỏi về văn hóa và lịch sử Việt Nam. ông cụ nhấn mạnh không thể lơ là với quốc ngữ vì đó là cái gốc của mình. Mãi đến sau này khi khôn lớn tôi mới thấy rõ điều đó và thật mang ơn ông cụ.”

(.. .. .. )

Ông Linh học tại Bowdoin College thuộc tiểu bang Maine, học ngày, học đêm, học cả hè nên chỉ sau hai năm rưỡi ông đã tốt nghiệp Cử nhân Khoa Học Chính Trị. Ðó là giữa năm 1953.

(.. .. .. )

Hồi đầu thập niên 50 số người Việt trên toàn nước Mỹ có lẽ không quá vài chục người đa số tập trung tại Nữu Ước trong số có ông Ngô Ðình Diệm sống ẩn dật ở tu viện  trên tỉnh nhỏ Ossining, tiểu bang New York. Ông Nguyễn Ngọc Linh kể lại:

“Tôi gọi ông Diệm bằng Bác vì là quan đồng triều với thân phụ tôi. Thỉnh thoảng ông Diệm về thành phố New York vào cuối tuần vì trên Ossining chắc cô đơn lắm. Mỗi khi ông về chơi tôi hay đưa đón ông và đến tối về nhà tôi thường ngồi dưới sàn trong khi ông Diệm ngồi trên sofa kể cho nghe về thời làm quan dưới triều Nguyễn cũng như những vụ chống Tây thực dân. Ông Diệm sống một mình trong tu viện nên mỗi lần gặp người Việt đều mừng rỡ nói huyên thuyên về đủ thứ chuyện. Nhiều khi đưa ông ra ga xe lửa để về Ossining nhìn ông thui thủi một mình đi vào đêm tối, cầm lòng không được nên tôi lại chạy theo mời ông lên xe để tôi chở ông về tận Ossining cách New York cả hơn trăm dặm đường.

(.. .. .. )

Giữa lúc đó – (CTHÐ viết thêm: “Lúc đó” là thời gian ông NN Linh làm copyboy trong toà báo New York Times, lương 25 đô-la một tuần) – ông nhận được điện tín từ Việt Nam “Your country needs you. Please come back now.” Ông Ngô Ðình Diệm đã trở về chấp chánh. Cái giao tình “Bác Cháu” của ông với vị tân thủ tướng có vẻ như là chìa khoá lớn mở cánh cửa tương lai và nhất là viễn ảnh được phục vụ một Việt Nam độc lập khiến ông không do dự gì, cùng người vợ trẻ, bà Phạm Thị Thu và đưá con đầu lòng Mỹ Châu còn ẵm ngửa về Sài Gòn. Nay đã tám mươi tuổi nhưng khi nói đến giai đoạn này ông vẫn hứng khởi:

“Tổ quốc cần anh. Về ngay.” Mới hai mươi tuổi đầu ai mà không hãnh diện, nhất là Việt Nam đang là một hứa hẹn lớn cho tuổi trẻ.

Nhưng xem ra câu chuyện không phải như vậy. Ông không được giao phó trách vụ gì, ngày ngày đến Dinh Ðộc Lập trình diện và lúc nào cũng được trả lời: “Cụ bận lắm.” Ông Linh biết ngay từ hồi đó đám người vây quanh đã tôn xưng ông Diệm, gọi ông là Cụ dù ông Diệm đã già nua gì.

Cứ thế ông chờ và chờ trong khi tiền nong đã cạn hết lại phải lo cho vợ trẻ, con thơ. Trong lúc lúng túng tình cờ ông gặp ông Leland Barrow, Giám Ðốc USOM, cơ quan viện trợ Hoa Kỳ và được đề nghị làm việc với cơ quan này. Khi biết lương lên đến 50.000 đồng một tháng thì “khó mà từ chối vì tôi còn vợ con…”

( .. .. .. )

Làng báo  Miền Nam thật sự đã thừa hưởng ngay những cố gắng làm mới của ông. (.. .. ) Với tuổi trẻ, lòng yêu nghề và được trang bị những kiến thức căn bản tối thiểu những người phóng viên này – ( Phóng viên Việt Tấn Xã. CTHÐ ) – đã thổi một luồng sinh khí mới vào cung cách săn và viết tin cho báo chí Miền Nam.

( .. .. .. )

Do đâu mà ông Linh lại có cái máu làm báo sớm sủa và dai dẳng như thế?

Có phải bị lây từ những con rệp và muỗi trên thân thể nhà báo Như Phong khi hai người ở tù chung trong nhà giam của Tự vệ thành Việt Minh năm 1946?

Trong một buổi trà đàm tại tư gia của ông, nbà báo lão thành Nguyễn Ngọc Linh tâm tình với Lê Thiệp, đàn em trong nghề mà cũng là học trò cũ của ông:

“Câu chuyện dài giòng lắm, xảy ra từ thế kỷ trước. Như ông biết, bố tôi, ông Nguyễn Trọng Tấn, làm quan đến chức Tổng Ðốc Bắc Ninh. Khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt và tình hình Việt Nam xáo trộn dữ dội thì bố tôi bị sốt nặng phải đưa vào nhà thương. Lúc đó Việt Minh đã kiểm xoát Hà Nội và nhà thương La Renaissance đã được Tây trao lại cho họ, chỉ có một bộ phận nhỏ của Pháp vẫn giữ lại để lo cho kiều dân Pháp mà thôi. Bố tôi sốt ngày càng nặng trong khi mấy ông y sĩ Việt toàn cho uống thuốc sốt. May quá, tôi gặp được một viên đại tá bác sĩ Pháp còn ở đó, nhờ ông ta chẩn bệnh. Sau khi khám bệnh, bác sĩ cho biết bố tôi bị bướu trong não, phải mổ và ông có thể giúp giải phẫu. Giữa hoàn cảnh đó, tôi xin với cán bộ Việt Minh quản trị bệnh viện nhưng họ nhất định không cho vị bác sĩ này giải phẫu vì “Việt Nam đã độc lập, không cần đến thực dân Pháp.” Bố tôi mất vài tháng sau và gia đình mất chỗ dựa. Dù là một vị quan Tổng Ðốc, nhưng bố tôi không có của chìm, của nổi. Ông anh lớn của tôi thì còn kẹt ở Vĩnh Yên. Ông anh hai thì bị bắt vì bị nghi là Quốc Dân Ðảng, và tuy đã được trả tự do nhưng vẫn bị theo dõi. Hai chị lớn thì đã lập gia đình. Tôi bỗng trở nên đầu tầu của một gia đình với mẹ và 5 đứa em. Tôi loay hoay trong cuộc sống và khi thấy ông hàng phở đẩy xe qua, tôi nghĩ tại sao không nấu phở bán? Nghĩ và làm liền. Tôi dọ dẫm khi ăn phở thì gạ chuyện để học nghề, như tại sao phở tôi nấu ở nhà hôi, thì được dậy là phải rửa xương bằng rượu, tại sao nước dùng đục thì được biết phải hớt bọt. Cứ thế tôi học lóm và khi nghĩ mình nấu phở ngon lành, tôi xin ông thông gia của gia đình là bác Hàn Tường vốn có ngôi nhà ở Ngọc Hà, cho tôi dùng cái gara nhỏ để mở tiệm. Bà mẹ tôi đã can đảm đứng ra chịu mọi trách nhiệm với bác Hàn Tường để cậu con trai mới 16 tuổi vắt mũi chưa sạch đi mở tiệm phở.

Tôi một mình sửa sang cái nhà xe, sơn phết, lấy nồi niêu, bát đĩa ở nhà mang tới, kẻ bảng, đặt tên tiệm là Hải Hòa, cái tên mang vẻ giảng hòa của tuổi trẻ. Thực tế phũ phàng, chả thấy ai thèm vào ăn phở tôi nấu. Nhưng may quá, gần đó có một trại lính Tàu Phù của ông Lư Hán đến Việt Nam để giải giới quân Nhật. Mấy chú lính Tàu đói dài, phở ngon hay dở không quan trọng vì họ có biết gì về phở đâu. Tôi trở thành đầu bếp nấu phở cho lính Tàu… Buồn cười nhất là sau khi quen rồi, mấy chú Tàu này xin cho họ nấu phở kiểu Tàu, cho hợp khẩu vị. Họ vào bếp và xào phở giống như món Chow Mein nay mình hay ăn ở tiệm Tàu. Thế là nhất, mình đỡ phải nấu và họ trả tiền sòng phẳng. Họ trả bằng quốc tệ chứ không phải quan kim. Quốc tệ là thứ tiền lèo không có giá, nhưng dần dần quốc tệ cũng không còn, và lính Tàu giở trò ăn quịt, ăn chạy. Số may có ông hiến binh Tàu ở ngay sát tiệm, và tôi chạy sang cầu cứu. Nhờ hiến binh Tàu canh giữ  nên trò ăn chạy không xẩy ra, nhưng vì vậy mà phở Hải Hòa lại vắng teo. Một hôm có anh lính Tàu chắc vì thèm ăn quá nên liều vào ăn nhưng rồi thú thật không có tiền. Tôi còn trẻ, khoái súng ống bèn bảo để súng lại, lúc  nào có tiền thì cho chuộc, nhưng ngay bây giờ, cứ gửi một khẩu súng lục là cho ăn 10 bát phở. Lính Tàu của Lư Hán là thứ lính nông dân, vơ bèo, gạt tép, đói thì cái gì cũng làm. Từ đó súng gì cũng vậy là 10 bát phở. Tự nhiên tôi có cả lô súng trong tay để bán hoặc đôi khi biếu các ông Quốc Dân Ðảng, bạn của ông anh. Tự Vệ Thành của Việt Minh đánh hơi ra ngay. Một hôm có một người ăn mặc bảnh chọe, đến ăn vào gần nửa đêm và rút ra tờ giấy 500. Tôi bối rối thì ông ta bảo cứ cầm tiền đi đổi. Khi ra đến đường, ông ta đi theo và bất thình lình rút súng dí vào người tôi. Một chiếc xe hơi đen trờ tới và họ chở tôi về sở mật thám trên đại lộ Gambetta, trụ sở của lính kín Tây hồi xưa. Ðến nơi, họ mở xà-lim và đạp tôi ngã chúi vào phiá trong. Xà-lim tối om, bên trong có một người đang nằm. Ông ta nhổm dậy xích ra một phiá nền xà-lim tí teo, nhường chỗ cho tôi nằm. Ông hỏi tên tuổi và biết tôi chỉ mới gần 17 và nghe tên bố tôi thì ông ta bảo: “Tôi có nghe danh cụ thân sinh.” Sau khi nghe hết câu chuyện tôi bị bắt, ông nói:

“Tôi có thời là bí thư cho ông Võ Nguyên Giáp mà tụi nó còn cum thì cậu vao đây có gì là lạ. Tiếp tế súng cho Quốc Dân Ðảng thì e đi mò tôm sớm.”

Tôi sợ run lên và thú thật, khi bắt họ không khám trong túi tôi vẫn còn cây súng ám sát, làm sao thủ tiêu. Ðây là thứ súng bút máy của OSS Mỹ, bắn một viên và đầu kia có một viên cyanide, hễ bắn địch thủ không chết thì cắn viên thuốc độc tự sát. Ông bạn tù, vâng đó là ông Như Phong Lê Văn Tiến, ngồi nhổm dậy và dù trời tối cũng mân mê khẩu súng bút chì và ông nói:

“Tôi có cách giúp cậu thoát, nhưng phải trước sau như một, nghe lời tôi.”

Lúc đó tôi còn trẻ, không biết xoay sở gì nên chăm chú nghe lời ông chỉ dẫn để mong thoát. Mờ sáng hôm sau, tôi xin đi cầu và dấu khẩu súng ở một chỗ dưới lỗ cầu. Khi bị gọi lên thẩm vấn, công an Việt Cộng, sau trận đánh phủ đầu, buộc tôi đủ thứ tội và có lẽ tôi nặng nhất là tiếp tế súng cho phản động Quốc Dân Ðảng. Buồn cười nhất là họ hỏi tại sao lại là phở Hải Hồ, tại sao dám để Nguyễn Hải Thần lên trên Bác Hồ. Theo lời dặn của ông Tiến, tôi khăng khăng chối, chỉ khai là bọn lính Tàu ăn phở không tiền nên trả bằng súng và tôi bán súng để kiếm sống và nhất là không liên hệ gì đến Quốc Dân Ðảng. Tôi nhất định xin gặp thủ trưởng công an tù vì có chuyện muốn khai báo riêng và vì chuyện quan trọng nên chỉ khai được với ông ta. Bọn công an bảo cứ khai đi, không cần phải khai với ông Thủ Trưởng, và đánh tôi hộc máu mồm, dồn máu mũi. May là còn trẻ nên tôi chịu đòn được. Vài hôm sau, viên xếp công an cho gọi tôi lên, và khi tôi lễ phép chào Ông Giám Ðốc thì gã vỗ bàn thét: “Cách Mạng không có lối xưng hô phong kiến như vậy.” Tôi khai rằng khi đổi phở lấy súng để sinh sống, tôi có cây súng ám sát ghê gớm lắm và sẵn sàng giao lại cho ông ta, nếu ông hứa sẽ tha tôi vì tôi thực sự không có tội gì. Tới lui, dọa nạt, nhưng sau cùng tên này đồng ý hứa. Tôi dẫn họ xuống cầu tiêu moi cây súng ra. Mấy tên công an Việt Minh xúm lại xuýt xoa, nhưng tôi vẫn không được tha.

Tối tối ngoài cổng trại tù lại nghe tiếng xe hơi nổ và ông Như Phong bảo: “Xẽ chở tù đi thủ tiêu.” Nghe mà rùng mình, cho đến hai hôm sau thì nửa đêm họ đến lôi chính ông đi. Thú thật tôi đã khóc hết nước mắt, vì vừa sợ hãi, vùa thương ông bạn mới, dù chỉ chia xẻ xà-lim với ông trên 10 ngày, nhưng tôi thực quí trọng ông ta.

Hôm sau vừa sẩm tối, tôi được thả ra thật. Theo đúng dự mưu của ông Như Phong, tôi không về nhà, cũng không về quán Hải Hồ, mà trốn ở nhà ông bác. Quả nhiên, đúng như lời dự đoán, công an Việt Minh tối hôm đó đến cả hai nơi toan bắt tôi lần nữa.

Vậy đó. Tôi vẫn nghĩ cái duyên nghiệp giữa tôi và ông Như Phong nó bắt đầu như là số phận giữa hai con người để rồi sau này khi gặp nhau lại ở Sài Gòn, ông vẫn đùa:

“Tụi mình ở chung xà-lim đầy muỗi, đầy rệp. Rệp muỗi đốt tôi, rồi đốt cậu, khiến câu lây cái máu “báo bổ” của tôi.

“Ngần này tuổi đầu, đôi lúc ngồi nhớ chuyện xưa, thương ông Tiến và nghĩ – hay có khi vì rệp và muỗi mà tôi lây cái máu báo bổ của ông cũng nên …”

Lê Thiệp. VA

Xin tạm ngưng trích bài viết về Nhân Vật NN Linh để tham gia bàn loạn đôi điều. Tôi – CTHÐ – cũng được có sự quen biết Ký giả Lê Thiệp và ông Như Phong Lê Văn Tiến nên cung kính và rụt rè viết những chuyện này. Nếu có gì không đúng, không phải xin các vị tha thứ cho. Tôi muốn đóng góp vào lịch sử nhưng nhiều khi thiện chí là một chuyện, thiện chí mà bậy bạ là chuyện thường xẩy ra.

Cổng Bệnh Viện De Lanessan ở Hà Nội những năm trước năm 1945.

Chuyện  Hà Nội những năm 1940 có Nhà Thương La Renaissance..” làm tôi théc méc. Ở Hà Nội ngày xưa làm gì có Nhà Thương Tây nào là Nhà Thương La Renaissance? Tôi nhớ mang máng Hà Nội ngày xưa – trước năm 1945 – có Nhà Thương Lanessan. Nhưng nhớ mà nhớ mang máng thì không nên tin là đúng. Tôi bèn hỏi Google.com. Tôi tìm được tấm ảnh Hopital De Lanessan ở Hà Nội, Google cho tôi biết De Lanessan là tên một Toàn Quyền Pháp ở Ðông Dương năm xưa.

Tôi vẫn thán phục tài năng của ông NN Linh, nay đọc những bài viết về ông tôi càng thán phục ông hơn. Mới 16 tuổi ông đã làm chủ tiệm Phở. Ðúng là tuổi trẻ, tài cao. Có điều tôi théc méc mong ông giải thích dzùm – ông NN Linh hiện sống khoẻ ở Virginia – là “Súng lục ở đâu mà bọn Lính Tầu Phù đem đến tiệm ông mỗi súng lục đổi 10 bát Phở?” Năm xưa ấy tôi ở tỉnh nhỏ Hà Ðông xong tôi cũng chính mắt thấy những toán lính Tầu Lư Hán lếch thếch đi trong phố, mỗi toán chừng 15 người, chỉ có chừng 5, 6 người mang súng trường, có những anh lính còm ròm, quân phục sộc sệch, khiêng, gánh nồi niêu xong chảo, gạo củi. Có những anh lính phù hai chân, có những anh lính đái ướt sũng quần mà vẫn cứ đi theo toán. Quân đội Trung Hoa được Ðồng Minh giao cho việc giải giới quân đội Nhật ở Bắc Việt. Vì không có quân nên khi đi qua Vân Nam, Tướng Lư Hán cho mấy anh Tầu đói vào làm lính. Do đó mà những tháng đầu nhiều chú lính Tầu vào Bắc Việt bệu nhệch quá cỡ thợ mộc. Năm xưa ấy bọn trẻ chúng tôi thường hát theo điệu nhạc Tiến Quân Ca của Văn Cao:

Ðoàn quân Tầu Ô đi sao mà ốm thế?
Lê chân phù lang thang sang đường Việt Nam.
Cờ ba sắc rách mướp theo chiều gió
Ðưá nào sang không ốm thì què chân.

Những người lính Tầu Phù ấy lấy đâu ra súng, đã súng mà còn là súng lục, để mang đi đổi phở Hải Hoà? Ngay cả nhiều sĩ quan cấp Tá của cái quân đội Tầu Phù ấy cũng không có súng lục, nói chi đến đám lính trơn. Mà ông NN Linh kể rõ “súng lục”, không thể lầm với súng trường. Lại cũng không có lẽ đám lính Tầu Phù vác súng trường đến đổi phở.

Chuyện “khẩu súng ám sát như cái bút máy, chỉ có một viên đạn, bắn mà kẻ bị bắn không chết thì người bắn lấy viên thuốc độc trong súng ra nuốt mà tự tử ” là chuyện thuộc loại “Chuyện Khó Tin Nhưng Có Thật.” Người Mỹ gọi loại chuyện này là chuyện “Believe It or Not”  Tin thì tin, không tin thì đi chỗ khác chơi. Ðừng hỏi vớ vẩn. Ông NN Linh đã kể thì chắc là chuyện thật. Với tư cách người đọc, tôi kính mong ông nói cho biết rõ hơn về khẩu súng ám sát siêu tối tân kiêm tiền hiện đại kiêm tiền Xi Ai Ê này. Bằng cách nào một khẩu súng ám sát OSS Mỹ văn minh cơ khí như thế lạc vào đám lính Tầu ô hợp đói ăn vưà hành quân vừa đái ra quần để rồi phiêu lãng vào túi áo một ông thiếu niên Hà Nội và sau cùng bị vùi dzập trong một cầu tiêu trong Khu Xà-lim Nhà Mật Thám Gambetta? Nếu ông NN Linh không cho người đời biết rõ hơn về khẩu súng này thì chuyện khẩu súng bút chì ám sát một viên đạn trong bài này sẽ là một “bí ẩn của lịch sử.”

Về cái gọi là “máu báo bổ dai dẳng” của ông Như Phong Lê Văn Tiến di truyền sang ông NN Linh, tôi mạo muội kính thưa:

Như tôi biết, cái gọi là “máu báo bổ ” của ông Như Phong LV Tiến dường như nó không dai dẳng mấy. Ông Như Phong làm trong toà soạn nhật báo Tự Do thời ông Phạm Việt Tuyền làm chủ nhiệm, ông Kiều Văn Lân làm quản lý, ông Hiếu Chân Nguyễn Hoạt viết mục “Nói hay Ðừng.” Ông Như Phong viết tin chính trị, không ký tên nên ít người biết tên ký giả Như Phong. Năm 1963, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị giết. Nhật báo Tự Do thường bị coi là báo của Phủ Tổng Thống nhưng sau đảo chính vẫn sống. Tôi chẳng nhớ là vào năm nào sau năm 1963 nhật báo Tự Do với chủ nhiệm Phạm Việt Tuyền bị đóng cưả, chỉ biết từ năm 1963 ông Như Phong không làm nhật báo nữa; ông làm gì tôi không biết, tôi chỉ biết từ 1963 ông không làm báo. Dường như ông ở trong số những ông làm quân sư cho một số nhân vật cầm quyền. Ông không bao giờ ra mặt giữ chức vụ công khai nào trong chính quyền. Ông bị bọn Công An Bắc Cộng bắt tù ngay trong tháng đầu chúng vào Sài Gòn. Chúng giam ông dài ngày trong Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu rồi nhiều năm trong Nhà Tù Chí Hoà. Năm 1988 ông ra khỏi tù, năm 1992 ông sang Mỹ. Mấy năm đầu ông ở Cali, mấy năm cuối đời ông ở Virginia; ông qua đời  khoảng năm 2005, ông trọn đời độc thân, không vợ, không con.

Your country needs you. Please come back now. Tổ Quốc cần anh. Mời về ngay.” Ôi.. .. tiếng gọi thiêng! Tôi không được Tổ Quốc gọi nhưng nghe Tổ Quốc gọi ông NN Linh, tôi xúc động quá cỡ. Ðất nước bị mất một nửa rồi, chàng nên về làm mất nốt! Xin lỗi: chàng về ngay để giữ nước. Không biết ai gửi cho chàng sinh viên NN Linh cái message bi hùng ấy? Người gửi không thể là tư nhân. Mà nếu message – người Việt tị nạn ở Mỹ thường nói là “mét-sịt” – do Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm gửi thì sao lại bằng tiếng Mỹ??

Lại thấy tủi thân. Mình ở trong nước thì không được Country nhắn, Country gọi chi cả. A-lê dzô lính. Ở nước ngoài thì Country needs you! Cảm khái cách gì.

Nhưng thôi. Cái gì của Sê I A trả cho Sê I A, cái gì của ông NN Linh xin kể về ông NN Linh. Tôi thật không muốn khoe tôi từng có thời làm bồi cho Mỹ xong xin quí vị cho tôi kể về tôi vài giòng để giãi bày trong trường hợp nào tôi được quen nhân vật NN Linh.

Năm 1954 tôi làm phóng viên Nhật báo Sàigònmới, lương tháng 3.000 đồng bạc Quốc Gia VN. Tôi có vợ, 3.000 hai vợ chồng sống eo hẹp, chỉ nội khoản tiền mướn cái nhà nhỏ mỗ tháng đã phải chi 1.000, chưa kể tiền điện nước; tôi đòi tăng lương lên 4.000 đồng. Bà Bút Trà không cho. Bất mãn, tôi bỏ Sàigònmới. Bạn tôi, anh Trần Lâm năm ấy là nhân viên USIS, nói với ông Lê Minh Thịnh lúc ấy là Phó Trưởng Phòng Nhân Viên của Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ, xin việc cho tôi. Tôi đến Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ năm ấy ở đường Võ Di Nguy – Hàm Nghi. Ông Lê Minh Thịnh cho tôi dịch một cái Note bằng tiếng Anh sang tiếng Việt, một thông cáo ngắn xủn tiếng Việt sang tiếng Anh, ông hỏi tôi vài câu tiếng Anh rồi cho tôi một giấy giới thiệu. Ngay buổi sáng hôm đó tôi đến Trụ Sở USOM ở số 32 đường Ngô Thời Nhiệm. Bà Personel Officer USOM xem giấy, hỏi tôi vài câu, nhận tôi dzô làm. Ngay sáng hôm sau tôi trở thành nhân viên USOM, Sở Viện Trợ Mỹ tiền thân của USAID.

Nhân viên Việt USOM có bảng lương đánh số: Số 1 là bậc lương thấp nhất, gọi là Step 1, rồi Step 2, Step 3 lên đến Step 15 là thượng đẳng. Mỗi Step cách nhau từ 500 đồng đến 1.000 đồng VN. Tôi được cho Step 6, lương tháng 5.600 đồng. Tôi là Junior clerk, làm trong Travel Section của USOM, chuyên việc đi xin visa, mua giấy máy bay cho nhân viên USOM. Năm ấy, 1955, USOM có một phi cơ riêng 2 động cơ, phi công Mỹ, bay đường Sài Gòn – Ðàlạt – Nha Trang – Ðà Nẵng – Huế một tuần hai lần, sáng đi chiều về, một tuần một lần phi cơ bay đường Sài Gòn – Phnom Penh – Vientiane. Tôi phải lo đưa đón hành khách là nhân viên USOM, nhân viên Toà Ðại Sứ đi về những chuyến bay này ở phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi phải đón ở phi trường những nhân viên USOM Mỹ từ Mỹ sang. Những năm ấy Mỹ đang vào Việt Nam. Gần như tháng nào cũng có cả chục nhân viên Mỹ từ Mỹ đến Sài Gòn. Những người này được gọi là New Arrival. Phi cơ PANAM – Pan American – đưa họ từ Mỹ sang thường ghé HongKong, Tokyo trước khi đến Sài Gòn, và phi cơ thường đến vào lúc 12 giờ đêm. Tôi được báo số người đến, giờ đến, hãng hàng không nào, đưa họ về khách sạn nào. Tôi lo xe ô tô USOM lên Tân Sơn Nhất làm việc ấy. Do đó tôi làm nhiều giờ overtime, lương tôi lên đến 6, 7.000 một tháng. Việc làm hợp với tôi: đi xin Visa, đi mua vé, lên Tân Sơn Nhất. Mỗi lần đi như thế  dù chỉ trong một giờ là xong việc, tôi đi hết buổi. Tôi ít khi phải ngồi chờ giờ về ở Sở.

Năm 1955 ông Nguyễn Ngọc Linh làm trong Agriculture Section của USOM, Trưởng Phòng là Ông Ladezinsky, nghe nói là người Mỹ gốc Nga. Cùng năm ấy USOM có nhân viên thứ hai du học từ ngoại quốc về là ông Trần Ðức Thanh Phong. Nhân viên USOM năm ấy còn có ông Tuấn Ghẻ – Housing Section – cô thư ký Mộng Vân Người Ðẹp USOM. Ông NN Ngọc Linh du học Mỹ Quốc, cấp bằng Cử Nhân Chính Trị-Kinh Doanh Mỹ – phải chăng là “Politic- Economic?” – được Tổ Quốc cầu cứu “Country needs you!” mà làm thư ký USOM thì hơi phí tài của ông. Theo bảng Lương Nhân Viên Việt USOM, lương tôi Step 6 mà 5.600 đồng một tháng, lương ông NN Linh nếu ở Step Lương cao nhất là Step 15, vào khoảng 15.000 đồng. Nếu năm xưa ấy luơng ông NN Linh ở USOM là 50.000 đồng một tháng thì lương ông cao bằng lương ông Leland Barrow, Giám Ðốc USOM.  

Dòng thời gian dzài một ánh bay.. Những ngày như lá, tháng như mây.. Những năm 1960 ông NN Linh làm chủ Nhà In Công Ðàn ở đường Ký Con, ông là chủ nhiệm tuần báo Ðiện Ảnh, ông Quốc Phong làm thư ký tòa soạn Ðiện Ảnh, tôi viết cho Ðiện Ảnh nên tuần nào tôi cũng ghé Công Ðàn đưa bài. Tôi được gặp lại ông Linh ở đấy.

Bà Bút Trà, bà chủ báo Sàigònmới, bà chủ tôi, có người con du học ở Anh quốc. Ông này lấy vợ người Anh, ở lại nước Anh. Một năm đôi kỳ bà Bút Trà viết thư cho ông con, ông này xin bà cho ông thư viết tiếng Anh để vợ ông ta có thể đọc. Bà Bút Trà đưa thư tiếng Việt của bà cho tôi, nhờ tôi dịch thư ra tiếng Anh. Ðã lười lại dzốt tiếng Anh, tôi mang thư bà Bút Trà đến Nhà In Công Ðàn nhờ ông Linh dịch dzùm. Ông dịch miệng, tôi ngồi bên ông ghi xuống giấy. Có lần đang ghi tôi ngưng để hỏi ông:

“Tít là cái gì?”

Ông trả lời:

“Bà chủ toa viết “Vú thương các con nhiều. “Vú” không dịch là “Tít” thì là gì?”

Năm 1972 ông NN Linh là nhân viên trong Phái đoàn Quốc Gia VNCH đi dự Hoà Ðàm Paris – ông Nguyễn Cao Kỳ Trưởng Ðoàn – vào khoảng 11 giờ một ngày Sài Gòn nắng đẹp, tôi gặp lại ông NN Linh. Tôi trên xe Vespa vừa đến ngã tư Trương Minh Giảng-Tú Xương thì chiếc Peugeot 505 của ông NN Linh trờ tới. Ông bảo tôi:

“Vào đây chơi.”

Tôi theo ông vào toà nhà ở ngay ngã tư đó. Nhà Tây, hai tầng, có vuờn, dường như năm đó tòa nhà này là một cơ sở được cấp cho phái đoàn hoà đàm. Tôi theo ông NN Linh vào nhà. Chắc là lúc đó ông từ Paris về Sài Gòn có công việc gì đó. Trưa ấy ông vừa đi đánh tennis ở Cercle Sportif về. Tôi nhìn sang văn phòng trước mặt, thấy ông Ðặng Ðức Khôi đang tiếp một bà khách trong đó. Rồi có con chó bông toàn thân lông trắng, chỉ có hai con mắt là đen nhánh, chạy vào phòng, vẫy đuôi mừng ông Linh. Ông vuốt ve nó, ông nói:

“Chó Bắc Cực. Bọn moa mua về nhưng nó là chó xứ lạnh, nó không chịu nổi cái nóng Sài Gòn. Cứ phải cho nó ở trong phòng lạnh.”

Ít ngày sau tôi đọc thấy trong mục “Nghe qua rồi bỏ” người viết ký tên Tư Trời Biển, của nhật báo Ðại Dân Tộc, chủ nhiệm ông Võ Long Triều, đăng đoạn tin vặt, tin truyền miệng mà các ông nhà báo Sài Gòn xưa gọi theo người Pháp là “tin potin: tin pô-te.” Gọi là tin nghe qua rồi bỏ thật đúng. Tin rằng:

“Trên những chuyến phi cơ Boeing chở nhân viên phái đoàn Việt Nam dự Hoà Ðàm Paris  về Sài Gòn người ta thấy toàn chó và chó.”

Tin chỉ thế thôi. Người đọc không biết chuyện các ông nhân viên phái đoàn Việt ta mua chó Tây chở về nước trên phi cơ Boeing có thể théc méc: “Tệ quá. Sao lại viết trên Boeing chở phái đoàn toàn chó và chó! Không nể nang gì nhau cả.”

Tôi biết chuyện các ông mua chó nên khi đọc tin ấy, tôi tủm tỉm cuời, nghĩ:

“Anh Tư Trời Biển này viết ác thật. Ðộc hơn thịt vịt Xiêm lai.”

Rồi thời gian lại qua. Năm 1980 đi tù 2 năm trở về mái nhà xưa, thành phố cũ, tôi đến Trụ Sở Hội Văn Nghệ Giải Phóng để dự những cuộc họp gọi là sinh hoạt. Ông bạn Phan Nghị của tôi bảo tôi:

“Mày mới ở tù về, bọn công an Phường, Quận chúng nó sẽ gọi mày ra khai báo, kiểm điểm nọ kia. Mày nên đến Hội Văn Nghệ để nếu bọn Phường Quận có hỏi mày nói mày sinh hoạt ở Hội. Cần thì nhờ Vũ Hạnh nó cho giấy chứng nhận.”

Tôi đến Hội. Hội Văn Nghệ Giải Phóng ở trong toà nhà năm 1972 ông NN Linh đã đưa tôi vào trong một buổi trưa. Tôi nhìn, tìm và nhận ra:

“Ðây là cái phòng hôm ấy NN Linh đưa mình vào. Ðây là căn phòng năm xưa mình thấy Ðặng Ðức Khôi.”

Cảm khái cách gì.

Advertisements

23 Responses

  1. Bác CTHD ơi ,có phải ông N. N Linh đây là Hiệu Trưởng trường Anh Văn NNL. không ạ?

  2. Những câu hỏi của CTHD về bài viết của ông NNL đọc thật lý thú !!!

  3. Ông NNL dịch “vú” ra anh ngử là “tit”(!!!!) Một nghi vấn: có lẻ ông L học cùng trường thông ngôn với dịch giả đã dịch từ “canh gà” là “chicken soup” trong canh gà Thọ Xương?

  4. Trong bài viết Em Ơi..Ca’ Tháng Tư của CTHD có hai chi tiết về lương tháng và lương tháng với overtime như:

    1. “Bà Trưởng Phòng Nhân Viên USOM tiếp tôi, cho tôi làm nhân viên Travel Section của USOM, lương tháng 6.000 đồng, thêm tiền overtime”

    2. “Lương tháng của tôi thêm overtime tới khoảng 10.000 đồng”

    Tuy nhiên trong bài viết YOUR COUNTRY NEEDS YOU hai chi tiết trên có khác biệt như sau:

    3. “Tôi được cho Step 6, lương tháng 5.600 đồng”

    4. “Do đó tôi làm nhiều giờ overtime, lương tôi lên đến 6, 7.000 một tháng”

    Sai biệt tiền lương tháng cách nhau 400 đồng; và sai biệt tiền overtime cách nhau 3, 4 ngàn một tháng

    Không biết con số nào chính xác?

    • Bố Già CTHĐ có lẽ chỉ nói phỏng chừng để viết cho hết ý và không có thì giờ hiệu đính trước khi đăng, thế thôi.

    • Cam on ong MHT da doc bai toi viet va nho nhung gi toi viet. Thang nao nhieu Overtime luong toi co the len den 10.000 mot thang. nhung thang it Overtime luong toi chi 5, 7.000. CTHD

  5. Đọc bài thật thú vị! Có thể bài viết của ông Nguyễn Ngọc Linh có phần phóng đại chăng? Nhớ hồi xưa khi ông Linh làm thông dịch viên cho ông tổng thống Thiệu trong cuộc phỏng vấn dành cho ký giả ngoại quốc ở chiến trường, không biết ông Linh dịch thế nào mà ông Thiệu giận dữ quay lại phía ông Linh lặp lại lời của ông bằng tiếng Việt và dịch ngay từ bằng tiếng Mỹ. Hình ảnh nầy được thấy rõ trên TV! Khi xưa trường anh văn Nguyễn Ngọc Linh được quảng cáo rất rầm rộ bằng các bảng quảng cáo chữ xanh lá mạ chói mắt gần ngã tư Pasteur- Phan đình Phùng. Thời sau đảo chánh , có lúc ông làm giám đốc nha báo chí và cũng đã có lúc nặng tay đục bỏ bị báo chí la oai oải! Việc công điện “The country needs you”, như trình bày không rõ nguồn gốc người gửi, xem như nhóm sáu người của Ông Huỳnh văn Lang cũng du học Mỹ mà Ông Diệm gặp gỡ lúc còn lang thang thì sau nầy họ về nước đều được hậu đãi. Tại sao ông Linh không cầm điện tín vào dinh thủ tướng làm bằng mà đi khơi khơi thì không được sắp xếp tiếp kiến là đúng. Chuyện quán phở Hải Hôa và đoàn quân Tàu Ô ăn phở có khi sáng tác gần kho đạn Gò vấp đọc cho hấp dẫn chơi thôi chứ súng ống lúc đó qui ra tiền khá dễ, có đâu khẩu súng chỉ có 10 tô phở bèo quá thế?
    Nếu dịch chữ ‘”VÚ” là mẹ ra tiếng Mỹ là tít trong lúc ông HHT cần dịch lá thư nghiêm túc của bà Bút Trà thì e là đùa quá chăng? Hồi xưa giáo sư ngôn ngữ học Nguyễn Đình Hòa, thạc sĩ ngôn ngữ, dạy học ở Mỹ nhiều năm nghe lời gọi về giúp nước, ông dịch câu ca dao: Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương ông dịch câu sau là chicken soup of Thọ Xương một cách thành khẩn thì chuyện không phải ông dốt tiếng Anh mà vì ong xa tổ quốc quá lâu. Mong có sự thông cảm cho ông mà không nên có sự nhã cợt!

    • Tôi dám chắc 100% giáo sư Nguyễn Đình Hòa không dịch “canh gà” là “chicken soup” Bằng trí nhớ còm cõi, tôi còn nhớ một bài báo trên nhật báo Chính Luận tường thuật một dân biểu Hạ Viện đã dịch như trên trong một chuyến đi “giải độc quốc ngoại” vào đầu thập niên 70 tại Nhật hay Âu Châu Tôi nghĩ chắc bác CTHD biết là ai?

  6. Ngày xưa các du học sinh qua Mỹ học xong cử nhân rồi về nước làm thông dịch viên thì chắc chắn cũng sẽ gặp thiếu sót nhưng họ vẫn là những người sáng giá để làm công việc này. Ngày nay nhiều người tỵ nạn học hành thành đạt bên Mỹ. Sau đó họ ra làm việc và học hỏi thêm trong mấy chục năm nên trình độ thông dịch nhiều người rất giỏi. Tôi có người bạn sống bên Mỹ đang làm dịch thuật Anh-Việt, Việt -Anh cho một công ty lớn ở Saigon qua Fax. Tiền trả cho anh ta được vô thẳng account của anh. Thế mới biết ngay cả ngày nay ở VN, người ta vẫn tin tưởng khả năng Anh ngữ những người Việt sống ở hải ngoại hơn là đa số tiến sĩ giấy trong nước.

    • Đệ nhất MC của việt cộng dịch tiếng Anh, mời các bác xem .

      ” Đông A
      Tôi xem đoạn clip trên mà không khỏi phì cười. Đúng là chuyện hài cuối tuần. Clip quay đoạn ông Lại Văn Sâm, người của Đài Truyền … ”
      donga01.blogspot.com – Cached

  7. Tôi còn nhớ thời gian ông NNLinh làm Giám Đốc đài Phát thanh (không chắc nhớ rõ), con ông bị kẻ lạ mặt đi xe Vespa bắt cóc ở cổng trường học lúc trời mưa, mấy ngày liền Đài Phát thanh dành nhiều thì giờ thông báo về chuyện này, không biết qúy vị khác có nhớ không.
    Khi nhìn tấm hình Tổng Thống gắn cấp hiệu cho Thủ Khoa SV Sĩ Quan trang trọng và hào hùng như vậy, dưới lại có chú thích BỊ GỌI ĐỘNG VIÊN, nhớ lại bài hát nổi tiếng một thời …thi hỏng Tú Tài, ta đợi ngày đi, ĐAU LÒNG ta muốn KHÓC… qúy vị nghĩ gì?!

  8. @Bác TBui mến.

    Thành thật mà nói, tôi vô cùng cám ơn em xi Sâm nhà VTV2 hết sức. Đúng là gã sắm vai hề hết cức can trường. Hôm đó tôi được bữa cười no.

    Phải “sâm” nát mình mới dám hỗn láo, mất dậy đến độ vậy. Coi thường cả mấy chục triệu người trong nước thì chớ, mà còn dám ngông nghênh với bao khách ngoại quốc nữa.

    Cứ tưởng tượng nói với người ta một câu : ĐU DZU WAN XÂY XĂM XINH MO … ô kê, ô kê …. gặp ở ngoài đường mũi cu cậu Sâm nhà đài chảy máu cam là cái chắc.

    Cứ thế thì sau này tổ chức ai còn thèm ….

    Thân mến.

  9. Kính mời quý Bác nhào dzô xem giải phiền.

    Cũng dzui dzui năm ba phút cho đời đỡ khổ tí nào chăng ?!

    [http://www.youtube.com/watch?v=T3Ko3DvW75Y]

    Ngô Ngạn Tổ : “Good evening, ladies and gentlemen. I just want to say what a pleasure and honor it has been for me to take part in the first Vietnam International Film Festival in this beautiful city of Hanoi on its 1000th birthday.”

    Lại Văn Sâm bèn quăng lựu đạn : “Vâng, Ngô Ngạn Tổ có gửi tới lời chào tới tất cả những người biết anh, hâm mộ anh qua những tiếng reo hò khi anh xuất hiện. Cảm ơn tất cả mọi người đã chào đón anh ở thủ đô Hà Nội, nơi mà anh cũng biết rất nhiều qua báo, đài…”

    Ngô Ngạn Tổ : “I think this week has been full of new and interesting challenges for everyone, but what holds true is the passion of film is very much alive here.”

    Lại Văn Sâm quăng thêm trái nữa : “Và anh ấy cũng rất phấn khởi khi được mời tới dự liên hoan phim quốc tế lần đâu tiên tổ chức tại Việt Nam và anh tin tưởng rằng với đà này thì điện ảnh Việt Nam sẽ có tương lai rất sáng.”

    Ngô Ngạn Tổ : “I think the goal of any film festival is not only to bring world cinemas to local audiences but also to bring local cinemas to world audiences, and I think that’s certainly been achieved here.”

    Chẳng lẽ Sáu Búa phang được (chủ tịt nước chứ kít sao) nay thằng con nhà Sâm này lẽ nào không dám phóng – thế là :

    “Và anh ấy nói rằng là ở Hà Nội trong những ngày qua thì anh ấy cũng được chứng kiến những dòng người đổ đến các rạp để xem các phim trình chiếu trong liên hoan phim quốc tế như thế nào.”

    Thôi chả … không nói hết cuốn phim vài phút đó làm gì nữa kẻo mấy Bác mất hứng, cười không nổi thì mất dziên cho NẠI DZĂNG SÂM chăng ?

    Chúc quý Bác cười cho to vào nhé.

    Thân mến.

  10. các Bác ơi
    Cảm ơn đã cho em cười môt. trận đã quá may mà anh chàng Ngô Ngạn Tổ không hiểu tiếng việt chứ nếu không thì anh bạn Nại Sâm đã bị đánh xịt xì dầu rồi
    Nghĩ cho cùng chủ tịch phát biểu rùng rợn như vậy, MC được như vậy là đúng rồi dỉnh cao, cao thật

  11. Đất nước ta nhiều tiến sỹ lắm cơ mà,có mấy anh thần đồng tiến sỹ học có vài tháng hàm thụ đậu được bằng, sao không thấy đâu cả để anh MC này làm quê quá,

  12. Hehe, bác Van Toan ơi , bác làm tôi cười văng nước miếng ,xém tí nữa cười đến té nước mắt bác whore ra quần. Bác hại tôi quá bác Toan ơi.

    Cảm ơn bác ,tui phải dô U tube coi liền mới được. Xin cám ơn đời cho ta có Sáu Búa lại kèm Nại dzăn Sâm. Chắc tui đứt ruột mà chết quá bác ơi. Đúng là Tiếu Lâm Whore 2010 đây ,mai dô ,mại dô…..

  13. Hehe, bác Van Toan ơi, tôi phải báo cáo với bác là tôi đã được thưởng thức màn quăng lựu đạn của Em Xi Nậm văn sai nà Nại văn Sâm rồi ,cười té…bác whore luôn. Xem ra tài nghệ Nổ của anh này còn cao hơn Triết lùn một bực. Tuy xem video cũng đã nhưng tui vẫn khoái cái bài tường trình của bác ,cười muốn té đái( xin lỗi bác)

    Chịu nhứt là : ” Lại văn Sâm bèn quăng lựu đạn ” ,rồi hehe ” Lại văn Sâm quăng thêm trái nữa ” rồi thêm nữa ,hehe chắc chết quá ” Chẳng lẽ Sáu Búa phang được (chủ tịt nước chứ kít sao) nay thằng con nhà Sâm này lẽ nào không dám phóng – thế là “….Ối giời ơi ,bác giết tôi dồi bác Toán ơi, chưa bao giờ cười đã như bửa nay ,đau cả bụng. Thank kiu bac

    Thế mới biết dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng ta , nhân tài không phải hiếm như lá mùa thu mà lổm nhổm như giòi trong hầm phân ,hố xí.

    Xin thánh kiu ve ri mớt Sáu Búa èn Em Xi Nậm dzăn Sai. Thanh kiu du đông sê mo , ve ri mớt ,vi ri mớt…

  14. Công nhận bác Back54 tinh ghê.

    Tôi xem đi xem lại hai, ba lần cái youtube này rồi. Nhưng chỉ cười xòa cho cái sự ba que, trâng tráo của bọn vô liêm sỉ thôi.

    Nhưng đến khi đọc reply của bác Van Toan tôi mới thấy hết cái giễu của tấn tuồng đốn mạt đó.

    Thén kìu vé ri mớt mấy bác. Được bữa cười no.

  15. Trung sĩ y tá ở Việt Nam, sau khi di tản chiến thuật, ngồi yên chỗ bên xứ Xê Kỳ, liền hóa thân thành Trung tá, Y sĩ !!! Chả cần có kho đạn Long Bình ở gần!

  16. cam on ve thong tin cua ban

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: