• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

TÙ và ĐÀY

Tôi không biết ông Việt Nam nào là người tù thứ nhất bị Thực Dân Pháp đưa ra biển và đưa vào  Nhà Tù Côn Ðảo. “Người Tù” tôi viết đây là “Những Ông Việt Nam chống Pháp bị Pháp bắt tù.”  Tôi chắc trong những năm đầu mới chiếm nước ta, bọn Thực Dân Pháp chỉ bắt và đưa những người Việt chống chúng ra Nhà Tù Côn Ðảo. Tôi viết rõ hơn, theo tôi nghĩ trong khoảng 10 năm đầu thành lập, Nhà Tù Côn Ðảo chỉ giam những Ông Tù Việt Nam chống Pháp xâm lược. Từ năm 1920 Nhà Tù Côn Ðảo mới giam những người tù hình sự: cướp, giết người – những người tù bị án nặng từ 5 năm trở lên.

Tôi tìm thấy trên những trang Sử: Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, Tập Hai, trang 327.

Trích : Ðến ngày 27 tháng 7, năm 1885, khi hết hạn hai tháng Thống Tướng De Courcy hẹn cho Nguyễn Văn Tường, ( ra hạn 2 tháng phải dẹp xong những cuộc chống Pháp), bấy giờ ở Bắc Kỳ có nhiều người ghét Nguyễn Văn Tường, xin Thống Tướng trị tội. Bởi vậy nên ngày 28 tháng 7, 1885, Thống Tướng bắt quan Nguyên Phụ Chính Ðại Thần Nguyễn Văn Tường, quan Hộ Bộ Thượng Thư Phạm Thân Duật và ông Tôn Thất Ðính, ông thân sinh ra Tôn Thất Thuyết, đem đày ra Côn Lôn. Phạm Thận Duật đang đi trên tàu thì chết, xác phải ném xuống biển, Nguyễn Văn Tường thì sau lại phải đày ra hải đảo Tahiti ở Thái-bình-dương, được ít lâu cũng chết, Pháp cho đem xác về quê nhà.

 Ngưng trích.

Quan Phụ Chính Ðại Thần Nguyễn Văn Tường, Ông Tù Chính Trị Việt Nam Thứ Nhất bị đi tù ở Côn Ðảo, rồi bị đày sang một nước lạ cách xa quê hương ông một biển lớn.

Mỗi lần đọc, viết đến chuyện ông Nguyễn Văn Tường tôi lại bùi ngùi, tôi thương ông, tôi thương đồng bào tôi. Trường hợp tù đày của ông Nguyễn Văn Tường thật đau đớn: ông làm gì nên tội để ông bị đày đọa như thế ? Ðang là Quan Phụ Chính Ðại Thần, theo triều đình Tầu xưa ông và ông Tôn Thất Thuyết là Hữu Tể Tướng, Tả Tể Tướng, ông đứng đầu hàng quan Văn, ông TT Thuyết chỉ huy quan Võ. Trên là Vua, dưới Vua là ông. Vậy mà chỉ vì vận nước, vì nước bị ngoại nhân xâm chiếm, vì không giữ được nước, trong một sớm, hai chiều, ông trở thành người tù của bọn người da trắng, mắt xanh, mũi lõ bọn người đến từ một xứ la thật xa ở nửa bên kia của trái đất, bọn người không có quen thuộc, dù chỉ là thứ quen thuộc ông cha tôi gọi là dây mơ, rễ muống với dân tộc Việt. Bỗng dưng chúng đến, chúng đưa tầu sắt, súng đại bác đến, chúng bắt Vua nước tôi phải cho chúng vào nước, chúng vào nước Việt và chúng làm chủ nước Việt, chúng bắt tù những người Việt chống cuộc xâm lăng của chúng.

Chuyện cực kỳ vô lý nhưng chuyện đã xẩy ra, đã kéo dài trong gần 100 năm.

Ðại thần bị giặc bắt đi tù. Ðang vinh hoa phú quí nhất phẩm triều đình, bỗng thành người tù cô đơn chết ngoài đảo xa, chết không vợ, không con, không một người thân bên cạnh. Chỉ có vợ con người tù, khi hay tin người chết, là thương xót người tù. Ðó là những ngày cuối đời cay cực của ông Nguyễn Văn Tường, ông Ðại thần Triều Nguyễn.

Bọn Pháp đã bắt ông Nguyễn Văn Tường, đã giam tù ông ở Côn Ðảo, tại sao chúng còn đưa ông sang tận Tahiti ?

Vinh hoa, phú quí, quyền lực – với ông đai thần Nguyễn Văn Tường – thoáng qua như giấc chiêm bao. Gíấc chiêm bao đau thương, thê thảm biết ngần nào !

Pháp luật các thời Vua Xưa của ta có điều Luật Lưu Ðày: người phạm tội bị bắt đi sống ở những vùng rừng núi hoang vu, những vùng biên giới, những nơi thường được kể là nơi khỉ ho, cò gáy, chó ăn đá, gà ăn muối. Cũng chỉ là bắt chước pháp luật các đời Vua Tầu. Ðất Tầu rộng, người phạm tội bị đày đi sống ở những nơi thật xa kinh đô, quan có tội bị đày đi làm quan ở những vùng hãy còn nhiều hoang địa. Như Tô Ðông Pha bị đày ra làm quan ở đảo Hải Nam. Nước An Nam nhỏ bé, kẻ có tội thời Vua Trần, Vua Lê, Chuá Trịnh bị đày đi xa lắm lên miền Bắc là đến những tỉnh Bắc Cạn, Hà Giang, vào miền Nam xa lắm là  đến Nghệ An, Hà Tĩnh, thời ấy nước ta chưa có những vùng Pleiku, Kontum. Nhưng dù có bị đày đi xa như ở Xứ Tầu, người tù đi đày ngày xưa vẫn sống trên đất nước mình.

Trong Thế kỷ 17, 18, triều đình Anh Quốc cho một số tội nhân đi đày sang một xứ bên kia biển – sang miền đất lạ về sau là Hoa Kỳ, Mỹ Quốc – nhưng số tội nhân Anh bị đi đày này rất ít. Ðến những năm 1990 thế giới mới có những người Việt Nam đi khỏi nước họ, vượt qua đại dương, sang sống lưu đày ở Xứ Kỳ Hoa. Cần viết rõ là những ông người Việt vừa kể làm « cuộc tự ý lưu đày.»

Ði đày như những ông Người Việt Ði Ðày sang Hoa Kỳ những năm 1990 mới thật là đi đày.

Tôi nghĩ những Ông Tù Lưu Ðày Người Việt – những ông HO Việt Nam – nên lấy ông Tù Nguyễn Văn Tường làm Hội Tổ, không Thánh Tổ mà là Hội Tổ, vì ông Nguyễn Văn Tường là người Tù Việt Nam Thứ Nhất bị đày đi sống và chết ở xứ người. Xứ người xa cách đất nước của ông cả một biển lớn.

Trên những trang Sử  Vong Quốc của nước tôi, tôi tìm được Ông Việt Tù Côn Ðảo Thứ Hai: Ông Lã Xuân Oai.

Một họ tên khác của ông là Lữ Xuân Uy. Chữ Hán ông cha ta đọc Lữ Lã, Uy, Oai như nhau. Như khi thì Lữ Bố, khi Lã Bố. Khi Uy nghiêm, khi Oai nguyêm. Chữ Lữ trong lữ thứ, lữ khách thì không đọc là Lã. Nhưng đúng ra thì phải là Lữ Xuân Uy, vì Oai là tiếng Nam của Uy, có thể vì kỵ húy, ông cha ta đổi Uy thành Oai.

Ông Lữ Xuân Uy sinh năm 1838, đời Vua Tự Ðức, quê làng Thượng Ðồng, Nam Ðịnh, đỗ cử nhân năm 1865. Ông ra làm quan, chủ trương chống Pháp kịch liệt. Thực dân Pháp đem quân đánh Bắc Kỳ lần thứ hai – 1882 – ông giữ chức Tuần Phủ Lạng Sơn. Sau đó, ông được cử làm Chánh Sứ Sứ Bộ An Nam sang Trung Quốc cầu viện – những năm này Nhà Thanh đang gặp nạn Trung Quốc bị quân Anh, Pháp, Ðức tấn công, Nhà Thanh tự cứu còn không xong, nhưng Vua Quan An Nam thời Tự Ðức vẫn tin tưởng Nhà Thanh có thể giúp dân ta, nước ta  chống bọn Pháp xâm lược, trong số những vị quan tin tưởng Nhà Thanh có Quan Tuần Phủ Lữ Xuân Uy – trong Sứ Bộ này có ông Nguyễn Khuyến. Sứ bộ chưa lên đường thì triều đình Huế ký Hoà Ước với Pháp, năm 1883, nên việc đi sứ bị bãi bỏ.

Triều đình ký hoà ước với Pháp, nhường đất, công nhận quyền cai trị của Pháp trên giang sơn An Nam, giới sĩ phu trong cả nước bất bình. Nhiều vị quan lại không theo lệnh Vua, vẫn tổ chức quân đội đánh lại quân Pháp cướp nước. Tuần phủ Lữ Xuân Uy tích cực vận động Trung Quốc cứu viện An Nam, một trong những lý do ông yêu cầu Vua Quan Nhà Thanh giúp An Nam chống Pháp là nếu Pháp chiếm được An Nam, Pháp sẽ đánh sang Vân Nam, lấy đất của Trung Quốc.

Tuần phủ Vân Nam Từ Diên Húc, theo lời yêu cầu của ông Lữ, từng gửi nhiều đội quân chính qui nhà Thanh sang đánh quân Pháp ở những tỉnh biên giới Bắc Kỳ.

Trong bộ sách Trung Pháp Chiến Tranh, xuất bản năm 1955 ở Bắc Kinh, có đăng 55 bức thư của Tuần phủ Lữ Xuân Uy gửi Tuần phủ Từ Diên Húc, nói về chuyện xin Thanh Triều cho quân sang bảo vệ An Nam.

Năm 1884 chính phủ Pháp cho Thủy sư Ðô Ðốc Courbet, từ Bắc Việt, sang Thiên Tân ký Hoà Ước với nhà Thanh. Hoà Ước này được gọi là Hoà Ước Thiên Tân. Từ đó, Nhà Thanh rút quân Thanh ở Bắc Kỳ về nước, bỏ mặc An Nam cho Pháp chiếm.

Sau khi yên tâm về chuyện quân Nhà Thanh không sang Bắc Kỳ giúp quân An Nam chống pháp, Courbet vào Huế, ép triều đình Huế ký Hoà Ước Patenotre, năm 1884, công nhận Pháp có chủ quyền trên đất An Nam. Bất chấp tình hình biến chuyển, triều đình Huế đã chịu hàng, Tuần Phủ Lữ Xuân Uy vẫn liên lạc với Tán Tướng Nguyễn Thiện Thuật, Ðề Ðốc Tạ Hiệp, Ngự sử Phan Huy Quang, để các vị này đem quân đến Lạng Sơn, cùng giữ thành, đánh lại quân Pháp.

Năm 1988, Vua Hàm Nghi ra khỏi kinh đô, hạ chiếu Cần Vương, thăng Lữ Xuân Uy làm Tổng Ðốc Lạng Sơn. Nay ông có danh nghĩa để giữ thành, đánh Pháp. Quân Pháp tiến đánh Lạng Sơn dữ dội. Thành bị phá, ông đem một số quân vượt biên giới sang Tầu.

Ba năm sau, năm 1888 ông Lữ Xuân Uy từ Vân Nam trở về làng quê Thượng Ðồng của ông. Ông tổ chức dân quân kháng Pháp tại Thượng Ðồng. Nghiã quân mở xưởng đúc rèn võ khí, luyện tập võ nghệ. Ngày 10 tháng 12, 1889 Nghĩa Quân Thượng Ðồng nổi dậy, chiếm huyện lỵ Phong Doanh. Pháp cho lính từ Ninh Bình sang đàn áp. Nghiã quân đánh xáp lá cà với lính Pháp trên các đường ngõ, bắn chết Thiếu úy Chaudron, bắn bị thương Thiếu úy Maugain của quân Pháp.

Ông Lữ Xuân Uy, và nhiều vị chỉ huy Nghiã Quân Thượng Ðồng, bị Pháp bắt trong trận này.

Làng Thượng Ðồng bị quân Pháp đốt cháy. Nhân dân có những lời thơ thương tiếc Thượng Ðồng :

Phong phú xưa nay nhất Thượng Ðồng,
Tây làm một trận, sacïh như không.

Ông Lữ Xuân Uy bị Pháp kết án 10 năm tù, đưa đi đày ở Côn Ðảo. Ði bằng tầu thủy. Chắc thời ấy tầu nhỏ, không đi được xa, nên  tầâu chở tù không từ Hải Phòng, Bắc Kỳ đi thẳng ra Côn Ðảo mà ghé Quảng Nam, ông Lữ bị đưa vào nhà tù Quảng Nam ít ngày rồi lại xuống tầu, đi vào Nam, ông bị đưa vào Nhà Tù Gia Ðịnh, chờ tầu ra Côn Ðảo.

Chắc chắn ông Lữ Xuân Uy có làm nhiều thơ trước khi ông bị Pháp bắt, tất cả những bài thơ ấy đều không còn. Nhưng Ông Tù Lữ để lại cho chúng ta tập « Côn Ðảo Thi Tập, » những bài thơ ông làm từ khi ông bị bắt và thời gian ông sống ở Côn Ðảo. Tập Thơ này còn là nhờ công của một người tù Côn Ðảo tên là Mười Câu. Những lời viết về Người Tù Mười Câu không nhiều, chỉ thấychuyện ghi lại vắn tắt Mười Câu là một người tù trẻ tuổi, cùng tù ở Côn Ðảo với ông Lữ. Mười Câu săn sóc ông Lữ, cất giữ những bài thơ ông Lữ làm.

Năm 1891 ông Lữ chết ở Côn Ðảo. Năm 1892 Người Tù Mười Câu hết hạn tù, được tha về. Ông mang tập Thơ Côn Ðảo của ông Lữ Xuân Uy về nước, trao cho con cháu ông Lữ. Không thấy viết lời gì về việc xác ông Lữ có được Pháp cho mang về mai táng ở Thượng Ðồng quê ông hay ông nằm lại Côn Ðảo.

Tôi thấy qua Thơ, Ông Tù Lữ là người rất lạc quan, rất can đảm, ông vẫn vui trong cảnh tù đầy, dường như ông không có lời thơ nào than thở cho thân phận, cho số kiếp. Thơ ông làm bằng chữ Hán, cũng có nhiều bài Thơ tiếng Nam, như bài thơ ông làm trong Khám Gia Ðịnh, nơi bọn Phap đưa ông vào sống ít ngày chờ tầu ra Côn Ðảo :

Này những đồ hay, những thức ngon.
Hỏi ra mới biết thú Sài Gòn.
Nghe xe ngựa khách, tai nhường lạ,
Trông nước non ta, mắt đã chồn.
Trời đất vần xoay ra hội mới,
Ðông Tây tranh chấp lắm người khôn.
Tri nguy nhi phúc, hay chăng tá ?
Ði chín, về mười, cuộc mới tròn.

Tri nguy nhi phúc: ngạn ngữ Hán : Biết nguy là có phúc, gặp nguy mà biết nguy may ra có cơ thoát nguy, gặp nguy mà ngu ngơ không biết mình bị nguy là chết.

Ði chín, về mười: bị tù đày, Nhà Thơ vẫn hy vọng ngày trở về còn đầy đủ anh em đồng chí để cùng lo việc nước.

* Thơ Vịnh Thành Gia Ðịnh

Sáu tỉnh đã thành bờ cõi mới,
Ba xuân còn đó nếp văn chương.
Nhà ai lầu gác mây tô vẽ,
Nẻo nọ xe thuyền điện sáng choang.
Hiệu nước, canh khuya, già hỏi khẽ,
Thuốc thang, ngày rỗi, lính bàn nhăng.
Hững hờ chi lắm cây bên lối,
Từng đám xanh xanh, đám úa vàng.

Qua Thơ ông Lữ để lại, tôi thấy có chuyện cần nói là ngày Ông Tù Lữ và các ông Tù Yêu Nước Bắc Kỳ bị đưa ra bến sông Sài Gòn để lên tầu ra Côn Ðảo, một số đồng bào Sài Gòn biết tin, có người mang cả trẻ nhỏ, lên tầu thăm hỏi các ông tù bị Pháp đưa đi đày, tặng quà, thức ăn, chúc sức khoẻ, hẹn gặp lại, bịn rịn chia tay. Chuyện đáng nói là đám lính giải tù ra đảo đã để cho đồng bào gặp, nói chuyuện, tặng quà, chúc phúc những ông tù đi đày.

Ðây là bài Thơ Tiễn Ðưa Tù Nhân trên bến Sài Gòn năm 1889 của Ông Tù Lữ Xuân Uy:

Quả ngon đem lại trên thuyền tặng,
Con trẻ đưa ra trước mặt chờ.
Sáu Tỉnh phồn hoa tình thế đấy,
Bắc Nam thân thiện tự bao giờ. 

Mời quí vị đọc bài Thơ Ðường « Thuyền Phó Côn Sơn » của Ông Tù Lữ Xuân Uy.

Ðộc tọa nguy chu tứ tiễu nhiên,
Phùng nghênh ngẫu nhĩ khách trung tiên.
Hưá đa trân quả đăng trình xứ,
Phúc dẫn tùy nhi đáo diện tiền.
Lục tỉnh phồn hoa như thử nhật,
Lưỡng kỳ giao tế thị hà niên ?
Trùng lai thiên hạnh qua Cần Hải,
Ðương hữu tân thị thọ thái diên.

Người không biết chữ Hán không thể hiểu được ý nghiã bài thơ chữ Hán, lại càng không thể cảm được ý thơ của Thi sĩ. Rấùt may ta có những bài thơ Tiếng Việt dịch ra từ nững Thơ Chữ Hán, những bài Thơ Tiếng Việt thật hay. Mời quí vị đọc :

* Thuyền đi Côn Sơn (Nhân có người Sài Gòn lên tầu tặng quà.)

Ngồi nóc thuyền cao vẫn tự nhiên
Rước mời như thể khách trong tiên.
Ðã cho quà trái khi rời bến,
Lại dẫn con em đến tận bên.
Sáu tỉnh phồn hoa tình vẫn nhớ,
Hai kỳ giao tế nghĩa nào quên.
Ngày về may lại qua Cần Hải,
Nên có Thơ đề chúc thọ duyên.

Thật tuyệt. Cảm khái cách gì.

Bước chân xuống tầu ra tù ở hải đảo, Nhà Thơ Yêu Nước được đồng bào lên tầu đưa tiễn, ông cảm động vì tình nghĩa của đồng bào miền Nam, và chưa ra đi ông đã nghĩ ngay tới Ngày Về, Ông làm thơ ngỏ ý ông xúc động vì tình đồng bào đối với ông, ông nghĩ ngày ông trở về nước, nếu ông lại về qua Cần Hải – Biển Cần Giờ – ông sẽ có nhiều bài thơ thân tặng đồng bào.

Chuyện cần viết: tại sao năm 1889, khi mấy ông Tù Bắc Kỳ Kháng Pháp bị Pháp đưa lên tầu để ra Côn Ðảo, lại có một số người Sài Gòn biết tin các ông đi, lên tầu tiễn các ông?

Sao thời ấy có những người nặng tình với những người yêu nước gặp  hoạn nạn đến như thế ? Thời ấy bọn Thực Dân Pháp nói chung, nói riêng là bọn lính Tây Áp Giải Tù, đối xử dễ dàng với các tù nhân An Nam đến như thế sao? Chúng để cho đồng bào lên tầu đưa tiễn các ông Tù can tội đánh lại chúng?

 Cứ như lời thơ của Ông Tù Lữ, tôi thấy ông kể ông đi lại đàng hoàng trên con tầu đưa ông ra Côn đảo :

Vững vàng đi đứng ung dung,
Mông mênh sóng gió mịt mùng chẳng kinh.

 Trên đường ra đảo, ông Tù Lữ không bị cùm chân, không phải ngồi bó gối mấy ngày đêm dưới hầm tầu tối hay sao?

1889-1976 – chưa đầy 100 năm sau, hai cảnh người tù Việt bị đưa xuống tầu đi tù và đi đày xẩy ra ở sông Sài Gòn khác hẳn nhau.

Năm 1889 lính Pháp giải tù ra Côn Ðảo để cho người Sài Gòn – có người đem cả con nhỏ đi theo – lên tầu tặng quà, thức ăn cho những ông tù, an ủi, chúc lành các ông tù; trên tầu của Thực Dân Pháp ra Côn Ðảo, những ông tù Việt đi đày được đi lại thoải mái, không bị cùm chân, không bị nhốt dưới hầm tầu tối.

Năm 1976, nửa đêm, bọn Lính Bắc Cộng đưa cả chục ngàn sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà ra bến tầu Sài Gòn, tống xuống hầm tầu, đưa ra tù ở miền Bắc. Bọn Lính Bắc Cộng coi rẻ mạng sống của những người Tù VNCH. Những sĩ quan đi tù còn sống trở về, kể lại những chuyến đi đày của các ông với những chuyện ghê rợn, những tàn ác không thể tưởng.

Năm 1889 tầu chở tù đậu ở bên Sài Gòn, tức Bến Bạch Ðằng những năm 1960.

Năm 1976 tầu đưa những sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà ra tù ở miền Bắc đậu ở bến Tân Cảng. Cũng là sông Vàm Cỏ nhưng hai bến khác nhau, xa nhau một quãng sông.

Bọn Lính Bắc Cộng cũng là người Việt, nhưng chúng đối xử với những người Tù Việt tàn ác hơn những người lính Pháp.

o O o

Tới đây tôi trích đăng những bài Thơ Nôm và Thơ Dịch Thơ Lữ Xuân Uy, tôi không đăng những bản Thơ Chữ Hán của Ông Tù Côn Ðảo :

* Cảm Hứng giữa Biển

Nhờ ai thổi mạnh khói tầu,
Cho ta vượt quãng biển sâu nghìn trùng.
Vững vàng đi đứng ung dung,
Mông mênh sóng gió mịt mùng chẳng kinh.
Quà kia gửi tặng ngon lành,
Thức ăn ai để cung mình cũng tươi.
Rạng ngày nhìn ánh mặt trời.
Gió xuân Côn Ðảo đón người bước lên.

* Vinh Núi Côn Lôn

Biển phẳng nhô lên ngọn núi cao,
Non xanh, nước biếc, sóng lao xao..
Ðảo gò xây dựng thêm tay mới,
Hoa cỏ xinh tươi dáng thưở nào.
Máy chạy hợp tan lơ lửng đó,
Nước triều lên xuống có thường đâu.
Yêu thay cảnh đẹp thiên nhiên ấy,
Vua trước từng phen trú vó câu.

Tay mới: những người tù sẽ góp công vào việc xây dựng đảo.

Vua trước: Vua Gia Long trong thời chiến tranh với Nhà Tây Sơn, có thời sống ở Côn Ðảo.

* Chợt vớt được hoa sen trên biển (Ngẫu hứng làm hai bài.)

Giữa biển ngời lên một đoá sen.
Hoa trong quân tử, nước trong tiên.
Xếp bày chín cánh xinh như vẽ,
Gặp gỡ ba xuân đẹp tựa in.
Aùnh lúc hướng theo vầng đỏ chiếu,
Hương thanh nhờ tự sóng cồn lên.
Doanh Châu ví biết bay về đó,
Miền ngát ai nhường dưới với trên.

*

Gió đâu phút động mùi hương
Cho hoa này lại vấn vương chốn này.
Hay vì biển lắm thú hay,
Khiến cho núi nở hoa đầy nét xuân.
Cho nhà tiên sạch bụi trần,
Cho lòng quân tử muôn phần như gương.
Thực là phẩm giá khác thường,
Ðố người khách tục mắt thường tìm ra.

o O o

Sống ở Kỳ Hoa, Ðọc Viết chơi.
Rừng Phong lác đác lá phong rơi.
Chuyện đời đã chán không buồn nhắc.
Trang sách xưa nghe kể mấy lời !

Ðịnh viết về chuyện những năm 1960, 1970 những người muốn làm phóng viên nhà báo – gọi chung là « ký giả » – nhẩy vào những tòa báo khó hay dzễ, và về chuyện những ký giả Sài Gòn năm xưa  « làm tiền thiên hạ » dzễ hay khó, chuyện những Ông Toà xử những ký giả can tội tống tiền với những mức án năm tù chừng bao.. Nhưng chưa viết đã thấy chán. Tôi thấy đó là những chuyện « ruồi bâu », bèn chuyển sang viết bài này.

Bài viết đã đủ dzài, hẹn gặp lại quí vị tuần sau.

Advertisements

3 Responses

  1. Có vài chuyện nhỏ tôi sẽ không bao giờ quên khi được đưa từ Trung tâm cải huấn Thủ Đức năm 1976 ra Tân Cảng.Khi tới nơi,một cán bộ áo vàng mở còng cho tôi.Anh này còn rất trẻ,trắng trẻo,cao ráo có da thịt,lần đầu tiên tôi mới thấy một công an BV tướng tá ngon lành đẹp trai và…hiền lành như vậy.Khi mở còng,anh ta hơi lọng cọng và dịu dàng nói với tôi :Còng hơi chật,có đau lắm không ? tôi không nhớ lúc đó đeo còng hiệu gì,nhưng tôi còn nhớ nửa đêm khi được đánh thức tập họp từ Làng Cô nhi Long Thành đưa xuống Thủ Đúc,đến nơi trời tờ mờ sáng,tôi đọc được cái còng có hàng chữ American Munition Co.Fonds-Du-Lac Wisconsin.Tôi còn nhớ khi xe chờ bên vệ đường,qua khe hở tấm bạt,tôi nhìn lên cửa sổ trên lầu của căn phố,thấy lờ mờ một cô gái trẻ đang chài mái tóc dài nhìn xuống.Ờ Tân Cảng,chúng tôi lên và…xuống hầm tàu Hồng Hà.Nắp hầm sau đó được phủ bằng một tám bạt.Chúng tôi nằm ngồi la liệt san sát nhau.Có một số bạn xui xẻo phải nằm ngồi gần cái xô…vệ sinh.Và khi con tàu lắc lư cái xô sóng sánh chất thải.Khi gần đầy,đội trường la lớn:Báo cáo cán bộ,cho đổ nước giải.Một sợi dây thòng xuống.Ngày 2 lần,cán bộ BV leo thang xuống hầm điểm số.Vì mùi xú uế,tên cán bộ dùng khăn bịt mũi miệng như dân SG hiện nay chống bụi.Tôi cảm thấy mình được đối xử còn thua súc vật,vì nếu chở súc vật,người ta còn sợ chúng chết.Tới Hải Phòng,khi đang trên cầu tàu đi xuống,một tên công an xăm xăm đi tói dật phắt cái mũ rừng tôi đang đội hỏi cái gì đây.Thì ra cái mủ có gắn một tượng Đức Mẹ nhỏ của bà cụ tôi cho.Lên xe.lần đầu tiên,cứ 2 người một,chúng tôi bị cột chung tay bằng mội sợi dây xích,khóa lại bằng một ống khóa để lên Quảng Ninh.Khi Trung cộng đánh qua biên gìơi,chúng tôi được đưa xuống Thanh hóa,ở trại hồi VM là Lý Bá Sơ.Rối xe lửa vào Nam ở Z30 A trưóc khi được phóng thích sau hơn 8 năm.Vài hàng nhân đọc Tù và Đày của CTHĐ.

    ;

    • Thưa Anh Swan42,
      Nghe anh kể lại chuyện du ký miền Bắc của anh năm76 thật thảm.Bây giờ,sau nhiều chục năm,anh nhớ lại để chỉ mà nhớ thôi không sao?Xin anh nghĩ lại,và mình nên làm gì để cho hiện nay tình trạng ấy ở VN không còn diễn ra dài dài nữa ,phải được chấm dứt .Cho dù nhà tù trong Nam hay ngoài Bắc cũng vẫn là nơi giam cầm những người Việt Nam thân yêu của chúng ta.Mong lắm thay.

  2. Nói bao giờ cũng dễ hơn làm. Bạn có thể làm được gì để thay đổi chế độ cộng sản gian ác ở VN hiện nay? Hay chỉ là cái miệng hoặc vài chữ trên giấy? Tôi nghĩ chỉ khi nào toàn dân trong nước đồng loạt đứng lên lật đổ chúng mà không sợ tù đày hay chết chóc, thì khi đó họa may mới thay đổi đưọc. Nhưng ai là người khởi xướng chuyện này mới là quan trọng.Ở VN bây giờ không ai tin ai vì họ quá sợ cái cảnh việt cộng cò mồi. Tóm lại khi nào không còn SỢ nữa thì mới mong đất nước thoát nạn cộng sản.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: