• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

ĐÂM THUÊ, CHÉM MƯỚN

Trang nhất Nhật Báo SAIGONMỚI tìm được trên Internet nhưng hình quá nhỏ, chữ in mờ, không biết đúng ngày tháng,  thấy báo có 2 tin thời sự: 1 – Tướng Nguyễn Viết Thanh, Tư Lệnh Quân Ðoàn 4 kiêm Vùng 4 Chiến Thuật tử nạn phi cơ. 2 – Sinh Viên Học Sinh-Cảnh Sát Dã Chiến quần thảo suốt ngày 2 – khắp đường phố Saigon. 

o O o

Bánh Xe Tị Nạn khấp khểnh, muộn màng đưa vợ chồng tôi đến Virginia  Xứ Tình Nhân – Virginia is for Lovers – vào một ngày cuối Tháng Chín năm 1994. Hôm nay, một ngày  Tháng Muời năm 2010, chúng tôi đã sống ở Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích 16 mùa lá vàng, tuyết trắng.

Từ ngày sang Mỹ tôi đã viết khá nhiều về cuộc đời tôi, về những chuyện riêng tư của tôi, về những người tôi đề cao là “những nữ độc giả ái mộ thơm như múi mít”, và về  việc làm báo, viết tiểu thuyết của tôi. Sáng nay tôi viết một bài này nữa về những đề tài tôi vừa kề.

60 năm cuộc đời. Nhìn lại dòng thời gian, tôi thấy tôi – cho đến hôm nay – là người có nhiều may mắn trong đời. Tương đối thôi, tất nhiên. Cuộc đời có nhiều người may mắn hơn tôi, nếu so với những người tôi gọi là “đẻ bọc điều” ấy những may mắn của tôi không là cái gì cả. Nhưng cuộc đời còn có nhiều người không may, so với những người không may ấy, tôi là người may mắn.

Tôi muốn viết truyện từ thưở nhỏ, từ năm tôi lên 10 tuổi. Tôi đã kể chuyện này. Vì sự vào đề của bài Viết ở Rừng Phong hôm nay, xin cho tôi kể lại. Năm tôi 10 tuổi là năm 1940. Ðúng ra năm 1940 tôi mới 8 tuổi, tôi ra đời năm 1933 – Quý Dậu. Quý Dậu nhưng là Dậu Gà Què chuyên ăn quẩn cối xay. Tôi từng có bài Thơ Vịnh cái tuổi Quý Dậu của tôi:

Gà Què ăn quẩn cối xay
Ðùi teo, cật lép lại hay động tình.
Ðêm không chịu ngủ một mình,
Ngày thì gạ mái cứ inh cả nhà…

Không biết những vị tuổi Quý Dậu khác cuộc đời thể nào, tôi thấy cái tuổi Quý Dậu của tôi có cách kiếm ăn rất giống cách kiếm ăn của anh gà trống. Tôi cẩn thận viết rõ “cách kiếm ăn của anh gà trống,’ tôi không viết giống “cuộc đời ái tình của anh gà trống.” Chẳng cần phải là cụ già chín bó, em nhỏ lên ba cũng biết một anh gà trống có nhiều em gà mái. Trước năm 1946 nhà thầy mẹ tôi ở thị xã Hà Ðông có vườn, mẹ tôi nuôi gà. Mới 10 tuổi tôi đã thấy cái tình trạng bất công xã hội là trong một đàn gà nếu có 2 anh gà trống, 10 em gà mái thì cả 10 em gà mái đều theo anh gà trống mạnh nhất, không một em nào theo anh gà trống thứ hai. Anh gà trống thứ hai tất nhiên là yếu hơn anh gà trống thứ nhất, anh lủi thủi kiếm ăn một mình trong vườn; anh mà lảng vảng đến gần các em gà mái là anh bị anh gà trống đa thê đàn anh khoẻ hơn, to hơn, hùng dũng hơn, đánh đuổi, anh chỉ có nước cúp đuôi lủi ra góc vườn khác. Không một em gà mái nào theo anh cả. Năm 10 tuổi ở Hà Ðông khi nhìn đàn gà của nhà tôi trong vườn nhà, tôi đã thấy tình trạng bất công và phi lý ấy. Tôi thương anh gà trống bị đám gà mái bỏ rơi, bị anh gà trống khoẻ hơn đàn áp, dành hết mọi quyền lợi và lạc thú. Cùng là gà trống, một anh có cả chục em gà mái, một anh không có em nào.

Góc vườn có chuồng gà. Chạng vạng tối gà lên chuồng, nhưng anh gà trống yếu không theo đàn gà mái vào chuồng được, anh bị anh gà trống chủ đàn không cho anh vào chuồng, anh phả co ro ngủ đêm  ở gậm chuồng. Một tối tôi chờ cho cộng đồng gà vào chuồng hết,  tôi bắt một em gà mái ở trong chuồng thả ra vuờn. Anh gà trống yếu lập tức đuổi theo em gà mái này. Em gà mái kêu kéc kéc, anh gà trống chủ em biết em bị hiếp nhưng vì chốt cửa chuồng bị gài, anh không ra được, anh kêu quang quác trong chuồng.  

Tôi sống 4 năm trong cùng một phòng tù với Trí Siêu Lê Mạnh Thát ở Nhà Tù Chí Hoà. Năm 1989 đến Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, tôi lại ở chung một phòng với Trí Siêu. Một sáng chủ nhật, ngồi uống trà với Trí Siêu trong phòng tù, nhìn qua song sắt ra vườn thấy đàn gà đi kiếm ăn qua vườn, tôi nói với Trí Siêu:

“Thầy thấy không? Một con gà trống mà có cả mười con gà mái đi theo. Tự nguyện theo, con gà trống nó không bắt em gà mái nào phải theo nó cả. Các em tự kiếm lấy mà ăn, nó có nuôi em nào đâu? Dzậy mà các em vẫn cứ theo nó. Giống cái phải theo giống đực. Tự nhiên là thế. Nói rằng đàn bà phải lụy đàn ông vì bọn đàn ông chiếm hết sản phẩm xã hội, đàn bà không theo đàn ông là không có ăn là nói láo.”

Tôi cứ ngồi gò lưng cặm cụi viết trong khoảng ba, bốn giờ là có một truyện ngắn. Sáng hôm sau đem truyện đến toà báo là chắc hơn bắp tôi có khoản tiền bài. Tôi như anh gà có bới là có ăn. Tôi không có số làm “áp-phe”, tức làm những việc trung gian, môi giới mua bán, xin một đặc quyền cho người khác để  lấy tiền hoa hồng. Tôi mà làm “áp-phe” là hỏng, không những chẳng được ăn chia mà còn bị mang tiếng. Sau vài lần làm “áp-phe” hỏng tôi ngưng hẳn, tôi chuyên chú vào việc viết truyện. Tôi an phận và vui với công việc tôi thích làm.

Tôi vừa đi ra ngoài chuyện tôi muốn kể: Năm tôi 10 tuổi, tôi đọc  tác phẩm Trường Ðời của Nhà Văn Lê Văn Trương, tác phẩm Giông Tố của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng. Tôi đọc và tôi mê mẩn. Tôi thấy hai ông như những Ông Trời Nhỏ, các ông tạo ra cái thế giới riêng của các ông, trong thế giới đó các ông làm chủ. Mới 10 tuổi tôi đã lờ mờ thấy chuyện ấy, và tôi lờ mờ thấy hai ông – Ông Lê Văn Trương, ông Vũ Trọng Phụng – là hai vị sáng tạo: Không có ông Lê Văn Trương đời tôi không có Trường Ðời, không có ông Vũ Trọng Phụng đời tôi không có Giông Tố. Năm 10 tuổi tôi muốm mai sau trưởng thành, tôi sẽ viết tiểu thuyết như ông Lê Văn Trương, như ông Vũ Trọng Phụng.

Viết như hai ông thôi, tôi không mong tôi viết hay như hai ông. Tôi may mắn hơn nhiều anh em ký giả cùng thời với tôi ở điểm tôi “được” vừa làm phóng viên nhà báo vừa viết tiểu thuyết. Nhiều người như Dương Hà, Ngọc Linh, Trọng Nguyên, Vũ Bình Thư chỉ viết tiểu thuyết phơi-ơ-tông mà không làm phóng viên, nhiều người như Dzoãn Bình, Mai Anh, Ðạm Phong chỉ làm phóng viên mà không viết tiểu thuyết.

Trước khi viết tiểu thuyết tôi có cái may mắn làm phóng viên nhà báo. Ðầu năm 1952 anh Lê Minh Hoàng Thái Sơn bảo tôi: “Tao gặp Thanh Sanh báo Ánh Sáng. Lúy nói Lúy cần một ri-pọt-tưa. Mày đến gặp Luý xem. Nói tao giới thiệu.”

Tôi đến toà soạn nhật báo Ánh Sáng gặp anh Thanh Sanh, chủ bút, tôi được anh nhận vào làm phóng viên. Vì người phóng viên của báo Ánh Sáng là anh Laurent Lân – anh Anh Lân Chủ Ban Kịch Nói Anh Lân Ðài Phát Thanh – ngưng làm cho báo Ánh Sáng để dành trọn thì giờ làm việc ở Ðài Phát Thanh nên tôi mới được vào toà báo thế chỗ anh. Ðó là cái may thứ nhất đưa tôi vào nghề làm báo. Năm 1953 tôi bỏ chân phóng viên Nhật báo Ánh Sáng để ra làm báo với anh Lê Minh. Những năm xưa việc xin giấy phép ra nhật báo rất khó. Làng báo Sài Gòn có cái trò người không phải là chủ báo mướn tên tờ báo của người khác để làm, việc này gọi là “mướn manchette: măng- sết.” Cô Anna Lê Trung Cang có tờ báo Tin Ðiển đang để không, Lê Minh đến xin cô cho anh làm tờ Tin Ðiển nhưng chỉ ra hàng tuần. Tôi bỏ báo Ánh Sáng để sang làm báo Tin Ðiển với Lê Minh. Tuần báo Tin Ðiển ra được 4 số thì chết vì không bán được. Bà vợ Lê Minh cầm cái hụi, hốt một lúc 4, 5 dây hụi lấy tiền cho ông chồng làm báo. Hết vốn. Vỡ hụi, Vợ chồng Lê Minh ôm con về Hà Nội trốn nợ, tôi ở lại Sài Gòn một mình. Chân phóng viên Ánh Sáng đã có người làm, tôi thất nghiệp trong khoảng nửa năm.

Sau Tháng Bẩy năm 1954 tôi ra khỏi quân đội. Năm ấy làng báo Sài Gòn có loại báo tiểu thuyết ly kỳ là những truyện dài ra từng số – một tờ giấy báo xếp lại thành 16 trang nhỏ, in một truyện dài nhiều kỳ, xin Nha Thông Tin kiểm duyệt từng kỳ, bầy bán ở những sạp báo. Một tờ nhật báo năm ấy giá 2 đồng, biết bao nhiêu công phu, bao nhiêu người làm, một tờ báo truyện 16 trang nhỏ như trang sách chỉ một người viết, cũng bán 2 đồng. Mà báo ttuyện có rất đông người mua đọc. Truyện ăn khách nhất là truyện “Bàn Tay Máu” của tác giả Phi Long: mỗi số phát hành 15.000 số, bán được 8.000 số riêng ở Sài Gòn. Mỗi số “Bàn Tay Máu” Phi Long được chi 4.000 đồng. Một tuần “Bàn Tay Máu” ra 2 số.

Anh Lê Minh Hoàng Thái Sơn từ Hà Nội trở vào Sài Gòn, xoay ra viết loại truyện báo bán cho Nhà Phát Hành Nam Cường, mỗi số Lê Minh được chi 1.000 đồng. Tôi kiếm ăn còm bằng cách viết loại báo truyện  cho nhà Xuất Bản Ban Mai ở đường Vassoigne bên chợ Tân Ðịnh. Mỗi số tôi được chi 300 đồng. Tôi viết hai truyện “Xác Ma Giết Người” và “Ðầu Người Trong Hang Máu.” Một tháng ra 4 số, tôi có 1.200 đồng.

Tôi đang sống lây lất với việc viết Truyện Ba Xu ấy thì một sáng bạn tôi Nguyễn Ngọc Tú – năm 1970 là Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già Godfather, bảo tôi:

“Tao gặp Bà Bút Trà ở Bộ Thông Tin. Bà ấy nói Sàigònmới cần phóng viên. Mày đến xem.

Ðó là những tháng cuối năm 1954, chiến tranh Ðông cDương chấm dứt, đất nước bị chia đôi, ông Ngô Ðình Diệm mới về làm Thủ Tướng. Chính phủ thứ nhất của Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm năm ấy có đại biểu của các giáo phái làm Bộ Trưởng. Ông Phạm Xuân Thái được Ðạo Cao Ðài đưa vào chính phủ, làm Bộ Trưởng Bộ Thông Tin. Bộ Trưởng Phạm Xuân Thái có hai ông văn sĩ Bắc Kỳ trẻ, mới toanh là ông Thế Phong, ông Huy Sơn làm thư ký riêng. Nguyễn Ngọc Tú không có chức vụ gì trong Bộ Thông Tin nhưng anh ra dzô Bộ gần như mỗi ngày. Bộ Thông Tin có một cố vấn người Mỹ. Tú hay vào nói chuyện với ông Cố Vấn Mỹ, tất nhiên là nói bằng tiếng Mỹ.

Nhờ Tú, tôi trở thành nhân viên toà soạn kiêm phóng viên nhật báo Sàigònmới. Mấy năm sau, khi đã thân với bà chủ, có lần tôi hỏi bà vì sao bà nhận tôi vào làm phóng viên, bà nói:

“Khi ấy có mấy anh đến, tôi có biết tài năng anh nào ra sao đâu. Tôi chọn anh vì tôi thấy anh ăn bận đàng hoàng.”

Thì ra thế. Tôi được làm nhân viên nhà báo Sàigònmới, tờ nhật báo một thời có nhiều độc giả nhất làng báo Sài Gòn, chỉ vì tôi ăn bận đàng hoàng: sơ-mi dài tay, cổ tay áo có khuy manchette, áo bỏ trong quần, đi giày có bí-tất, đầu tóc gọn ghẽ, không chải chuốt quá mà cũng không bê bối áo cụt tray bỏ ngoài quần, đi giép lẹp kẹp.

Năm 1955 tôi bỏ nhật báo Sàigònmới để đi làm thư ký Sở Mỹ USOM. Năm 1956 tôi bỏ USOM để chuyên viết tiểu thuyết cho nhật báo Ngôn Luận và tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong của ông Hồ Anh. Vì tuổi trẻ ngu ngốc và vì cái tật hờn mát, hay giỗi, giận mà không nói ra,  nhân có chuyện xích mích làm tôi tự ái, tôi ngưng ngang truyện tôi đang viết trên Ngôn Luận, ngưng luôn truyện viết trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong. Tôi làm nhân viên tòa soạn Tuần Báo Kịch Ảnh.  Ðang mỗi tháng kiếm 10, 15.000 đồng, tôi chỉ còn có lương Kịch Ảnh mỗi tháng 5.000 đồng. 

Tết năm ấy, năm 1957, ông bà nhạc tôi đi chơi Ðalạt bằng xe hơi, cho vợ chồng tôi đi theo. Tôi đi chơi Tết Ðàlạt mà lòng vừa buồn vừa lo. Tuần báo Kịch Ảnh làm xong Số Báo Tết là phẹc-mê bu-tích, tức tự đóng cửa vì lỗ hết vốn. Trở về Sài Gòn, tháng đầu năm, tôi không có việc làm, một đồng không có, lấy gì sống?

Tôi lo quá là lo. Trên đường về, xe chạy qua khu Hố Nai, nhìn thấy những nhà thờ hai bên đường, tôi thầm xin Ðức Mẹ Maria cho tôi việc làm, mỗi nhà thờ tôi đọc Ba Kinh Kính Mừng dâng Ðức Mẹ. Những nhà thờ bên đường nhiều đến nỗi tôi chưa thầm đọc hết Ba Kinh xe đã qua hai, ba nhà thờ mới. Mỗi nhà thờ tôi bấm một ngấn ngón tay, nguyện xong Ba Kinh, tôi bỏ đi một ngấn.

Sáng ngày Mồng Tám Tết, anh Ký giả Ang Ca chạy xe gắn máy ngừng lại  trước cửa nhà tôi, vẫn ngồi trên xe, anh nói vào nhà:

“Hoàng Hải Thủy.. Bà Bút Trà đăng báo mời toa đến tòa báo. Biết chưa?” 

Tôi chưa biết. Tôi có đọc báo bao giờ đâu mà biết. Năm 1957 tôi nghe nói nhật báo Sàigònmới nhờ sáng kiến tặng phụ bản bản đồ Việt Nam, rồi bản đồ Sài Gòn, in offset Bẩy Mầu máy in Ba Tầu Chợ Lớn, rồi phụ bản ảnh máy bay, các loại chim cò ..vv.. nên báo bán chạy, nhưng tôi chẳng trở lại tòa báo làm gì, chẳng bao giờ tôi có ý mong trở lại làm cho Sàigònmới.

Mười giờ sáng ngày Mùng Tám Tết, tôi trở lại tòa soạn nhật báo Sàigònmới. Toà báo đông người, cảnh hoạt động rộn rịp khác hẳn cảnh vắng lặng năm xưa. Ðúng là cảnh nhà ăn nên, làm ra. Bà Bút Trà bảo tôi:

“Biết anh có tài nhưng năm trước báo bán không khá, không đài thọ anh được, nên phải để anh đi. Nay báo bán khá rồi, chúng tôi mời anh về. Anh ra nói chuyện với em nó là Sáu Khiết. Nay chúng tôi để hai em Năm Thành, Sáu Khiết làm phụ chúng tôi.”

Tôi ra toà soạn chờ Sáu Khiết đến. Chuyện trong 10 phút là xong. Tôi trở lại làm nhân viên tòa soạn Sàigònmới. Làm việc ngay ngày hôm sau. Tôi ký “bông” lãnh nửa tháng lương – báo Sàigònmới trả lương nhân viên theo báo Pháp “Lãnh lương trước, làm việc sau” – Sáu Khiết ký chuẩn chi. Lương tháng 10.000 đồng. Tôi đưa bông cho anh Thủ Quỹ, lãnh ngay 5.000 đồng thơ thới về nhà.  

Tôi viết bài này vì mới đây tôi đọc trên Nguyệt san Hồn Việt, ấn hành ở Cali, những bài viết của các ông Phóng Viên Việt Nam Thông Tấn Xã của Quốc Gia VNCH trước năm 1975 viết về cá nhân ông Nguyễn Ngọc Linh, người từng một thời xưa làm Giám Ðốc Cơ Quan Việt Nam Thông Tấn Xã, về lớp phóng viên Việt Tấn Xã do ông NN Linh đào tạo và về tình trạng Làng Báo Sài Gòn trước ngày có sự xuất hiện của những ông Phóng viên Việt Tấn Xã. 

Vì các ông Phóng Viên VTX viết bọn ký giả nhà báo Sài Gòn những năm trước năm 1965 là bọn: “không có một gramme lương tâm nghề nghiệp, coi viết báo như một cơ hội để làm ăn với những người có quyền thế, doạ nạt, “bắt địa”, đâm thuê, chém mướn..” nên tôi viết bài thứ ba này.

Lời ông Phóng Viên VTX. Trích: “Khi mở khoá thi tuyển lựa học viên của Khóa Phóng Viên VTX bài thi ngoài hai bài dịch Anh và Pháp Ngữ là bài văn với đề tài “Tại sao anh/chị lại chọn nghề làm báo?” và cuối khóa học bài thi ra trường cũng là “Tại sao anh/ chị lại chọn nghề làm báo?”

CTHÐ bàn loạn: Theo tôi, câu hỏi đúng ra phải là: “Tại sao anh/chị lại chọn nghề phóng viên Việt Tấn Xã?” Vì Việt Nam Thông Tấn Xã không phải là “tờ báo.”  Làm VNTTX không phải là làm báo. Người phóng viên VTX được chính phủ trả lương như công chức. VNTTX là một tập tin của Nhà Nước, rõ hơn là bản tin của chính phủ đang cầm quyền. Nó là tập giấy dầy in ronéo một mặt, đăng toàn những tin có lợi cho chính phủ – xin phân biệt “chính phủ” và “Ðất nước.” Người phóng viên VTX không thể viết những bài đả kích chính sách của chính phủ, tố cáo những viên chức chính phủ tham nhũng, làm bậy. Bản tin VTX chỉ cung cấp cho những cơ quan chính phủ, những viên chức cao cấp, những nhà báo tư nhân. Nhân dân không ai đọc bản tin VTX. Trong 20 triệu người dân Quốc Gia VNCH trước năm 1975 có thể có đến 19 triệu 900.000 người chưa từng một lần đọc bản  tin VTX, chưa biết mặt mũi bản tin VTX ra sao.

Ông Phóng viên VTX viết. Trích:

“Một sớm một chiều, nếu muốn hành nghề, ông có thể trở thành ký giả. Chỉ cần biết đọc, biết viết. Ðúng hơn, chỉ cần biết đọc, còn viết, trong nhiều trường hợp xin phải xét lại.

“Môi trường báo chí hỗn loạn, hỗn loạn như xã hội Viêt nam. Bên cạnh những nhà báo khả kính, có kiến thức cao, có lương tâm nghề nghiệp, coi làm báo như một sứ mạng cao quý, có những ông nếu nói một chữ cắn làm đôi không có thì cũng hơi quá, nhưng trình độ văn hoá rất đại khái, rất mơ hồ, rất tượng trưng, 9 bỏ làm mười, nhất là không có một gramme lương tâm nghề nghiệp, coi viết báo như một cơ hội để làm ăn với những người có quyền thế, doạ nạt, “bắt địa”, đâm thuê, chém mướn. Ðâm thuê, chém muớn bằng ngòi bút, cố nhiên, nhưng nó còn tệ hại hơn đâm thuê, chém muớn bằng dao búa. Bởi vì cái bệ rạc văn hóa nó tai hại và.. ..bệ rạc hơn cái bệ rạc xã hội.”

Bàn loạn của CTHÐ: Thưa ông Phóng viên, bọn ký giả Sài Gòn trước năm 1975 không thằng nào có thể ”  làm ăn với những người có quyền thế, doạ nạt, bắt địa, đâm thuê, chém muớn.” Chắc vì ông không phải là ký giả Sài Gòn nên ông không biết bọn ký giả Sài Gòn không thể doạ nạt được ai. Bọn ký giả Sài Gòn không thể làm cái việc ” đâm thuê, chém mướn”. Vì:

“Tờ báo là của chủ báo, tờ báo có chủ báo, những ông chủ báo biết bảo vệ tờ báo và thân danh, quyền lợi của các ông, bọn phóng viên không thể qua mặt được chủ báo. Anh ký giả-phóng viên làm công không thể dùng tờ báo của chủ báo để doạ nạt người thiên hạ, để làm tiền bỏ túi, để bắt người thiên hạ phải nộp tiền cho mình. Bọn ký giả-phóng viên Sài Gòn ngu dzốt lại càng không thể dùng tờ báo của chủ báo để “đâm thuê, chém mướn.”

Kính thưa ông Phóng viên, ông viết:

“Bên cạnh những nhà báo khả kính, có kiến thức cao, có lương tâm nghề nghiệp, coi làm báo như một sứ mạng cao quý, có những ông nếu nói một chữ cắn làm đôi không có thì cũng hơi quá…”

Ông lại viết:

“Báo chí ở hải ngoại cũng đang sống một giai đoạn rất đáng bi quan trong cái bi quan chung của báo chí thế giới ( người đọc càng ngày càng ít, cạnh tranh của TV, của Internet, ( .. .. .. ) Thời đại này không phải là thời đại của báo chí, sách vở (.. .. .. )

Cố nhiên không nên và không thể vơ đũa cả nắm. Báo chí hải ngoại có nhiều tờ rất chuyên nghiệp, có giá trị, đã đóng góp một cách tích cực và hữu hiệu cho việc xây dựng cộng đồng. Nó đã là cái gạch nối giữa người Việt di dân trong lúc lạ nước, lạ cái, bơ vơ trên đất lạ.”

Thưa ông Phóng viên VTX, ông “bốc” những người làm báo Việt Nam hết lời: “… những nhà báo khả kính, có kiến thức cao, có lương tâm nghề nghiệp, coi làm báo như một sứ mạng cao quý..” nhưng lối viết nước đôi “ca, chửi” của ông làm người đọc thấy cái bất lương, cái gian xảo của ông, ông “bốc bọn làm báo để ông chửi bọn làm báo.”  Ông không thể thẳng cánh, thẳng thừng chửi bọn làm báo như ông muốn. Về báo chí Việt ở hải ngoại ông cũng bốc tới bến:

“Báo chí hải ngoại có nhiều tờ rất chuyên nghiệp, có giá trị, đã đóng góp một cách tích cực và hữu hiệu cho việc xây dựng cộng đồng. Nó đã là cái gạch nối giữa người Việt di dân trong lúc lạ nước, lạ cái, bơ vơ trên đất lạ.”

Cái gọi là “Báo chí hải ngoại” nó tốt, nó đẹp như ông ca nó như dzậy là nó nhất, nó làm trọn phận sự của nó dzồi? Với một nền “báo chí hải ngoại”  đường hoàng như thế, ông để ý làm quái gì đến  tình trạng như ông kể:

“Nhưng bên cạnh những nhà báo có ý thức và khả năng cũng xuất hiện không ít những người nhẩy vào làng báo với một kiến thức chuyên nghiệp rất, nói một cách lịch sự, rất hạn chế. Rất khả nghi. Tôi không nói đến những người làm báo để chửi bới, để nguyền rủa, để trả thù riêng, để thỏa mãn thú tính…”

Thưa ông Phóng viên VTX, ông viết về bọn làm báo người Việt như thế có quá nặng lời không ông? Vài tên người Việt ở Mỹ làm loại báo mà ngay cả những người Việt làm báo tử tế cũng phải gọi là  “Báo chợ,” bọn ra báo để chửi nhau về đời tư, bới móc những người can những tội quỵt nợ, lấy vợ, cướp chồng người, giả danh có bằng cấp để lường gạt..vv..vv..” có đáng gì mà ông gọi đó là “bọn người có thú tính? ”

Ðã ba bài viết, tôi không muốn viết nhiều nữa về chuyện này. Nhưng chắc tôi sẽ phải viết bài thứ tư về chuyện “Làm tiền thiên hạ” của một số ký giả Sài Gòn trước năm 1975. Ngu dzốt, vô học nhưng chẳng gì tôi cũng là tên làm phóng viên nhà báo Sài Gòn từ năm 1952, tuy làm báo nhà nghề lâu như thế nhưng tôi cũng chẳng biết gì nhiều về làng báo Sài Gòn. Tôi vẫn phải viết để kể với quí vị người đọc những gì tôi biết về những chuyện:

“Có thật ở Sài Gòn những năm trước 1965 bất cứ ai muốn làm báo là chỉ việc nhẩy vô làm báo?”

“Bọn ký giả Sài Gòn trước năm 1975 “làm tiền thiên hạ” – bắt người ta phải nộp tiền – có dzễ không?”

Advertisements

3 Responses

  1. Tướng Thanh tử nạn đầu tháng 5 năm 1970. Dựa vào sự kiện đó, và từ những phần còn lại của ngày tháng trên tờ báo, cùng với sự hỗ trợ của cháu tôi (bằng chương trình máy tính để xác định thứ mấy trong tuần dựa vào một ngày cho trước), thì ngày tháng trên tờ báo là thứ hai, ngày 4 tháng 5 năm 1970

    • 8gio toi Thu Ba. Xin bao voi qui vi la toi vua thay co su rac roi kho hieu ve cai hinh Saigonmoi nay. Nhat bao Saigonmoi bi chinh phu Nguyen Khanh – Do Mau dong cua Thang 4. 1964. Lam sao nam 1970 khi Tuong Nguyen Viet Thanh tu nan phi co, lai co tin dang tren cai to Saigonmoi nay???? Cai ten bao, va font chu cua bao, lem nhem, dung style Saigonmoi. Phai chang day la cai hinh bao Saigonmoi gia tao??? Toi se co bai viet ve chuyen nay. CTHD

  2. Ông phóng viên VTX nào đó viết bài bốc thơm mình thì được, vì ở cái đất hải ngoại thương ca nầy, ai muốn viết cái gì cũng được tự do viết. Tuy nhiên viết phê phán cả làng báo VNCH thì nên thận trọng và nhất là “nên tự trọng”. Đừng quên VTX là cơ quan nhà nước, ăn lương ngân sách quốc gia. Còn làng báo là báo của tư nhân, bộ mặt tự do báo chí của đất nước ta, báo bán chạy thì ký giả lẫn “ký thật” sống hùng sống mạnh. Báo dở, báo ế thì đình bản, ký giả đi tìm đất sống khác một cách ngon lành. Trong thời chiến tranh, tự do ngôn luận đôi khi cũng “tự ý đục bỏ”, chủ báo cũng vui vẻ, nhà nước hài lòng, thợ sắp chữ tới tháng vẫn có lương. Quí anh trong VTX, chúng tôi rất quí trọng các anh là những người có tay nghề, vì quí anh được thi vô, được huấn luyện và đã phục vụ quốc gia rất tốt trong vai trò của mình. Nhưng làng báo VNCH không phải là thất học, là đồ bỏ như quí anh tưởng. Không có ông Chu Văn Bình, không có BÀ BÚT TRÀ, không có ông Đinh Văn Khai, không có ông Nam Đình, không có cụ Trần Nguyên Anh, không có luật sư Dương Tấn Trương, không có hoạ sĩ Nguyễn Hữu Cát và biết bao ông bà chủ báo khác mà chỉ có quí anh VTX thôi thì ai nói lên những tệ nạn, bất công , tham ô trong xã hội thời chiến? Hay nói xa hơn ở cái đất Sài Gòn xa xưa, cũng có những bậc thầy như Thâu, Ninh, Tạo, cụ Phan Văn Trường, cụ Nguyễn Thế Truyền đã một thời tung hoành trong trường văn trận bút.
    Tôi chỉ là một khứa lão nông dân Nam Bộ, là độc giả lâu năm lâu tháng lâu ngày của làng báo Sài Gòn năm xưa, ước ao có đươc một cuốn “Lịch sử báo chí Việt Nam 1954-1975” để chứng minh cho con cháu, thời VNCH đã có tự do báo chí.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: