• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Làng Báo Sài Gòn

Ông Nguyễn Ngọc Linh, Tổng Giám Ðốc Việt Nam Thông Tấn Xã – người đứng giữa – và các phóng viên Việt Nam Thông Tấn Xã. Ảnh Hồn Việt.


Cuộc đời nhìn lại
… Bài của tác giả Lê Thiệp, đăng trên Nguyệt san Hồn Việt, Số 325. Tháng 10, 2010. Trích:

Làng báo Việt Nam thật sự đã thừa hưởng ngay những cố gắng làm mới báo chí của ông. (Ông NN Linh). Ông đã nhắm mắt làm ngơ để một loạt các phóng viên trẻ làm thêm cho báo tư nhân. Hồi đó có hai chữ Báo Nhà Nước để chỉ các cơ quan ngôn luận chính thức của chính phủ, và Báo Ngoài để chỉ báo tư nhân. Với tuổi trẻ, lòng yêu nghề và được trang bị những kiến thức căn bản tối thiểu, những người phóng viên này đã thổi một luồng sinh khí mới vào cung cách săn và viết tin cho báo chí miền Nam. Ngồi trong quán phở, ông Nguyễn Ngọc Linh ân cần hỏi thăm và nhắc đến tên từng người một như Vũ Anh, Thiên Ân, Duy Ðăng, Trương Lộc, Lê Phú Nhuận.. ..và nuối tiếc: “Nếu chúng ta không mất nước thì chắc chắn những anh em đó nay là những nhà báo có tên tuổi cả rồi.”

(.. .. .. )

“Cái số của tôi nó thế. (Lời ông NN Linh). Ngay từ hồi còn là sinh viên tôi đã lập Hội Ái Hữu Sinh Viên Việt Nam Tại Mỹ và xuất bản tờ Vietnam Bulletin phát không cho mọi người. Tờ báo in ấn tử tế và đó có thể là tờ báo đầu tiên của người Việt phát hành ở Hoa Kỳ.”

(.. .. .. )

Khi mở khoá thi tuyển lựa học viên của Khóa Phóng Viên VTX bài thi ngoài hai bài dịch Anh và Pháp Ngữ là bài văn với đề tài “Tại sao anh/chị lại chọn nghề làm báo?” và cuối khóa học bài thi ra trường cũng là “Tại sao anh/ chị lại chọn nghề làm báo?” Một câu hỏi nhưng trước và sau khi được huấn luyện chắc chắn sẽ phải có những nhận thức tiến bộ hơn. So sánh hai bài viết sẽ hiểu ngay học viên có thu thập được gì trong thời gian học hỏi hay không.

Ngưng trích bài viết của tác giả Lê Thiệp.

Những Viên Gạch Nguyễn Ngọc Linh Trong Căn Nhà Báo Chí Việt Nam.

Bài của Nhà Báo Từ Thức Trần Công Sung viết từ Paris. Nguyệt san Hồn Việt Số 325. Tháng 10, 2010.

Trích: Chuyên nghiệp hóa nghề làm báo V.N

Anh (NN Linh) đặt nền tảng cho báo chí chuyên nghiệp với lớp đào tạo ký giả đầu tiên ở VN, năm 1965, trước khi có những khoa báo chí ở những trường đại học. Trên 30 khóa sinh đã tốt nghiệp khoa báo chí do ông Tổng Giám Ðốc Việt nam Thông tấn Xã Nguyễn Ngọc Linh tổ chức, sau đó làm việc cho Việt tấn Xã, Ðài Phát thanh, Ðài Truyền hình, các nhật báo cũng như một số các cơ quan thông tấn ngoại quốc hoạt động ở VN trong giai đoạn thời sự sôi sục. Một nhóm sáng lập Việt nam Ký sự, cơ quan tư nhân đầu tiên ở VN cung cấp phóng sự điều tra cho báo chí Sài gòn những năm 60. Nhiều người còn tiếp tục cầm bút.

Báo chí VN đã có từ lâu nhưng phải nhìn nhận đó là lần đầu tiên ký giả, phóng viên được đào tạo theo phương pháp tân tiến do anh Linh và một số cộng sự viên mang về từ nước ngoài. Trước kia, người ta làm báo theo cái kiểu VN “nghề học nghề”, anh nào “có khiếu” hay có kiến thức thì viết lách gọn ghẽ, anh nào tối dạ hơn vẫn có thể viết lách, viết lách theo kiểu tối dạ, với một mớ kiến thức chuyên nghiệp rất lơ mơ. Hy vọng “nghề dậy nghề ”, nhưng khi cái căn bản nó không vững, kinh nghiệm nhiều khi chỉ là cái hại.

Ðó là một tiến bộ đáng kể.

Ở một nước tân tiến, nghề gì cũng phải học, từ anh thợ sửa cống, ông thợ hớt tóc, bà bán cá, ông thợ hồ. Ở một nước chậm tiến, không cần học hỏi, không cần phương pháp, nếu anh thấy mình muốn nấu phở, nếu bà thấy mình có khiếu làm bánh cuốn Thanh trì, cứ khơi khơi hành nghề. Báo chí cũng vậy.

Một sớm một chiều, nếu muốn hành nghề, ông có thể trở thành ký giả. Chỉ cần biết đọc, biết viết. Ðúng hơn, chỉ cần biết đọc, còn viết, trong nhiều trường hợp xin phải xét lại.

Môi trường báo chí hỗn loạn, hỗn loạn như xã hội Viêt nam. Bên cạnh những nhà báo khả kính, có kiến thức cao, có lương tâm nghề nghiệp, coi làm báo như một sứ mạng cao quý, có những ông nếu nói một chữ cắn làm đôi không có thì cũng hơi quá, nhưng trình độ văn hoá rất đại khái, rất mơ hồ, rất tượng trưng, 9 bỏ làm mười, nhất là không có một gramme lương tâm nghề nghiệp, coi viết báo như một cơ hội để làm ăn với những người có quyền thế, doạ nạt, “bắt địa”, đâm thuê, chém mướn. Ðâm thuê, chém muớn bằng ngòi bút, cố nhiên, nhưng nó còn tệ hại hơn đâm thuê, chém muớn bằng dao búa. Bởi vì cái bệ rạc văn hóa nó tai hại và.. ..bệ rạc hơn cái bệ rạc xã hội.

(.. .. .. )

Cố nhiên, không phải tốt nghiệp một khoá huấn luyện báo chí, bạn trở thành một nhà báo đáng gọi là nhà báo, nhưng đó là điều kiện tối thiểu để để hành nghề, điều kiện tối cần để đưa báo chí VN ra khỏi tình trạng… tiểu công nghệ, hay nói cho đúng, tình trạng lạc hâu của một nước châm tiến. Nó cho bạn một gói hành lý tối cần, để nếu bạn có ý chí học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu không ngừng, bạn có thể, một ngày đẹp trời nào đó, trở thành một cây bút chuyên nghiệp, có thể trình làng một bài báo mà không thấy ngượng.

(.. .. .. )

Báo chí ở hải ngoại cũng đang sống một giai đoạn rất đáng bi quan trong cái bi quan chung của báo chí thế giới (người đọc càng ngày càng ít, cạnh tranh của TV, của Internet, thì giờ dành để lao động tốt, thì giờ còn lại dành cho những thú vui khác dễ dãi hơn là đọc, vì đọc, phải suy nghĩ, phải đôi chút cố gắng tinh thần.) Thời đại này không phải là thời đại của báo chí, sách vở.

Bên cạnh cái khó khăn chung, thêm một cái khó khăn riêng, rất An Nam. Ðó là cái thiếu chuyên nghiệp của nghề báo, của người làm báo. Cố nhiên không nên và không thể vơ đũa cả nắm. Báo chí hải ngoại có nhiều tờ rất chuyên nghiệp, có giá trị, đã đóng góp một cách tích cực và hữu hiệu cho việc xây dựng cộng đồng. Nó đã là cái gạch nối giữa người Việt di dân trong lúc lạ nước, lạ cái, bơ vơ trên đất lạ. Một cộng đồng không thể không có sinh hoạt văn hóa, cũng như một con người vô văn hoá chỉ như là một bộ xương biết đi. Trước những vị ấy, xin ngả mũ chào. Nhưng bên cạnh những nhà báo có ý thức và khả năng cũng xuất hiện không ít những người nhẩy vào làng báo với một kiến thức chuyên nghiệp rất, nói một cách lịch sự, rất hạn chế. Rất khả nghi. Tôi không nói đến những người làm báo để chửi bới, để nguyền rủa, để trả thù riêng, để thỏa mãn thú tính, để thỏa mãn nhu cầu háo danh, kể cả cái danh hão, hay để phá hoại theo chỉ thị, theo một chính sách đại qui mô của chính quyền độc tài. Những quái nhân đó, họ làm cái gì khác, họ không làm báo. Tôi không cảm thấy liên hệ xa gần đến cái nghề rất kỳ lạ đó. Không nên nói đến họ trong một bài nói về báo chí.

Tôi chỉ đề cập đến cái thiếu chuyên nghiệp khiến tình trạng báo chí trở nên xô bồ, hỗn tạp, bừa bộn, ngổn ngang, lôi thôi, luộm thuộm y chang một tiệm chạp phô Việt nam. Hãy vào một tiệm thực phẩm Mỹ, Pháp, Nhật, Ðại Hàn, Thụy Ðiển, sẽ thấy cái khác biệt nó đập vào mắt.

Ngưng trích Những bài viết về Nhân vật Nguyễn Ngọc Linh và các vị phóng viên Việt Nam Thông Tấn Xã trong Nguyệt san Hồn Việt Số 325.

Ðôi lời bàn loạn của Công Tử Hà Ðông.

Khi Nhà Thơ VC Tố Hữu làm Thơ đại ý nói: “Khi chưa có Các Mác, Sít-ta-lin, nhân loại chửa thành Người. Sau khi có Các Mác, Sịt-ta-lin, và chủ nghĩa cộng sản, nhân loại mới thành Người” là hắn nói láo. Nhưng khi các ông Phóng Viên Việt Tấn Xã viết, đại ý:“Trước khi có ông Nguyễn Ngọc Linh và các ông Phóng Viên Việt Tấn Xã tài tuấn, làng báo Sài Gòn không ra cái thể thống gì cả, chỉ sau khi có ông NN Linh và các ông Phóng Viên VTX, làng báo Sài Gòn trước năm 1975 mới có bộ mặt đáng gọi là báo chí,” là các ông viết đúng.

Ðúng không còn gì có thể đúng hơn. Tôi là một trong số những anh ký giả Sài Gòn có những đặc tính được các ông Phóng viên VTX kể: “ngu dzốt, vô học, một chữ cắn làm đôi không biết, không có lương tâm, viết bậy, chuyên làm “săng-ta” tức dùng bài báo làm tiền, dọa bới móc đời tư hay kể việc làm vi phạm luật của người ta để người ta phải chi tiền, dùng ngòi bút “đâm thuê, chém mướn..v..v..” Mình dzốt người ta bảo mình dzốt là đúng thôi. Cãi hay chạy tội ký gì. Bọn ký giả Sài Gòn những năm từ 1954 đến 1965 hơn ai hết biết rõ tình trạng ngu dzốt của bọn ký giả Sài Gòn. Nhưng mình dzốt mà bị người ta chỉ mặt chửi: “Chúng mày là những thằng ngu dzốt.. Chúng mày là những thằng ký giả làm bẩn nền báo chí Quốc Gia VNCH,” thằng ký giả ngu dzốt nào còn chút liêm sỉ cũng thấy tủi thân. Vậy nên mới có bài Viết ở Rừng Phong này.

Tôi kể chuyện làm ký giả nhà báo của chính tôi. Năm 1952 anh Lê Minh Hoàng Thái Sơn, một trong những người kháng chiến chống Pháp từ khu Việt Minh về thành, tác giả những tiểu thuyết ăn khách một thời là Bên Hào Vạn Lý, Ðoàn Ó Biển, anh lấy bà chị họ của tôi nên tôi được quen anh. Anh bảo tôi:

“Tao gặp Thanh Sanh báo Ánh Sáng. Lúy nói Ánh Sáng cần một ri-pọt-tưa. Mày đến gặp Lúy xem. Nói tao giới thiệu.”

Lúc 9 giờ sáng tôi đến toà soạn nhật báo Ánh Sáng, trong một nhà in chủ nhân là người Pháp, ở đường Bonard, gần bên Restaurant Kim Hoa. Anh Thanh Sanh đưa tôi dịch một đoạn phóng sự chiến trường ở Bắc Việt cắt ra từ một tờ báo Pháp. Anh coi sơ bài dịch và nhận tôi vào làm việc ngay. Lương mở đầu – gọi theo tiếng Pháp là Lương Débutante – 1.500 đồng một tháng. Tôi về nhà nói với thầy mẹ tôi là con đi làm báo, ông thân tôi ngạc nhiên:

“Mày mà đi làm báo?”

Ông thân tôi có thành kiến “Người viết báo, người làm báo” phải là những người có học như ông Nguyễn Văn Vĩnh, ông Phạm Quỳnh, ông Nhất Linh. Còn tôi, anh con ông, ông biết tôi ngu dzốt đến là chừng náo. Trên cõi đời này không ai biết tôi ngu dzốt bằng ông bố tôi.

Lẽ ra khi thấy ông thân tôi ngạc nhiên như thế, tôi phải nói:

“Bố ơi.. Con làm báo đây là làm phóng viên nhà báo, loại phóng viên chuyên đi săn tin xe cán chó. Con có làm báo bằng cách viết báo đâu.’

Khi ấy tôi không thể nói với ông bố tôi như thế vì khi ấy tôi có biết quái gì về công việc làm phóng viên nhà báo đâu. Chỉ vào nghề rôi tôi mới biết công việc phóng viên nhà báo của tôi những năm tôi mới vào nghề là việc mà các ông phóng viên gọi là việc đi săn tin xe cán chó. Bởi vì những năm từ 1950 đến năm 1960 tình hình xã hội Sài Gòn và có thể nói là toàn cõi Quốc Gia VNCH gần như hoàn toàn an ninh. Sau năm 1954 đất nước không có chiến tranh, xã hội lại càng an ninh. Cả năm không có một vụ cướp của, giết người. Một sáng đầu năm 1952 chàng phóng viên trẻ tuổi tài không cao của nhật báo Ánh Sáng là tôi được tin có tai nạn xe ô-tô-buýt ở đường Gia Long. Từ toà báo Ánh Sáng tôi đi bộ đến chỗ xẩy ra tai nạn không quá 2 phút. Một xe búyt từ Tân Ðịnh chạy lên trên đường – duờng như năm 1952 tên đường là Charles De Gaule hay đường Général DeLattre De Tassigny – chắc vì tránh người đi xe đạp vượt ngã tư nên xe đâm vào cổng Dinh Gia Long. Khi tôi đến nơi chiếc xe không người còn đó. Tôi đang ghi số xe thì nghe tiếng người hỏi:

“Báo nào thế?”

Người hỏi là một thanh niên trạc tuổi tôi – 20 tuổi – anh là Nguyễn Ngọc Tú, người những năm 1970 là Ngọc Thứ Lang, dịch giả tiểu thuyết The Godfather của Mario Puzo ra truyện Bố Già. Ðây là lần thứ nhất tôi gặp Tú. Chúng tôi thành đôi bạn khá thân. Ngày Tú qua đời ở Trại Tù Khổ Sai Phú Khánh, khoảng năm 1978, tôi nằm phơi rốn trong Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu.

Năm 1952 ông Nguyễn Văn Tâm làm Thủ Tướng Chính phủ. Thủ Tướng bay lên Ðàlạt chủ toạ Lễ Mãn Khoá Trường Huấn Luyện Sĩ Quan. Có 3 ký giả của ba nhật báo Sài Gòn được cho đi theo. Tôi, phóng viên báo Aùnh Sáng, là một trong số ba người. Sáng mai đi, buổi chiều tôi chạy đi muợn bạn tôi bộ com-lê vét-tông, mượn ca-vát và nhờ bạn dậy cách thắt nút ca-vát. Ðấy là lần thứ nhất tôi đến thành phố Ðàlạt Mộng Mơ Hồ Than Thở. Ðến bằng phi cơ tháp tùng Thủ Tướng. Xong Lễ Bế Mạc, Thủ Tướng và phái đoàn về Khách Sạn Palace ăn trưa. Bàn ăn dài, Thủ Tuớng và những vi VIP ngồi ở giưã, tôi – chàng phóng viên báo Ánh Sáng, nguời khách trẻ nhất, ngồi ở mút chỉ cuối bàn, hay đầu bàn cũng rưá, chỗ ngồi dành cho thực khách bét nhất. Cơm Tây. Người ta đẩy cái xe rượu đến mời rượu, tôi ngớ ngẩn không biết nên lấy thứ rượu gì. Năm ấy tôi chưa biết thế nào là apéritif, digestif.

Ngày tháng trôi qua. Những nhật báo Sài Gòn từ năm 1950 đến năm 1960 không sống bằng tin thời sự mà sống bằng tiểu thuyết. Người mua báo đọc tin thì ít mà người mua báo để đọc tiểu thuyết đăng nơi trang trong thì nhiều. Chỉ cần có một truyện dài hay, hấp dẫn, tờ nhật báo có thể sống nhờ có người mua. Ðó là trường hợp những truyện phơi-ơ-tông “Cô Bạch Mai” trên nhật báo Thần Chung do chính ông chủ nhiệm Nguyễn Kỳ Nam viết, truyện “Hồng và Cúc, Ngày Về, Sau Dẫy Nhà Lầu” của tác giả Ngọc Sơn trên nhật báo Tiếng Chuông, truyện “Bên Dòng Sông Trẹm” của Dương Hà trên nhật báo Sàigònmới. Ða số người đọc tiểu thuyết đăng báo trong những năm này là phụ nữ.

Vì xã hội an ninh, nhật báo không có chuyện gọi là “chuyện giật gân, chuyện săng-sa-son-nen” để đăng. Tin không có, phóng sự lại càng không có. Cả năm mới có một vụ thời sự xẩy ra để những chàng phóng viên ngu dzốt vồ lấy bịa chuyện, thêm mắm, thêm muối làm thành những phóng sự biạ 80%, như vụ Bà Chủ Tiêm Giày Nam Việt đường Lê Tháng Tôn ngoại tình, giết ông chồng, vụ Vũ nữ Cẩm Nhung bị tạt át-xít vì ghen, Phóng sự Khỉ Cà Mâu – Khỉ Rừng lấy người, sinh con – trên nhật báo Sàigònmới. Ðáng kể nhất và đặc biệt nhất là vụ “Em Khuy Nút Thị Gần mất tích.” Vụ này nói lên rõ nhất tình trạng Ðói Tin và cái tật Bịa Chuyện của đám ký giả Sài Gòn.

Chuyện xẩy ra vào khoảng năm 1960, 1961. Chiến tranh tàn phá những làng quê. Những cô gái quê dễ trở thành những nạn nhân của chiến tranh. Cha mẹ nhiều cô lo cho con gái lên Sài Gòn sống cho an ninh. Những cô này không thể trở thành những nữ thư ký làm việc văn phòng. Cái nghề các cô dễ học, dễ làm nhất là nghề thợ may. Những nhà dậy May mở ra. Nhiều nhà có chỗ cho các cô ở trọ. Cô Thị Gần trạc 20 tuổi là một cô gái như thế. Cô học may và ở ngay trong một nhà dậy May. Một hôm cô đi khỏi nhà và cô không trở về. Chủ nhà không biết cô đi đâu, và chắc là chủ nhà không báo cho cảnh sát biết chuyện cô đi không trở về. Những cô gái chưa chồng bỏ nhà đi ít lâu mang cái bụng chửa trở về là chuyện thường. Ông Chủ Nhà Dậy May chắc thấy ông không có trách nhiệm gì trong vụ cô học may đi mà không trở về. Nhưng người nhà cô Thị Gần từ dưới tỉnh đến Nhà Dậy May thăm cô không được gặp cô, chủ nhà trả lời ú ớ, thì không cho việc cô mất tích là chuyện thường. Họ đi cớ cảnh sát.

Chuyện các cô gái mất tích dù có đi trình báo cảnh sát cũng là chuyện thường. Như đã viết: 10 cô mất tích thì 10 cô ít tháng sau trở về với cái bụng chửa. Nhưng đùng một cái, người ta tìm thấy ở bãi biển giữa Vũng Tầu và Long Hải xác một thiếu nữ bị vùi trong cát. Xác đã nát nhưng cảnh sát vẫn biết đó là xác của một thiếu nữ bị giết. Không biết ông cảnh sát thông minh nào nẩy ra ý nghĩ: “Phải chăng đây là xác cô thợ may Thị Gần mất tích?”

Ý nghi ngờ ấy được “phuýt” ra, mấy anh phóng viên nhà báo đói tin vồ ngay lấy. “Ðúng Thị Gần dzồi. Còn ai vào đây nữa.” Các anh làm ra to chuyện, những cái tít giật gân được tung ra trên trang nhất các báo:

“Thị Gần bị giết. Ai giết Thị Gần? Tại sao Thị Gần bị giết..?” Phóng sự hấp dzẫn quá. Mấy phóng viên tha hồ phóng bút và phóng phét. Ông chủ Nhà Dậy May bị gán cho tội dzụ dzỗ rồi hiếp Thị Gần, Thị Gần có chửa, anh chủ bất lương giết cô, đem xác cô ra vùi ở bãi biển Vũng Tầu. Có phóng viên còn tả cái xe ô tô sơn đen nửa đêm đến mang xác nạn nhân đi. Bà vợ ông chủ Nhà Dậy May bị tố là đồng loã giết người với ông chồng. Gần như ai đọc cũng tin, cũng thấy Ông Chủ Nhà Dậy May là thủ phạm giết cô Thợ May Thị Gần.

Cuộc điều tra tiến hành, phóng viên các báo đua nhau bịa tin. Anh nào bịa nhiều nhất là có bài phóng sự hay nhất. Rồi cũng đùng một cái, Vụ Thị Gần Bị Giết sì hơi như cái bong bóng thủng. Thị Gần còn sống nhăn. Cảnh sát bắt được Thị Gần ở bên kia Cầu Hàng vùng Tân Thuận.

Nguyên nhân: Năm ấy nghề Mãi Dâm bị cấm ngặt. Ðúng thủ tục “Ðạo cao một thước, Ma cao một trượng.” Bị cấm hành nghề trong thành phố, những người khai thác Mãi Dâm đưa Mãi Dâm ra vùng ven đô. Một số nhà được dựng lên ở giữa cánh đồng bên kia cầu Tân Thuận. Nhà vách nứa, lợp tôn, giường cũng là giường tre, không ở ngay bên con đường xe ô tô chạy ven sông mà ở trong đồng cách đường xe chừng hai, ba trăm thước. Các em sáng đến đó, tối về. Có sự tính toán rất tinh tế và khoa học ứng dzụng là những căn nhà rẻ tiền đó được dựng lên ở giữa đồng, giữa hai quận nên không quận nào sốt sắng nhận thuộc quận mình. Khi đến bắt, cảnh sát quận chỉ có thể cho đến 1 hay 2 xe cảnh sát với nhiều nhất là 10 cảnh sát viên. Xe Zeep Cảnh Sát sơn xanh trắng vừa ngừng ở ngoài đường là các em chạy tứ tán ra khắp đồng, làm sao cảnh sát bắt được.

Thế rồi – chuyện nghe kể lại – một chiều thứ bẩy hay chiều chủ nhật, một ông Bộ Trưởng trong Chính phủ – nghe đồn là ông Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Lâm Lễ Trinh – ngồi ô-tô đi ngang. Mấy em trong khu nhà vẫy gọi:

“Dzô đây, anh ơi..!”

Ông Bộ Trưởng hỏi. Nhân viên của ông thưa đó là mấy em gái điếm. Ông Bộ Trưởng hỏi:

“Sao không bắt? Cảnh sát đâu? Sao không dẹp khu này? ” Thưa:

“Không dẹp được, vì xe cảnh sát vừa tới là trong ấy họ chạy hết ra đồng.”

Chính quyền bèn mở một cuộc ruồng bắt lớn, phối hợp giữa cảnh sát và quân đội. Khu nhà Mãi Dâm bị bao vây bốn mặt. Tất cả các em chạy ra đồng bị bắt hết. Nghe nói có em chết đuối vì nhẩy xuống sông bơi sang bờ Sài Gòn. Em Thị Gần bị bắt trong vụ đó. Em bỏ Nhà Dậy May em đi làm điếm. Không biết em có biết trong mấy tháng tên em xuất hiện mỗi ngày trên tất cả các tờ báo Sài Gòn hay không!

o O o

Tôi kể chuyện cũ không phải để chạy tội mà để thưa rằng: Không phải bọn làm báo ngu dzốt chúng tôi làm bẩn báo chí Sài Gòn, viết rõ là làng báo Sài Gòn trước năm 1965 là năm có những ông phóng viên Việt Tấn Xã “đem một luồng sinh khí mới vào làng báo Sài Gòn.”

Bọn ký giả ngu dốt chúng tôi là sản phẩm của xã hội. Chúng tôi không phải là nguyên nhân mà là kết quả. Xin quí ông xét cho: dân tộc chúng tôi 20 triệu người thì có đến 19 triệu 900 người chưa một lần dùng máy tô-lô-phôn, chưa một lần lên thang máy, chưa một lần đi máy bay, chưa biết cái phi-dzi-đe là cái gì, 20 triệu người thì có đến 19 triệu 900 người không học đến trung học, 20 triệu người thì có đến 19 triệu 900 người chưa một lần đọc báo. Với một dân tộc như thế các nhật báo nước tôi làm sao khá được như các ông muốn. Vì dân tộc chúng tôi như thế nên những thằng ngu dzốt một chữ cắn đôi không biết như chúng tôi mới làm phóng viên nhà báo được. Thảm thiết chừng bao. Người ta chửi mình ngu dzốt, mình phải tự nhận mình ngu dzốt, mình phải kể dân tộc mình chậm tiến, thằng dân Việt có cynique đến mấy cũng thấy tủi thân.

Các ông viết từ năm 1965, khi có các ông, những ông Phóng Viên Việt Tấn Xã tài tuấn, có học, có nghiệp vụ, có lương tâm, yêu nghề, bộ mặt làng báo Sài Gòn mới ra hồn, mới sạch sẽ. Theo nhận xét ngu si của tôi thì nhật báo Sài Gòn từ năm 1965 đến năm 1975 chẳng có cái gì khác với nhật báo Sài Gòn từ năm 1955 đến năm 1965. Nhật báo Sài Gòn những năm 1970 nhiều tờ vẫn sống bằng tiểu thuyết phơi-ơ- tông: Thiên Long Bát Bộ, Lộc Ðỉnh Ký, vẫn có những phóng sự bịa 100% như “Con Ma Vú Dài” trên nhật báo Hoà Bình y hệt phóng sự “Khỉ Cà Mâu” trên nhật báo Sàigonmới năm xưa.

Chuyện Báo Bổ Sài Gòn và các ông Phóng Viên Việt Tấn Xã còn dài, như những chuyện các ông viết: Làng báo Sài Gòn ai muốn dzô cũng được, làm báo dễ ợt, dễ như việc mở tiệm bánh cuốn Thanh Trì, chuyện bọn ký giả Sài Gòn trước năm 1965 là bọn chuyên dùng ngòi bút làm cái việc “đâm thuê, chém mướn..v..v..”

Bài đã đủ dài. Tôi tạm ngừng ở đây.

Advertisements

3 Responses

  1. chuyện nghe thảm thiết quá Bác Hòang ơi, ngồi nơi xứ người, ôn lại chuyện xứ ta, đọc xong chẳng biết nên khóc hay nên cười, hay là bắt chước người xưa khóc ba tiếng rồi cười ba tiếng…

  2. Công tử Hà Đông có trí nhớ khá tốt đã cho chiếu phim dĩ vãng hấp dẫn quá! “Biến cố” Nguyễn thị Gần xảy ra đã choán trang nhất các nhật báo Sài Gòn gần 2 tháng cho tới khi cô Gần nằm trong danh sách Lost & found thì các phóng sự cô thợ may bị chủ hiếp và tiêu diệt mới tẽn tò chấm dứt. Tôi nhớ 2 câu thơ của tiết mục “Đàn ngang cung”: Rằng là cô Nguyễn thị Gần, bị xừ Toàn Mỹ ép mần trò ma (Hà Thượng Nhân?). Vậy là ông chủ nhà may Toàn Mỹ mang tiếng oan do đám ký giả chuyên nghề phóng bút, chẳng thấy ai đăng lời xin lỗi! Toàn Mỹ được cái may là không phải trả tiền quảng cáo lớp học may! Chuyện xảy ra chung quanh phóng sự Đi Nhà Bè ăn chè giữa Phạm Duy và Khánh Ngọc (vết thương dĩ vãng của cố nhạc sĩ Phạm đình Chương). HHT nhắc đến vụ sát chồng vì tình của bà chủ tiệm giày Nam Việt có thật nhưng cũng thêm quá nhiều gia vị, dầu sao cũng mua vui cho độc giả được vài trống canh. Chuyện nầy nhân vật chính hiện sống ở Luân Đôn nhờ ơn mưa móc của Cách mạng thả tù búa xua 75. Nhân vật phụ và là tác nhân của vụ án là Chủ hãng tàu vận tải đường biển Trường Xuân mà tôi có dịp quá giang ra Bắc đi tù nay là chủ nhiều khách sạn ở Nữu Ước là ông Trần Đình Trường, lúc đó làm công nhân cho tiệm giày Nam Việt (sau khi lao Molotova qua cầu Hiền Lương 1956 xin tỵ nạn một thời gian). Nhờ mã đẹp trai nên đã được bà chủ chiếu cố. Cũng nhân bài viết của HHT nói về sự vô trách nhiệm của người cầm bút thì sau khi ông Trần Đình Trường làm 2 vụ hiến tặng ngoạn mục làm rạng danh người Việt (tặng trực thăng cho hội Hồng thập tự và góp quĩ $2 triệu cho nạn nhân 911) thì báo Việt ngữ khắp thế giới ca tụng ông Trường là người vượt biên tay không tạo nên sự nghiệp trong thời gian ngắn kỷ lục! Việc ca tụng ông Trường làm từ thiện thì quá đúng cũng như việc sau nầy các phái đoàn cộng đồng người Việt về Nữu Ước hội họp v v.., ông đều ưu ái dành phòng khách sạn free nhưng lại bịa chuyện vượt biên tay không tạo nên sự nghiệp thì thần tiên quá độ. Ông Trường ra đi cuối 30/4 bằng tàu riêng của ông và như thế ông không thể để quên tài sản lại cho CS trừ đoàn tàu Trường Xuân cồng kềnh quá không mang theo được để tôi được quá giang ra Bắc sau đó! Phải kể tên ông Trường vào danh sách vẻ vang dân Viêt để làm gương vì ngoài mông Trường chưa thấy ai gốc Việt làm rạng danh giống nòi như ông dù triệu phú Việt bây giờ không hiếm, chỉ thấy rặt Nguyễn Bảo Hoàng, Nancy Bùi, Phạm Duy, Nguyễn Cao Kỳ và gia đình “Nexus Nguyễn” đã làm rạng danh dân Việt cách khác!

    • Thật ra,hình như có vài sai lầm ở đây về ông TĐT.
      Ông TĐT.bơi qua sông Bến Hải phiá thượng nguồn và đã thoát được
      vào Nam khoảng năm 1957 (Hội nghị Genève cho di cư 1954).
      Vào Sài Gòn,ông ta được một linh mục đồng hương cho làm tài xế
      trong một trụ sở tôn giáo.Một thời gian sau,ông ta vay tiền để buôn
      bán nhỏ như mền,chiếu,gối,mùng v.v.Nhưng ông TĐT.phất lên nhờ
      cung cấp aó quần cho quân đội VNCH.do Mỹ bỏ tiền ra,chứ không
      hề là công nhân hãng giày Nam Việt.Chính nhờ giàu lên mau chóng
      mà ông ta nhảy vào kinh doanh tàu Viễn Dương và nếu không có
      ngày 30/4 thì không chừng ông ta đã lập hãng máy bay tư nhân để cạnh tranh với VN.Airlines cũng nên !
      Vì mã ngoài của TĐT.rất đẹp trai nên được nhiều phụ nữ mê,trong
      đó có bà TTLý giết chồng theo cáo trạng,do đó TĐT.cũng bị ra toà,
      song cuối cùng ông TĐT.được minh oan là vô tội !
      Nói ông TĐT.”tay trắng làm nên” là ứng vào lúc ông ta vượt biên từ
      Bắc vào Nam thì đúng hơn chăng ?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: