• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Biệt Kích Cầm Bút 12.2010

Nhà Tù Chí Hoà. Ảnh năm 1970. Có tin cho biết bọn VC dự tính trong năm 2011 chúng sẽ phá Nhà Tù Chí Hòa để lấy đất chia nhau.

Bọn Công An Thành phố Hồ Chí Minh đọc lệnh bắt tôi tại nhà tôi lúc 2 giờ đêm rạng ngày 2/5/1984. Ðây là lần thứ hai Alice phải đứng nghe những người công an VC đọc án lệnh bắt chồng nàng. Nàng đã đứng nghe án  bắt  chồng nàng một lần trước đó 6 năm — năm 1977 — cũng trong căn nhà nhỏ không có mùa xuân nhưng nồng đượm tình yêu của vợ chồng nàng. Lần ấy khi thấy công an VC đọc bản án xong, một tên móc còng ra còng tay chồng nàng,  Alice phản đối :

– Chồng tôi làm gì mà còng tay chồng tôi ?

Chắc nàng nghĩ rằng bọn phạm tội ăn cướp, giết người khi bị bắt mới bị còng tay. Nên khi thấy chồng nàng bị còng tay, nàng phản đối. Nàng phản đối việc chồng nàng bị còng tay, nàng không phản đối việc chồng nàng bị bắt.

Tôi — thản nhiên hay tỉnh queo thì không đúng hẳn, nhưng khi đã biết trước mình sắp bị công an VC đến bắt, tôi còn sửng sốt, bàng hoàng chi nữa — lúc đó tôi mềm như bún, nhưng không run giọng, không nghẹn ngào, tôi nói với vợ tôi.

– Ðừng em. Việc anh bị bắt mới là quan trọng, việc anh bị còng tay có đáng gì để em buồn tủi đâu…

Khi thấy nàng nghẹn ngào muốn khóc, nhìn nàng, tôi lắc đầu thầm nói với nàng bằng mắt :

“Em đừng khóc.”

Những năm 2000, bọn Công An VC gác Toà Án Sài Gòn thật kỹ mỗi khi chúng xử một vu án chính trị. Chúng cấm không cho ai vào tòa dự khán phiên tòa.

Năm 1960, hay 1961 — xa như ở một kiếp nào xưa — tôi được đạo diễn Hoàng Anh Tuấn cho đóng một vai phụ trong bộ phim xi-la-ma “Hai Chuyến Xe Hoa.” Vai nữ chánh của phim là cô đào Thanh Nga. Ðúng là “đóng phim nó vận vào thân.” Thanh Nga, chắc vì là đào hát chính cống, lại đóng vai nữ chánh trong phim “Hai Chuyến Xe Hoa,” nên khi nàng đi khỏi cõi đời này,  đám tang nàng có hai chuyến xe hoa, một xe chở quan tài nàng, xe thứ hai chở quan tài ông chồng nàng. Thanh Nga và ông chồng có cái tên là ông Ðổng Lân cùng bị bắn chết trước cửa nhà họ trong đêm cô đào đi diễn tuồng Thái Hậu Dương Vân Nga về. Còn tôi, kép xi-la-ma rởm, tôi cũng có 2 chuyến xe bông. Chiếc xe bông thứ nhất của Sở Công An Thành phố Hồ chí Minh đến căn nhà số 259/29A trong cái cư xá có tên là Cư Xá Tự Do — một cư xá trong cả trăm cư xá của dân Sài Gòn trước năm 1975 — đưa tôi đi tù 3 niên. Sáng ngày 2/5/1984 chiếc xe bông thứ hai của Sở Công An TP HCM đến Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, đón tôi vào Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu cư  ngụ dài hạn lần thứ 2. Lần thứ hai này dài 6 niên.

Tôi gọi riễu xe của bọn Công An TP HCM đi bắt người là “Xe bông.” Có độc giả của tôi théc méc: “Sao ông lại gọi xe đi bắt người của bọn công an Việt Cộng là Xe Bông?”

Sau 4 năm “tại ngoại chờ lại vô tù”, một ngày Tháng Năm 1985 tôi bị đưa trở vào Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu lúc 6 giờ sáng. Cảm giác của tôi lúc ấy là cảm giác của 2 cậu Lưu Thần, Nguyễn Triệu khi hai cậu làm cái cuộc gọi là “tái đáo Thiên Thai.” Hai cậu từ cuộc đời trần tục may mắn lạc vào được Thiên Thai, nơi ngàn năm là mùa xuân, nơi có cả ngàn tiên nữ thơm như múi mít sẵn sàng, nồng nàn thay phiên nhau phục vụ hai cậu, Thiên Thai nơi người ta sống mãi không già – khi người ta không già, người ta sẽ không chết — nhưng sống trong Thiên Thai mãi hai cậu nhớ quê hương — nhớ con đê, cây gạo, cổng làng, lũy tre, ao bèo, tiếng sáo diều vi vút những đêm trăng, nhớ những nàng thôn nữ môi trầu cắn chỉ, những nàng có già đi, có sống, có chết — hai cậu đòi về trần. Các tiên nữ dzỗ hai cậu ở lại không được, đành phải để hai cậu về trần. Về sống ở trần thế ít năm hai cậu lại chán, hai cậu lại tìm đường trở lại Thiên Thai. Người Tầu gọi cuộc trở lại Thiên Thai của hai câu Lưu Thần, Nguyễn Triệu là “tái đáo Thiên Thai.”

Nhưng trở lại Thiên Thai, hai Cậu đẻ bọc điều lần này thấy buồn nhiều hơn vui. Vì Thiên Thai, cũng như trần thế, cũng thay đổi theo thời gian. Thiên Thai khi hai cậu trở lại không còn như Thiên Thai ngày hai cậu về trần. Vì vậy hai cậu buồn nhiều hơn vui.  Tôi cũng vậy. 4 năm trước, một buổi sáng tôi xách cái túi du hành Pan Am — Made in Cholon — rách, hư fermeture, rảo bước đi ra khỏi nhà tù này, tim đập mạnh, vai nhẹ nhàng, lòng mừng vui. Sáng nay, 4 năm sau tôi trở lại nhà tù xưa. Cảnh sắc tiêu điều hơn, những con đường xi-măng rạn nứt, ướt nước, nhiều chỗ lên rêu xanh

4 năm trước, họ giam tôi trong cái gọi là Phòng Biệt Giam số 6 Khu C Một. Nhà giam Phan Ðăng Lưu, bên cạnh Tòa Tỉnh trưởng Gia Ðịnh, nay Toà Tỉnh Truởng Gia Ðịnh Xưa của tôi là “Trường Ðảng — Nguyễn Văn Cừ”. Nhà giam này nguyên là Ðề lao Gia Ðịnh được VC mở rộng lớn gấp 4 lần. Cái gọi là Biệt giam, theo Tầu Cộng, chỉ là cái sà-lim — cellule — của những nhà tù thời Ðông Dương  thuộc Pháp.

Tái đáo thiên thai, người ta lại đưa tôi vào Khu C Một. Chỉ có khác là lần trước tôi nằm Biệt Giam số 6, lần này tiến bộ hơn, tôi nằm ở Biệt Giam số 10.

Cũng như lần trước, việc làm đầu tiên của tôi khi cánh cửa sắt Biệt Giam — Xà-lim — vừa kình kình đóng lại là cởi áo, cởi quần dài, ở trần, chỉ mặc có cái quần sà lỏn – “sà lim” với “sà lỏn” là anh em cùng cha, khác mẹ — ra đứng nhìn qua cửa gió ra lối đi.

Mới 6 giờ sáng, bọn cai tù đang  áo thun ba lỗ, sà lỏn, rửa mặt ở những vòi nước bên ngoài hành lang C1. Khi đang láo nháo trả lời, báo tin bên ngoài cho vài anh em đứng ở sau cửa phòng Tập thể số 2, số 3 trước mặt, tôi bỗng nghe tiếng người gọi :

– Dượng Hai…

Anh em chúng tôi, mấy người liên lạc với Trần Tam Hiệp ở Paris vẫn quen gọi Tiệp là Dượng Ba. Tôi được gọi là Dượng Hai vì tôi cao tuổi hơn anh em.

Tôi ngạc nhiên :

– Ai đấy ?

– Tự đây, Trần Ngọc Tự…

Di ảnh Trung Uý Dương Hùng Cường. Ảnh trên bàn thờ trong gia đình của Cố Trung Úy.

Trần Ngọc Tự Không Quân, Tự và Dương Hùng Cường lính Không Quân quen biết người lính Không quân Trần Tam Tiệp khá thân. Tự ở ngay Biệt Giam 9 cạnh Biệt Giam 10 có tôi vừa được đưa vào. Tự vào đây chừng nửa tiếng đồng hồ trước tôi. Vì hai sà-lim cùng ở một dãy nên Tự và tôi chỉ nghe được tiếng nhau mà không nhìn thấy mặt nhau. Hai chúng tôi chưa nói gì được với nhau nhiều thì ghé mắt nhìn ra đầu hành lang chúng tôi thấy Dương Hùng Cường được dẫn vào.

Dương Hùng Cường — buổi sáng vào Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu — bận áo pull xanh, quần kaki — cái áo pull này chắc là của Trần Tam Tiệp mới gởi về. Sau thủ tục nhập sổ hộ khẩu thường trú: khám quần áo, hỏi tên tuổi, tội trạng, ghi vào sổ, Cường được đưa vào Biệt Giam 15 hay 16 bên dưới tôi. Cường đi qua sà lim giam Tự và tôi nhưng Cường không trông thấy chúng tôi. Chúng tôi chỉ lấp ló mặt ở cửa gió nhìn ra. Cường không th61y chúng tôi nhưng húng tôi nhìn thấy Cường rất rõ.

Trong buổi sáng đầu tiên ấy, Tự và tôi được biết Khuất Duy Trác bị giam ở Biệt Giam 1. Biệt giam này ở ngay đầu hành lang, gần bàn làm việc của cai tù gác khu C1 nên Khuất Duy Trác không thể nói năng, hỏi han, trao đổi tin tức gì được với những bạn tù phòng bên. Như vậy là anh em tôi 4 người : Dương Hùng Cường, Trần Ngọc Tự, Khuất Duy Trác và tôi — được công an Thành Hồ đem xe bông đến nhà rước đi trong cùng một đêm. Vài ngày sau chúng tôi được tin anh Doãn Quốc Sỹ cũng bị bắt, đang nằm Biệt Giam khu C2 đâu lưng với khu C1 của chúng tôi.

Sáng sớm hôm sau, Tự và tôi mới hỏi qua, nói lại được với Dương Hùng Cường. Biệt Giam Cường ở khá xa bên trong. Cường và chúng tôi nói chuyện với nhau qua vệ tinh: chúng tôi nói qua phòng tập thể trước mặt, nhờ anh em bên đó nói lại với Cường. Chúng tôi cũng chỉ nghe được lời Cường nhờ anh em ở những phòng tập thể trước mặt truyền lại.

Khi nghe chúng tôi nói sang :

– Nó bắt mấy thằng liên lạc với Dượng Ba rồi…

Cường bảo chúng tôi :

– Phải giữ an ninh cho Dì Út…

Dì Út là tên chúng tôi dùng để gọi cô Nguyễn Thị Nhạn, nhân viên Bưu điện Trung Ương Thành Hồ, người trung gian nhận thư từ, sách báo, thuốc Tây do Trần Tam Tiệp ở Paris gởi về cho chúng tôi và gởi thư, bài viết, bản thảo của chúng tôi qua Trần Tam Tiệp.

Khi dặn nhau phải giữ an ninh cho Dì Út Nguyễn Thị Nhạn, anh em chúng tôi không biết rằng cô Nhạn đã bị bắt trước chúng tôi cả tháng trời. Bắt, khai thác cung từ rồi được thả ra. Và Dì Út của chúng tôi bị bắt lại cùng với chúng tôi.

Cuộc sống tù đày chung của anh em chúng tôi bắt đầu từ sáng ngày 2/5/1984.

Sau thời gian bị nhốt ở Biệt Giam — thời gian này gọi là thời gian cách ly, dài ngắn, lâu mau tùy theo từng người tù. Khuất Duy Trác sang ở Phòng Tập thể 2, Dương Hùng Cường ở Phòng Tập thể 3, tôi ở Phòng Tập thể 6, Trần Ngọc Tự sau thời gian được chuyển sang nằm Biệt Giam khu B, được đưa trở lại ở Phòng Tập thể 5 khu C1. Anh Doãn Quốc Sỹ ở bên Khu C2.

12 tháng sau — tháng 5/1985 — chúng tôi, những người bị  Công an Thành Hồ gọi là “Những tên biệt kích cầm bút” — được đưa lên xe bông sang nơi tôi gọi là “Thánh Thất Chí Hòa”. Ðây là lần thứ nhất kể từ ngày vào Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, anh em chúng tôi được “đoàn tụ” trong vòng 2 tiếng đồng hồ. Xe chở chúng tôi từ Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu sang Nhà Tù Chí Hòa là loại xe vận tải. Công an TP dùng loại xe này chở hàng, chở gạo, chở heo và chở tù. Bọn Biệt Kích Cầm Bút lếch thếch xách giỏ, chiếu lên xe bông sáng ấy gồm 6 mạng: Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự, Hoàng Hải Thủỵ Và 2 biệt kích nữ : Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn.

Xe ra khỏi Số 4 Phan Ðăng Lưu, vào đường Ðinh Tiên Hoàng về Ðakao, qua rạp xi-nê Casino Dakao, vào đường Hiền Vương — chúng tôi thấy nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi nay trở thành công viên — rồi xe vào đường Lê Văn Duyệt, đã bị đổi tên thành đường Cách mạng Tháng 8. Trên xe anh em chúng tôi cười nói râm ran. Tôi có cảm tưởng chúng tôi đang trên xe đi dự đám cưới chứ không phải là bọn tù trên xe chở tù của Việt Cộng.

Ðây là lần thứ nhất 6 anh em chúng tôi đặt chân vào “Ðất Thánh Chí Hoà”. Chỉ có cô Nguyễn Thị Nhạn là người bị VC bắt lần đầu, còn chúng tôi — kể cả Lý Thụy Ý — đều đã bị VC bắt một lần nhưng chưa ai “được” vào Chí Hòa. Chúng tôi vào khu ED. Lầu 8 Góc Chí Hòa được gọi theo vần A, B, C, D, E, F, G, H. Cứ 2 tòa nhà họp thành một khu: AH chứ không phải HA, rồi khu BC, khu ED (gọi là Ơ Ðê). Cai tù Vixi nói “nễ nớn, nòng nợn”, nhưng vẫn gọi tên khu nhà tù như người Sài Gòn là “Ơ Ðê” chứ không gọi là “Ðê E.” Cuối cùng là  khu FG.

Sau 2 giờ “đoàn tụ” thân mật, vui vẻ trên xe chở tù, chúng tôi lại được ưu ái chia ra mỗi tên ở một phòng. Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn vào 2 phòng 3, phòng 4 ở dưới đất. 2 phòng này dành cho tù nữ. Cô Thích Trí Hải — bị bắt trong nhóm Già Lam Tuệ Sĩ, Trí Siêu, Lê Mạnh Phát, Thượng Tọa Thích Ðức Nhuận — đã ở trước trong khu giam tù nữ này. Cường và Tự  ở 2 phòng 7, phòng 8 lầu 1, Khuất Duy Trác vào phòng 9 lầu 2, tôi vào phòng 10 lầu 2, Doãn Quốc Sĩ lên phòng 14 tầng lầu 3 cao nhất.

Khi vào phòng 10 khu ED Chí Hòa, tôi mới biết anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, bị bắt sau chúng tôi khoảng một tháng, bị ghép vào bọn chúng tôi,  đã từ Số Phan Ðăng Lưu sang đây trước chúng tôi một tháng, anh  đang ở phòng 11 cạnh phòng tôi.

Chúng tôi đã sống 12 tháng trong nhà giam Số 4 Phan Ðăng Lưu. Nay chúng tôi lại bắt đầu sống những ngày tháng tù đày mới trong Nhà Tù Chí Hoà. Thời gian trong tù thật ly kỳ – nó qua thật chậm mà nó cũng qua thật mau – vào Nhà Tù Chí Hoà năm 1985, thấm thoắt đã qua năm 1986, năm Ðảng CSVN họp cái gọi là Ðại Hội Ðảng Kỳ 6.

Anh Hiếu Chân bị chứng huyết áp cao, anh qua đời vì cơn bịnh này trong một đêm đầu năm 1986.

Ban đêm trong Nhà Tù Chí Hoà khi có người tù lên cơn bịnh nặng cần được cấp cứu, những anh em tù cùng phòng phải la lớn để gọi bọn cai tù qua những chấn song sắt :

– Báo cáo cán bộ… Phòng 11 có người bệnh nặng… Xin cấp cứu…

Tiếng kêu trong đêm, yên tĩnh, vang đi khắp nhà tù, vẳng vào tất cả các phòng giam. Thường thì  người tù phải kêu lớn cả chục lần bọn cai tù trực đêm mới lịch kịch xách chìa khoá lên mở ba bốn lần cửa sắt cho một anh tù khoẻ cõng người tù bệnh đi xuống cái gọi là Trạm Xá. Cộng sản không gọi “Bệnh xá” mà gọi là “Trạm xá.”

Chừng một tháng sau ngày anh Hiếu Chân qua đời, một sáng tôi đang sửa soạn đánh cờ thì được anh em tù ra đưa cơm nước đến ngoài song sắt báo tin :

– Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường chuyển trại…

“Chuyển trại” là việc người tù bị đưa từ nhà tù này sang nhà tù khác.

Như Solzhenitsyn đã viết trong truyện “Tầng Ðầu Ðịa Ngục” (The First Circle), kể chuyện tù đày ở Liên-xô — người tù ở đâu quen đó, việc đổi phòng giam chỉ gây phiền nhiễu cho người tù — và thường khi đã chuyển trại thì cả một bọn đồng vụ cũng bị chuyển trại. Anh tù ra làm lao động — lao động là tên gọi việc đưa cơm nước — báo cho tôi biết 2 người đồng bọn với tôi bị chuyển trại, tôi cũng phải thu xếp hành trang vì tôi sắp được, hay bị gọi ra chuyển trại.

Ði đâu đây ? Tim tôi đập mạnh. Xếp quần áo vào giỏ xong xuôi tôi hồi hộp ngồi chờ. Nhưng không thấy cai tù đến gọi tên tôi, ra lịnh cho tôi bằng 3 tiếng gọn: “Lấy đồ ra..!”. Tôi bồn chồn đợi mãi đến lúc anh bạn tù lao động trở lại cho biết :

– 4 ngừơi Sĩ, Cường, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn… đưa đi rồi. Coi bộ như đưa trở về Phan Ðăng Lưu…

Khi người tù đã chịu thẩm vấn ở Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu,  đã qua Nhà Tù Chí Hòa mà lại bị đưa trở về Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu thì nguyên nhân thường là trở về để chịu thẩm vấn lần nữa. Người tù này có gia nhập những tổ chức khác, hay có can một số tội mới bị phát hiện. Tôi thắc mắc mãi về việc 4 anh em chúng tôi : Sĩ, Cường, Ý, Nhạn… bị đưa trở về Số 4 Phan Ðăng Lưu, chỉ còn 3 anh em tôi — Trác, Tự và tôi — vẫn còn ở lại Chí Hòa. Lúc này anh Hiếu Chân đã chết… Bọn bị ghép vào tội Biệt Kích Cầm Bút chúng tôi gồm 8 người đã bị “hy sinh” mất một.

Tôi nhớ không rõ tháng mấy năm 1986, tôi chỉ nhớ việc xảy ra trước ngày Ðảng CS họp Ðại Hội 6. Một hôm Trác, Tự và tôi được gọi ra để “đi nghe đọc cáo trạng”. Chúng tôi sắp ra tòa. Một thư ký Tòa Án đến đọc bản cáo trạng và báo cho tù nhân biết ngày ra tòa trong một phòng thẩm vấn ở dưới đất. Ðến lúc này người thư ký Toà Án đến đọc cáo trạng mới biết một người tù có tên trong cáo trạng là Nguyễn Hoạt đã chết. Anh thư ký này cũng đến lúc đó mới biết là 4 người được anh đến đọc cáo trạng cho nghe là Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn đã bị chuyển sang nhà tù khác.

“Công an Thành phố HCM khởi tố vụ gián điệp hoạt động trên địa bàn Thành Phố Hồ chí Minh…”. Ðó là mấy giòng chữ đầu tôi đọc được trên bản báo cáo người công an thẩm vấn tôi đặt trên bàn, rất tiếc là mắt tôi kém, tôi lại đọc ngược giòng chữ nên không đọc được nhiều hơn.

Một buổi sáng Trác, Tự và tôi đứng xớ rớ chờ xe  ra tòa. Sáng ấy chỉ có 3 anh em tôi từ Chí Hòa ra tòa nên công an áp giải dùng chiếc xe Jeep. Hôm nào đông thân chủ họ dùng xe vận tải. Trên xe anh lái xe hỏi anh Cai Tù áp giải tù :

– Trưa về hay chiều về đây ?

– Chiều — Cai Tù áp giải trả lời, nói thêm — Chiều mà mai còn đi nữa.

Công an Chá xế ngạc nhiên :

– Cái gì ? Có 3 ngoe mà xử những 2 ngày sao ?

Cai Tù áp giải trả lời ngọt:

– 8 mạng tất cả. Một mạng tạnh rồi. 4 mạng ở Phan Ðăng Lưu…

“Một mạng tạnh rồi…”Tạnh”, nguyên văn lời Cai Tù Chí Hòa giải tù sáng ấy. “Tạnh” không phải là do tôi bịa ra.

Công an Chá xế nghiêng mặt về phía sau :

– Mấy em này văn nghệ chi đó, phải không ?

Công an Thành Hồ, kể cả Công an Chá xế, cũng loáng thoáng biết vụ văn nghệ sĩ ra tòa vì 2 tờ báo mạnh nhất ở Thành Hồ là tờ Công An và tờ Tuổi Trẻ, hai tuần báo, đang mở chiến dịch mạ lỵ chúng tôi ồn ào, ác ý và đe dọa. Họ đã viết về chúng tôi nhiều bài từ 2 năm trước. Nay chúng tôi ra tòa, họ hâm nóng trở lại vụ án. Họ dàn dựng một vụ xử thật nặng để răn đe kẻ khác: “Bọn gián điệp phải ra trước Tòa Án Thành Phố HCM để trả lời về những tội trạng của chúng...” Ðó là một trong những lời nói đầu loạt bài bọ công an VC Thành Hồ viết chửi rủa chúng tôi. Chúng kết chúng tôi vào “tội gián điệp.”

Nhưng năm 1986, chúng không xử được bọn Biệt Kích Cầm Bút. Ra tòa chúng tôi mới biết tòa đình xử. Vì Cường và Sĩ, Ý, Nhạn ở Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu. Nhà tù này thuộc thành phố. Chỉ cần Sở Công an Thành phố chi một cú điện thoại là những anh Cai Tù Phan Ðăng Lưu biết tòa không xử và không mất công đưa tù ra tòa. Nhưng với Nhà tù Chí Hòa thì phải có giấy tờ đàng hoàng. Vì vậy sáng hôm ấy Trác, Tự và tôi được xe Jeep đưa từ Chí Hòa ra tòa án, toà không xử, chúng tôi được gặp vợ, con, cháu, em, chị, thoải mái trong suốt một buổi sáng. Chị Oanh, vợ Cường, mắt đỏ lên khi nhìn vợ chồng, bố con, ông cháu chúng tôi ngồi quấn quít bên nhau.

Một công dân chỉ sau khi bị tòa án phán quyết có tội, mới bị coi là có tội. Ðấy là nguyên tắc luật pháp của tất cả những xã hội không cộng sản, những xã hội bị những người CS gọi là “thối nát, sa đọa, vô pháp luật…“, nhưng những nước XHCN “văn minh, tiến bộ” không công nhận nguyên tắc ấy. Lênin từng viết trên giấy trắng mực… đỏ :

“Việc chia chính quyền ra làm 3 ngành: lập pháp, hành pháp, tư pháp là trò bịp bợm của bọn tư sản. Quyền hành phải được tập trung vào một mối, và phải do giai cấp vô sản hành xử.”

Những người CSVN không có qua một sáng kiến gì cả. Tất cả những thủ đoạn họ làm, đều do họ học mót của CS Nga, Tàu. Việc bắt người, điều tra, kết tội đều do một người, hay do vài người quyết định, thực hiện. Bọn đảng viên CS đều có tính cách y hệt nhau. 3 đảng viên hay 10 đảng viên thì ý kiến cũng chỉ là một. Vì vậy những người CS ở khắp các nước bị đảng CS cai trị đều có một hành động giống nhau : khi công an của họ bắt giam một người nào đó, người bị bắt đã bị coi là có tội. Công an thay tòa án, công an kết tội công dân, trước khi tòa án của chính họ xét xử. Việc ra tòa dưới chế độ CS, chỉ là một màn kịch vô duyên. Một trò hề nhạt nhẽo nhão nhoẹt. Tất cả những diễn viên bất đắc dĩ, cùng nhà đạo diễn đều biết mình vô duyên, nhưng cứ mặt trơ, trán bóng đóng kịch.

Khi còn sống ở Thành Hồ, nghe tin loan trên những làn sóng điện VOA, BBC, tôi vẫn thắc mắc về việc những người đấu tranh cho dân chủ trên thế giới, những người tự nguyện bảo vệ quyền lợi của những người tù chính trị ở VN, “những tù nhân của lương tâm”, vẫn lên tiếng đòi nhà cầm quyền CS, phải đưa những người bị CS bắt giam vì bất đồng chính kiến ra xử trước tòa án. Việc người tù như anh em chúng tôi, được đưa ra Tòa án Nhân dân Thành phố HCM — Tòa án chuyên xử nhân dân, Toà án của bọn Cộng sản, không phải Toà Án của Nhân Dân  — xét xử năm 1986 không phải là việc “có lợi” cho anh em chúng tôi. CS có cái gọi là Ủy Ban Luận Tội — thành viên của ủy ban này gồm các cán bộ công an, Viện Kiểm sát và Tòa án. 3 cơ quan 3 đại diện nhưng chỉ có một đảng viên quyết định. Cả ba anh này đều là đảng viên. Ủy ban này được gọi là Ủy Ban Luận Tội, ba anh đảng viên luận tội, định mức án cho người tù. Bọn Chánh án VC chỉ là những tên VC tép riu thi hành quyết định của Ủy Ban Luận Tội.

Ðại hội Ðảng CS kỳ 6, năm 1986, đưa Nguyễn Văn Linh lên làm Tổng Bí Thư. NV Linh tuyên bố đảng thi hành chính sách đổi mới, cởi trói cho văn nghệ, v.v.. Trước NV Linh, Trường Chinh cũng lép nhép nói đến chyện phải đổi mới.

Những anh Công an Thành Hồ, những anh viết 2 tờ báo Công An, Tuổi Trẻ bị tẽn tò, vì bọn đàn anh của các anh năm ấy không xử được bọn Biệt Kích Cầm Bút. Các anh đã la lối om sòm, đã lớn tiếng tố cáo chúng tôi là “gián điệp”, các anh đã nhảy múa, ca hát trên xiềng xích của chúng tôi, các anh hớn hở đón chờ cái chết của chúng tôi.

Nhưng rồi… êm ru bà rù. Chìm xuồng nặng. Mấy ảnh tự động chấm dứt loạt bài viết đả kích, vu cáo, nhục mạ chúng tôi trên báo của các anh. Mới hôm trước các anh la sắp xử bọn “gián điệp, bọn chúng phải cúi đầu nhận tội..vv..vv..”, hôm sau mấy ảnh im luôn. Báo của mấy ảnh cũng không loan tin “phiên tòa xử bọn gián điệp hoãn ngày xử.”

Ra toà, tòa hoãn xử, trở về phòng giam Chí Hòa, chúng tôi lại ngày ngày gò lưng đánh cờ, lại bắt chước ông Trần Văn Hương mần thơ… Giữa, hay cuối năm 1987, tôi bàng hoàng khi được tin Dương Hùng Cường chết ở Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu.

Sống 4 năm trong tù, riêng tôi, ý tưởng chết đôi khi cũng đến ám ảnh tôi. Nhưng tôi gạt nó đi. Tôi vẫn nghĩ anh em tù chết, mình tù như anh em, mình cũng có thể chết như anh em. Cùng lúc ấy tôi lại nghĩ tôi không chết trong tù, tôi sẽ trở về với vợ con tôi, với cuộc sống.

Lúc 6 giờ sáng ngày 2 Tháng 5, 1984, khi xách giỏ quần áo đi theo tên công an ra khỏi nhà, tôi nói với vợ tôi câu cuối:

“Anh sẽ về với em.”

Thường lệ, cứ mỗi tháng lại có một chuyến xe tù đưa tù nhân từ Nhà Tù số 4 Phan Ðăng Lưu sang Nhà Tù Chí Hòa. Chúng tôi được anh em tù từ Số 4 Phan đ8ang lưu sang kể về trường hợp “Dê Húc Càn” Dương Hùng Cường qua đời trong biệt giam.

Cường và Doãn Quốc Sĩ bị đưa vào nằm biệt giam khi hai anh từ Nhà Tù Chí Hòa trở lại Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu. Một lần nữa Cường lại trở vào sà-lim khu C1. Anh em nói tối hôm trước họ, ở những phòng tập thể, còn nghe tiếng Cường đứng hát ở cửa gió Biệt Giam. 6 giờ sáng hôm sau, Cai Tù đi điểm số. Không thấy người tù Dương Hùng Cường đứng đưa mặt ra ô cửa gió, họ nhìn qua ô cửa gió vào phòng biệt giam. Người tù nằm ngửa trên sàn xi-măng. Gọi không dậy. Mở cửa vào, người tù đã chết trong đêm qua.

Dương Hùng Cường, sĩ quan Quân Lực VNCH, đã đi tù cái gọi là “cải tạo ngụy quân” 3 năm. Trở về, anh không sốt sắng với việc xin ghi tên trở vào Sổ Hộ Khẩu. Gia đình anh sống ở khu gần tòa nhà Cơ sở Trung tâm Nữ Quân nhân của Quân ta xưa, đường Lý Thường Kiệt. Chị Cường — chị Vương Thị Oanh — là cô giáo, nguyên nữ sinh Trưng Vương. Anh chị có 5 con gái. Ðến năm 1975, chị mới có bầu cháu thứ 6. Anh chị rất mong có mụn con trai. Anh xách túi lên đường “đi cải tạo” trước khi con anh chào đời. Con út của anh chị là con trai. Anh đặt tên con là “Phụng Hoàng” với ngụ ý “thờ phụng màu vàng”.

Cường có bệnh ở tai. Anh phải dùng thuốc Ampicilline thường xuyên. Từ Tháng Tư 1975 – tất nhiên – Cường không có Ampicilline để uống. Trước ngày bị bắt, tháng 5/1984, mắt bên trái của anh đã bắt đầu thấy nhức vì tai làm độc.

Thi thể Dương Hùng Cường được đưa từ Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu về nhà xác Chí Hòa. Vợ con anh được gọi đến nhà xác Chí Hòa nhìn mặt anh, chứng kiến tẩm liệm anh. Công an CS tối kỵ việc cho thân nhân lãnh xác bgười tù về nhà làm đám ma. Chúng cung cấp cho Dương Hùng Cường quan tài, xe chở lên chôn ở một nghĩa trang trên Lái Thiêu.

Ðầu năm 1988 — hơn 2 năm sau ngày chúng tôi bị đưa ra tòa năm 1986 với tội “gián điệp” nhưng hoãn xử — nhóm Biệt Kích Cầm Bút chúng tôi lại trở ra tòa.

Lần này họ đổi tội “gián điệp” họ gán cho chúng tôi thành tội “tuyên truyền phản cách mạng”. Án phạt của tội gián điệp từ tối thiểu là 12 năm tù đến tối đa là tử hình. Án phạt áp dụng cho tội “tuyên truyền phản cách mạng” là tối thiểu 2 năm tù đến tối đa tù là 12 năm.

8 anh em chúng tôi bị bắt cùng một đêm, bị khép cùng một tội, bị tập trung vào cùng một tổ chức. Sau 4 năm tù, 2 trong 8 anh em chúng tôi đã chết trong tù.

Bản cáo trạng kể tội bọn Biệt Kích Cầm Bút đọc ở tòa án HCM năm 1988 không còn ghi tên các anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường.

Tôi nói trước toà:

– 4 năm trước, anh em chúng tôi bị bắt là 8 người. Trong 4 năm tù tội, 2 người trong chúng tôi đã chết. Tôi biết khi người ta chết thì dù người ta ở đâu, ở chỗ nào cũng có thể chết. Nhưng 2 anh bạn chúng tôi, anh Nguyễn Hoạt bị áp huyết cao, anh Dương Hùng Cường bị bạo bịnh chết trong phòng biệt giam. Nếu 2 anh không bị tù, nếu 2 anh ở ngoài có thuốc, được chạy chữa, được cứu cấp, 2 anh đã có thể không chết. Hôm nay chỉ có 6 anh em chúng tôi đứng ở đây. Nhưng thực ra chúng tôi là 8 người. Ðứng bên trái tôi đây là anh Dương Hùng Cường, đứng bên phải tôi là anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt.

Một văn nghệ sĩ của Sài Gòn là anh Cung Tích Biền, anh đi với một người tôi nghĩ là cán bộ văn hoá, đến dự phiên toà xử chúng tôi. Anh Cung Tích Biền nghe tôi nói câu trên đây trước tòa, anh Cung Tích Biền thấy khi tôi vừa nói xong một câu, tôi được người đến dự vỗ tay cổ vũ. Tôi bàng hoàng khi nghe tiếng vỗ tay. Chuyện không bao giờ xẩy ra trong toà án Việt Cộng đã xẩy ra với tôi. Tôi ngỡ ngàng quay mình nhìn lại. Không biết số anh em trẻ ấy vào phòng xử từ lúc nào, ở những hàng ghế cuối phòng  có khoảng hai mươi ba mươi anh em trẻ tuổi. Nhóm anh em trẻ này vỗ tay cổ vũ tôi.

Lẽ ra khi ấy tôi phải để tay lên ngục, tôi phải nói:

– Cám ơn anh em.

Vì bị bất ngờ, vì không nhanh trí, vì ngu ngơ, hôm ấy tôi đã không nói lời cám ơn đó.

Hôm nay, một buổi sáng Tháng 12 năm 2010, ở xứ người, tôi nói:

“Cám ơn anh em.”

o O o

Một trong những đặc điểm của Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu là những cửa sắt phòng tù đều có 2 khóa. Khóa trên, khóa dưới. Ðặc điểm “phòng giam đôi khóa” ấy của Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu được nói đến trong bài thơ tôi mượn để gởi đến hương hồn Dương Hùng Cường. Bài thơ này không phải do tôi làm. Tác giả là một ông tù đã làm, khi người bạn của ông chết trong Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu. Tôi được nghe bài thơ này trong tù, nghe một lần mà nhớ mãi:

Thôi thế còn ai dám quấy rầy
Mấy thằng chấp pháp cũng khoanh tay
Ăng-ten lép nhép, thây cha nó
Quản giáo hăm he, kệ mẹ bây
Vĩnh biệt phòng giam đôi khóa sắt
Tiêu dao cực lạc, chín từng mây
Lê-nin, Các-Mác bao giờ gặp
Sẵn gậy ông phang chúng mấy cây

o O o

Dương Hùng Cường… Chúng ta cùng đi chuyến xe từ Bà Chiểu sang Chí Hòa một sáng Tháng 5/1985. Thấm thoát đã 25 năm. Chúng ta trao đổi với nhau vài câu nói, vài tiếng cười, vài ánh mắt trên chuyến xe ấy. Rồi thôi. Ngàn năm xa cách. Hôm nay ngồi bình yên trên đất Virginia — Virginia đất của Tình Yêu, đất dành cho những người yêu nhau — Virginia is for Lovers — tôi nhớ hình ảnh Cường trong chiếc áo pull xanh, quần kaki, túi quần áo đặt dưới chân, đứng trong hành lang Khu C1, chờ Cai Tù mở cửa phòng biệt giam.

Dương Hùng Cường.! Tôi đã gọi tên Cường một lần ở giữa trái tim Sài Gòn bị chiếm đóng của chúng ta.

Dương Hùng Cường..! Hôm nay tôi gọi tên Cường ở xứ người.

Advertisements

16 Responses

  1. Nice…Thx ong HHT nhieu…
    Cris Trinh

  2. Mời các bác đọc bài “Khóc bạn”, kể chuyện về gia đình nhà văn DHC để thấy thêm tội ác của việt công.

    http://nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=121819&z=192

    • December 30, 2010. Kinh gui Mrs Tbui. Toi muon doc bai nay nhung khong open cai link nay duoc. Rat tiec. CTHD

      • Khóc bạn

        Bác Dương thôi đã thôi rồi
        Nước mâyman mácngậm ngùi lòng ta

        Từ thuở ấu thơ, anh em chúng tôi đều được mẹ ru bằng bài thơ Khóc Bạn của cụ Tam nguyên Yên Đổ khóc ông cố nội chúng tôi là cụ Nghè Dương Khuê. Bài thơ trở thành bài ca dao nằm trong ký ức tôi từ ngày đó, hơn 40 năm sau lại bật ra như những lời nhớ thương tha thiết của tôi với người bạn thân: Vũ Hoàng Oanh. Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê lúc tuổi đời đã xế chiều nên nỗi nhớ chỉ là ngậm ngùi, còn tôi khóc bạn khi tuổi đời chưa tới 50 là cái khóc xót thương vô hạn.

        Ngày còn học Trưng Vương thì Oanh học trên tôi một lớp. Chúng tôi chỉ biết nhau nhưng chưa phải là bạn. Mãi đến khi thi vào trường Sư Phạm, vô tình làm sao, hai đứa trùng tên nên có số báo danh kế nhau. Gặp nhau ở trường thi, lại ngồi cạnh nhau thì không quen cũng thành quen huống chi chúng tôi cùng là dân TV lại biết nhau từ trước. Dĩ nhiên hai đứa tôi mau chóng kết hợp với nhau, cóp qua cóp lại bài nhau nên kết quả là hai đứa cùng đậu và còn được xếp chung vào một lớp. Tôi và Oanh trở thành bạn thân từ đấy.

        Oanh không đẹp nhưng dễ thương với đôi má bầu bĩnh, đôi mắt hơi đượm buồn, lúc nào cũng như vướng vất một câu hỏi gì chưa được giải đáp.Nhưng điều mà bạn bè nhớ nhất ở Oanh là tính tình đôn hậu, chiều bạn và tử tế với mọi người.

        Đời học trò, dẫu rằng lớp học trò này đang chuẩn bị làm người lớn, vẫn có biết bao niềm vui nỗi buồn non trẻ để chia sẻ cùng nhau. Đôi khi thấy bạn bè có người yêu đến đón hoặc ghé thăm, đôi mắt hỏi han cuả Oanh chợt tối lại, vương một chút buồn bã. Tôi gạn hỏi, Oanh chỉ lắc đầu, nhiều lần sau nữa, chẳng đặng đừng, Oanh cười mỉm chi đáp” Nhớ bồ” “Thế bồ đâu rồi “ “Bồ thuộc người khác rồi”, rồi nhanh chóng Oanh lảng ngay” Thôi khỉ ạ, đừng hỏi nữa, chuyện xưa rồi”.

        Thời gian trôi thật nhanh. Gần đến ngày ra trường, chúng tôi gấp rút học thi và ráo riết chuẩn bị các bài thi thực tập. Một hôm, gặp phải bài thi hóc buá, tôi hỏi mượn Oanh một bài mẫu vì Oanh rất chăm chỉ trong việc sưu tầm các bài dạy mẫu, còn tôi là con cháu họ lười nên rất chểnh mảng. Oanh đang hí hoáy viết nên bảo” Mở cặp ra, ngăn bên trái đó”. Tôi mở cặp lục lọi. Bài mẫu chẳng thấy đâu, tôi vớ ngay được một lá thư. Quên béng ngay bài dạy, tôi len lén kéo nhẹ tờ thư ra khỏi baovà liếc thật nhanh vài giòng. “Ồ, thư tình”, tôi thầm kêu trong đầu. Vừa lúc đó Oanh quay sang, thấy vậy, Oanh vội vã quăng ngay cây bút, xoài người giựt lại lá thư, miệng la bài hải ‘Ố́í, ối, trả đây, trả đây”. Lá thư không dài và cũng không có những lời lẽ yêu đương hoa mỹ nhưng đọc thì biết ngay đó là thư tình, thư tình cuả một nhà văn. Ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ cuả một người viết văn thì có muôn ngàn cách để bày tỏ tình yêu. Tôi mừng thấy bạn bẽn lẽn cất lá thư. Một chút ửng hồng trên đôi má bầu bĩnh… Từ đó tôi thấy Oanh hay cười hơn.

        Trong khi chờ đợi kết quả sắp hạng ra trường, chúng tôi phải đi khám sức khoẻ tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Hôm đó Oanh chở tôi bằng chiếc Vélo Solex mượn được. Chỉ còn cách bệnh viện khoảng 100m thì bất ngờ xe đang chạy ngon trớn bỗng đâm xầm vào một đống đá xanh đổ ngay giữa lòng đường. Xe mất thăng bằng đổ ập xuống, quăng hai đứa chúng tôi ra hai nơi. Lúc đó tôi đang có thai cháu đầu lòng khoảng 4 tháng. Hốt hoảng,Oanh bật dậylao ngay về phiá tôi mà không thấy rằng 1 đầu gối quần bị rách để lộ vết thương rướm máu và 1 bàn tay bị đá xanh đâm nát máu thấm đỏ cả. Oanh lính quýnh ôm nâng tôi dậy, mặt tái mét, miệng líu lại” Oanh, Oanh có sao không? Có đau bụng không?” Tôi tuy cũng rất lo sợ cho cái thai nhưng thấy Oanh quá lo lắng cho tôi, tôi thấy lòng cồn cào thương bạn nên vội trấn an”Mình không sao, đừng lo. Thôi mau nhấc xe dậy, vào ngay bệnh viện nhờ họ băng bó cho Oanh”.

        Ra trường, tôi về̀ dạy ở Gia Định, còn Oanh xuống Biên Hoà. Như một sui khiến cuả số mệnh, người yêu cuả Oanh,nhà văn Dương Hùng Cường, còn có bút hiệu là Dê Húc Càn đồng thời là một quân nhân cũng đang làm việc tại phi trường Biên Hoà. Họ đã được gần nhau, cuộc tình dẫn đến kết cuộc tốt đẹp là cái đám cưới vào năm 1964. Năm sau, 1965, Oanh sinh cháu đầu lòng Dương Mạc Thi rồi tiếp theo Oanh sinh liền 7 cô công chúa trong vòng 10 năm. Khi anh Cường đổi về làm việc tại Sài gòn thì Oanh cũng được thuyên chuyển về dạy học taị trường Hồng Bàng (sau năm 1975 thì dạy tại trường Hùng Vương, cùng thuộc quận 5). Chúng tôi lại có dịp gần gũi nhau.

        Vào khoảng năm 74 tôi thấy Oanh ngoài giờ dạy ở trường công còn dạy thêm ở 2 trung tâm tư nữa. Thấy tôi thắc mắc sao Oanh dạy quá nhiều, không còn thời giờ dành cho các con nữa thì Oanh tâm sự:” Ông Cường giành phần chăm mấy đứa nhỏ. Ông ấy bảo, ổng ru con hay hơn mình”, rồi Oanh xuống giọng “ Mình phải dạy thêm lấy tiền cho ông Cường in truyện”. Nói là chăm sóc con chứ thật ra thì lúc đó gia đình nào cũng có người giúp việc, lo cơm nước, giặt giũ, bế bồng trẻ nhỏ rồi. Tôi
        thông cảm với Oanh vì thời gian đó, lương hai vợ chồng gom lại, dẫu rằng anh Cường còn viết báo thêm cũng chỉ đủ chi tiêu cho một gia đình mười mấy miệng ăn mà thôi. Muốn in sách truyện, Oanh phải cật lực giúp chồng. Thế là bao nhiêu tiền bạc dành dụm được đều đổ dồn vào việc cho ra đời đứa con tinh thần “Vĩnh biệt Phượng”. Thương thay, sách vừa xuất xưởng, chưa kịp phân phối ra ngoài thì ngày 30 tháng 4 như một cơn cuồng phong ập đến, xoá tan hết bao ước mơ, bao xây đắp cuả cả một miền Nam thân yêu trong đó có 2 gia đình chúng tôi. Ông xã tôi cũng như anh Dương Hùng Cường đều trở thành tù nhân cuả chế độ mới và 2 gia đình chúng tôi trở thành những nạn nhân như trăm ngàn gia đình quân nhân công chức chế độ cũ, luôn luôn bị soi mói, rình rập, theo rõi, lúc nào cũng sống trong phập phồng, lo lắng, sợ sệt… Với đồng lương chết đói, chúng tôi vẫn phải cố bám vào trường lớp để khỏi phải bị đuổi đi vùng kinh tế mới. Hai đứa tôi cùng chia nhau cái ngậm ngùi cuả số phận. Oanh 7 con và tôi 6, gia tài chỉ là hai bàn tay trắng với cõi lòng đầy ắp âu lo. Chúng tôi càng gắn bó với nhau hơn. Hai đứa lăn lưng ra làm đủ mọi việc

        Thoạt đầu là bán sách. Lúc bấy giờ chủ trương cuả chế độ mới là thiêu huỷ hết số sách báo của miền Nam được gọi là văn hoá đồi truỵ, tàn dư Mỹ ngụy. Chúng tôi lại thuộc các gia đình văn nghệ sĩ, càng bị để ý, bị lục xoát thường xuyên hơn. Nếu trái lệnh sẽ bị ghép vào đủ thứ tội tình. Để được yên thân nuôi con và cũng là để che mắt thế gian, chúng tôi gom góp hết số”tàn dư Mỹ ngụy”trong nhà, nhờ người quen dẫn giắt lên chợ sách Nguyễn Huy Thiệp bày bán. Nhìn những cuốn sách mình từng nâng niu yêu quý từ từ đội nón ra đi, lòng tôi bùi ngùi khôn tả. Cầm cuốn “Chạy trốn Tự do” mà ông xã tôi mới dịch trước đó không lâu, tôi thầm tự hỏi:” Tại sao laị dịch cuốn sách mang cái tên oan nghiệt này?” Cuốn Vĩnh Biệt Phượng cuả anh Dương Hùng Cường cũng cùng chung số phận, phơi mặt trên 1 tấm ni lông trải dưới mặt đường con phố NHT. Tôi và Oanh thủ 2 cái nón rộng vành, hễ liếc xa xa thấy người quen kẻ thuộc hay bạn bè gần xa cuả chồng thì lập tức cái nón được kéo sụp xuống. Ôi thời thế có ai học đến chữ ngờ!

        Một hôm vào khoảng xế trưa, hai đứa đang ngồi vêu ra thì một cháu gái cuả Oanh đạp xe lên tìm mẹ, báo tin em bé út vưà phải vào nhà thương. Khi đó cháu Dao Tiên mới non 1 tuổi. Oanh hốt hoảng ra về. Hôm sau, rồi hôm sau nữa cũng không thấy Oanh lên tôi đoán chắc Oanh phải ở trong bệnh viện với con. Ba, bốn hôm sau Oanh trở lại, cặp mắt còn sưng, oà khóc, nói” Oanh ơi, cháu Dao Tiên mất rồi. Cháu mất vì thiếu dinh dưỡng , vì đói ăn đó Oanh ạ! “

        “ Nghề “ bán sách cuả chúng tôi do thời cuộc mà tự sinh thì cũng do thời cuộc mà tự diệt. Ch́úng tôi học quấn thuốc lá, vào bao rồi đem vô Chợ Lớn bán nhưng cũng chẳng được bao lâu thì chợ thuốc lá cũng bị càn quét. Tôi nhờ biết may vá từ nhỏ nên quay ra may quần áo con nít đem giao các chợ, còn Oanh thì đi bỏ mối bánh kẹo cho các căn tin trường học. Cứ thế, chúng tôi lần hồi sống qua ngày.
        Ngoài lúc đi kiếm cơm, chúng tôi còn rủ nhau đi kiếm chồng tù. Hai năm trời biền biệt không chút tin tức, chúng tôi lo sợ cho số phận các ông chồng. Dò la, thăm hỏi chẳng có kết quả, chúng tôi đánh bạo rủ nhau lên tận ban Quân quản Thành phố để hỏi han. Câu trả lời cũng chỉ như bao nơi khác:” Cứ yên tâm chờ đợi “. Cuối cùng thì cuối năm 1977 cũng có tin về sau hơn 2 năm kể từ ngày các sĩ quan cuả chế độ cũ nghe lời đường mật “ Chuẩn bị đồ ăn uống và vật dụng cá nhân trong vòng 10 ngày để đi trình diện”. Ông xã tôi bị nhốt ở trại Hàm Tân, còn anh Cường thì ở Long Khánh. Cứ 3 tháng chúng tôi được phép thăm nuôi tiếp tế thức ăn và thuốc men 1 lần. Hai đứa lại có dịp chỉ bảo nhau làm món gì để được lâu, thuốc nào cần nhất v..v.. để mang lên trại.

        Tôi còn nhớ thời gian đó, mỗi chiều tối, sau giờ tan trường, Oanh thường ghé tôi, có khi ở đến tận khuya. Các con Oanh ở nhà đã có cô cháu gái mà Oanh cưu mang từ sau năm 75 chăm nom cơm nước. Chúng tôi ngồi bên nhau chia sẻ mọi điều. Tôi hiểu Oanh nhiều nỗi lo lắng vì nợ nần thúc giục mà không có phương cách giải quyết. Tôi đỡ hơn Oanh một chút là tôi còn có mẹ. Đôi khi hai đứa ngồi bên nhau hàng giờ mà chẳng nói với nhau một tiếng nhưng chúng tôi đều hiểu rằng chúng tôi đang chia nhau nỗi sầu khổ âm thầm.

        Một hôm, khoảng sau Tết năm 1978 Oanh ghé tôi theo lệ thường, nhưng hôm đó vẻ mặt Oanh rất bần thần, ngồi hoài không nói. Tôi hỏi:
        – Hôm nay Oanh có chuyện gì không mà như mất hồn vậy?
        Oanh vẫn ngồi yên không nói. Tôi đứng dậy rót cho bạn 1 ly nước, đến ngồi gần bên ân cần:
        – Có việc gì hả Oanh?
        Sau một phút ngập ngừng, Oanh nói khẽ thật khẽ như sợ có ai nghe thấy:
        – Ta nói cái này, đừng giật mình nhé…Mình có bầu.
        Tôi giật thót mình, hai lỗ tai lùng bùng.
        – Oanh nói gì? Ai có bầu?
        – Mình.
        – Hả?
        – Mình có bầu thật đấy, vừa đi khám bác sĩ về xong.
        Tôi trân trối nhìn Oanh, vẫn không tin ở hai tai mình. Biết vậy, Oanh mới tỉ tê khai:
        – Hôm Tết rồi đi thăm ông Cường, trại cho ở lại một đêm…Tôi thở phào như trút được cho chính mình gánh nặng nghìn cân. Oanh nói tiếp:
        – Oanh ơi, dẫn mình đi phá đi, mới được khoảng hai tháng thôi, phá chắc dễ.
        Tôi ngỡ ngàng hỏi lại:
        – Phá? Sao lại phá?
        – Chứ để thì làm sao coi được. Ai đời cô giáo có chồng đi tù mà lại mang bầu. Đâu có ai hiểu…
        – Thì nói ra cho mọi người biết.
        – Ai tin? Bạn bè, rồi còn học trò nữa chứ. Eo ôi, nghĩ đến là ta rùng mình rồi.
        Tôi chợt thấy Oanh có lý. Ừ, ai mà tin nổi, nhất là thời buổi này. Toàn ban giám hiệu đều là người cách mạng, họ sẽ có cớ để bêu riếu, để bôi tro trát trấu lên đầu lên cổ vợ con “ thằng ngụy”. Tôi thở dài:
        – Ừ, để mình tính xem.
        Nói vậy cho Oanh yên lòng chứ thật ra tôi cũng chẳng biết tính làm sao. Tối đến, trong bữa cơm gia đình, tôi nói chuyện với mẹ tôi về việc Oanh muốn tôi chia sẻ. Mẹ tôi bảo:
        – Ngày mai Oanh có ghé, con gọi mẹ, mẹ hỏi cô ấy một tí.
        – Mẹ hỏi gì hả mẹ?
        – Có phải Oanh toàn con gái không?
        – Vâng, 7 đứa, bỏ 1 còn 6, toàn là gái cả.
        – Mẹ muốn tính xem lần này có bầu, Oanh sẽ sinh trai hay gái.
        – Trai hay gái thì thay đổi được gì hả mẹ. Cũng bia miệng mà thôi.
        – Mình sẽ nghĩ cách giùm cô ấy. Vả lại, vì sợ bia miệng mà phá bỏ đi một đứa con cuả mình thì sẽ mang tội con ạ.

        Mẹ tôi đặc biệt có một cách tính rất tài tình để biết người mẹ sẽ sinh trai hay gái. Cụ có dạy cho tôi một bài toàn chữ Hán, tôi học mãi không thuộc(vì mình có biết tí teo chữ Hán nào đâu). Tôi đã chép vào 1 cuốn sổ để dành nhưng qua hết đợt bố ráp này đến đợt bố ráp khác nó đã không cánh mà bay.
        Dẫu rằng cả Oanh và anh Cường đều không mang tư tưởng “ nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” nhưng cha mẹ nào mà chả mong ước mình có đủ cả trai lẫn gái.
        Sau khi gặp mẹ tôi, Oanh mừng lắm, không còn nghĩ đến việc phá thai nữa vì tin tưởng rằng lần này sẽ sinh được một quý tử.

        Thông thường, cứ mỗi đầu tháng, các giáo viên chúng tôi đều phải họp toàn trường để kiểm điểm công việc dạy và thực hiện các chỉ thị của Phòng hoặc Sở giáo dục. Tôi xúi Oanh trong phiên họp kỳ này lấy cớ báo cáo 1 công việc gì đó rồi bôi mặt cám ơn nhà nước đã cho chúng tôi được gặp mặt, tiếp tế cho chồng ở trại giam lại còn gia ân cho ở lại trại 1 ngày 1 đêm nhân dịp Tết vừa qua nữa. Việc đó quả nhiên hiệu nghiệm. Oanh tuy bị trêu chọc song đã thoát được cơn hiểm nguy. Cũng may mắn cho Oanh, chỉ vài tháng sau khi cái bụng bầu của Oanh lộ rõ thì anh Cường được về.

        Một hôm tôi vừa từ chợ về nhà thì đã thấy anh Cường ngồi đợi. Không kịp để tôi hỏi han câu nào, anh đã vào đề liền:
        – Oanh sinh rồi chị, ở Bệnh viện Hùng Vương, con trai.
        – Ồ, chúc mừng anh. Chắc là Oanh vui lắm. Kỳ này hai ông bà có quý tử, phải ăn mừng thôi
        Không trả lời câu nói đuà cuả tôi, anh chìa ra mảnh giấy cỏn con nói:
        – Oanh gửi chị cái này.
        Tôi vội vàng mở mảnh giấy đọc” Oanh ơi, cứu bồ, cho mình mượn 50 đồng để đóng tiền bệnh viện nhé”.

        Tôi vừa đi giao hàng về nhưng cũng chỉ có trong tay 30 đồng. Tôi vội vã đạp xe lại ngay nhà chị bạn cùng trường. Tuy chẳng giầu có gì nhưng chị tương đối khá giả hơn chúng tôi vì những tháng ngày xa xưa trước 75, chị là con kiến biết lo xa, ki cóp mua vàng để dành,( trong khi tôi lại là con ve, kêu ra rả hết muà hè, chỉ biết rong chơi ca hát , cho nên khi đông về thì đói rã răng). Chị lại có lòng tốt nên bạn bè khi cơ nhỡ chị đều sẵn sàng san sẻ.

        Trao cho anh Cường năm chục bạc xong, tôi biết ngày mai không có tiền chợ cho con song trong lòng vẫn vui vì mừng cho bạn, càng mừng hơn vì thấy cách tính cuả mẹ tôi thật chính xác, không làm cho Oanh mừng hụt. Nhưng người mừng nhất ắt hẳn là anh Dương Hùng Cường. Anh đặt tên cho cháu là Phụng Hoàng, Dương Phụng Hoàng, con chim quí.

        Khoảng 3,4 năm sau khi ra tù, anh Cường liên lạc được với nhà văn Trần Tam Tiệp đang cư ngụ tại Pháp xin lên tiếng kêu gọi Văn Bút Quốc Tế can thiệp và giúp đỡ cho một số các gia đình văn nghệ sĩ Miền Nam còn kẹt lại quê nhà, đang gặp rất nhiều khó khăn cả về 2 mặt vật chất lẫn tinh thần. Ít lâu sau đó, mỗi năm gia đình chúng tôi nhận được từ 1đến 3 thùng thuốc tây gửi từ Pháp về(nhưng có lẽ đó là do chính tiền cuả anh TTTiệp, chứ không phaỉ cuả VBQT). Song song với thùng quà đôi khi còn có cả 1,2 tờ báo Kháng Chiến nữa. Rồi anh bảo anh em bên nhà viết bài gửi sang. Những thùng quà tuy ít ỏi này cũng đã giúp được gia đình chúng tôi qua những cơn vô cùng bĩ cực. Nhưng oan nghiệt thay, cũng chính những thùng quà này lại đưa chồng tôi, Khuất Duy Trác, anh Dương Hùng Cường và một số các văn nghệ sĩ khác như các nhà văn Dzoãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thuỷ, Hiếu Chân, các nhà thơ Lý Thụy Ý, Trần Ngọc Tự… vào tù lần thứ hai. Bọn Công an thành phố còn viết nguyên một cuốn truyện đầy tính bịa đặt và vu cáo có tên Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, hòng bôi bẩn và hạ giá nhóm văn ngệ sĩ trên, sửa soạn dư luận cho một bản án thật nặng nề. Chúng đem giam một số tại nhà giam Chí Hoà, số còn lại tại trại giam Phan Đăng Lưu, có ông xã tôi và anh Cường. Oanh và tôi lại có cùng một địa chỉ để tới lui. Số phận chúng tôi cứ gắn chặt với nhau trong những hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy.

        Do từ việc bỏ bánh kẹo cho các căn tin trường học, Oanh lần hồi biết được cách thức để đấu thầu toàn bộ cả căn tin cuả mỗi trường. Oanh rủ tôi làm công việc này. Thế là hai chúng tôi cùng khởi sự tại một ngôi trường Tàu trong Chợ Lớn. Sau này rành rẽ rồi thì mỗi đưá làm ở mỗi trường khác nhau.

        Cứ vào cuối mỗi năm học, giáo viên các trường đều phải điều chỉnh lại tờ lý lịch đã khai từ những ngày đổi đời 30/4/75. Năm 1980, con gái thứ hai cuả tôi đi vượt biên, tôi không khai. Đến khi ông xã tôi bị bắt lại lần 2 tôi cũng không khai. Ban giám hiệu nhà trường chắc hẳn không biết nên tôi vẫn được yên thân. Bất ngờ, vào đầu năm 87, hiệu trưởng mời tôi lên nói chuyện. Bà hỏi han tôi về tình hình gia đình, chồng con, công việc v..v.. và cuối cùng bà hỏi tôi có up to date lý lịch đầy đủ cho mỗi năm không. Tôi manh nha thấy điều gì đó không ổn. Tuần lễ sau tôi xin nghỉ bệnh và tuần kế tiếp tôi tống tiếp lá đơn xin thôi việc. Ở thời điểm này, chiến dịch tống khứ gia đình vợ con tù cải tạo đi kinh tế mới đã chấm dứt vì hoàn toàn thất bại. Từ các vùng kinh tế mới, biết bao gia đình đói rách tả tơi, bệnh hoạn, người sống kẻ chết, lũ lượt kéo về thành phố, nằm la liệt tại các công viên,chợ, nhà thờ, chùa…chính quyền không thể xua đuổi vì họ không còn nơi chốn để dung thân nữa. Do đó tôi không còn lo sợ vì phải lên rừng lập nghiệp.Lại nữa tống khứ đi được một con vợ “ngụy”, cũng nhẹ gánh lo cho ban giám hiệu nên họ nhận đơn mà không hỏi han gì cả.

        Thời gian này rộ lên rất nhiều tin tức về việc Mỹ sẽ đón các sĩ quan QLVNCH bị tù cải tạo. Tuy rằng chỉ là tin đồn miệng, chẳng có một nguồn xác thực nào nhưng chúng tôi vẫn cứ nuôi hy vọng trong lòng để tiếp tục sống và tiếp tục chịu đựng.

        Một ngày đầu tháng 12 năm 1987, lúc đó khoảng 2-3 giờ trưa tôi đang ở nhà thì cô cháu gái cuả Oanh đến, mặt mũi phờ phạc, nói như đứt hơi:” Cô ơi, chú Cường mất rồi, cô con đang xỉu ở nhà, cô xuống mau đi cô”

        Khi tôi bước chân vào đến nhà thì thấy Oanh đang vật vã vừa khóc vừa gào: “Tôi không sống một mình đâu, trời ơi là trời”. “Anh Cường ơi, em không sống một mình đâu” !! Tôi ôm lấy tấm thân gầy guộc của bạn, lòng đau xót từng cơn và nước mắt cứ mặc tình tuôn chảy… Không biết bao lâu sau, khi kêu gào đã quá mệt, tôi đỡ Oanh nằm xuống giường rồi bảo với các con Oanh: “ để yên cho mẹ nghỉ một chút “

        Hàng xóm xung quanh nghe tiếng khóc, vài ba người lấp ló ngoài cửa.
        Bình tâm trở lại, tôi hỏi thăm cháu Linh, cháu tỉ tê kể : “ Sáng nay cháu ở nhà, công an khu vực tới đòi gặp mẹ. Cháu bảo mẹ đang dạy ở trường, anh ấy nhắn bảo mẹ ra phường gấp có giấy báo cuả bố”. Khi cháu ra trường bảo cho mẹ biết thì mẹ vẫn nghĩ là tin mừng. Mẹ bảo “ chắc bố được thả…ồ, hay là…Mỹ đón”. Mẹ bảo cháu về trước, chuẩn bị đồ vest cho Bố. Đến khi hai mẹ con ra đến phường nhận giấy mới vỡ lẽ…Họ bảo sáng ra đến giờ tập họp, không thấy bố ra, đến đập cửa phòng cũng không thấy bố cháu trả lời, họ mở khoá ra thì thấy bố cháu đã mất rồi.

        Oanh được phép đến trại giam Phan Đăng Lưu để nhận diện xác chồng trước khi được phép chôn cất. Đám tang phải làm gấp ngày hôm sau và chỉ cho 2 người mang áo quan vào lấy xác tại khám Chí Hoà mà thôi. Hôm sau tôi đi cùng với Oanh nhưng phải ngồi chờ ngoài gốc cây trước cổng trại cùng với các con nhỏ cuả Oanh. Số bạn bè và họ hàng thân thuộc đến đưa tiễn đều không được tập trung một nơi mà phải phân tán rải rác dọc theo con đường Hoà Hưng, chờ đợi khi xe tang ra đến đầu đường rồi mới được tháp tùng theo. Ôi, quân Cộng sản sao mà độc ác. Người sống chúng không tha đã đành, người chết chúng cũng không cho chôn cất tử tế…Huyệt mộ đã lấp lại rồi nhưng Oanh vẫn đứng trơ trơ như một bức tượng. Nước mắt đâu? Có lẽ nó đã chảy ngược vào lòng. Tôi chợt nhớ đến bài thơ “Đi nhận xác chồng” của Lê Thị Ý:
        ……………………
        Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
        Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu

        Thật tội nghiệp cho bạn tôi. Cũng thật tội nghiệp cho những người phụ nữ trót sinh ra trong thời đại chúng tôi.
        Vết thương tang chồng chưa ngưng chảy máu thì 3 tháng sau Oanh lại phải rứt ruột
        đẩy đứa con gái đầu lòng thân yêu, Dương Mạc Thi, ra đi trong một chuyến vượt biển với bao bất trắc chờ đợi. Than ôi, đó cũng là lần cuối cùng Oanh nắm đ̣ược bàn tay nhỏ bé cuả con: chuyến tàu chở cháu Thi đã không bao giờ tới bến. Chỉ trong vòng 4 tháng Oanh đưa hình hai người thương yêu nhất đời mình lên chùa…

        Rồi giòng đời lại tất bật trôi đi. Oanh vội vã bịt kín những vết thương, dấu chặt nó vào tận cùng trái tim để ngày ngày phải đối mặt với những cam go cuả cuộc sống, với tương lai cuả bầy con còn lại. Thời gian sau này chúng tôi ít gặp nhau hơn vì mỗi đứa thầu riêng mỗi trường mà công việc thì quá đa đoan, tất bật, cần đến rất nhiều thời gian, Oanh lại vẫn theo đuổi công việc dạy học.

        Mùa hè năm 1989, giữa chúng tôi có vài chuyện không vui, tôi giận Oanh. Biết mình không đúng, xin lỗi tôi không xong, Oanh nhờ một cô bạn khác đến năn nỉ, tôi vẫn gan cùng mình không chịu làm hoà. Gần 2 tháng trời chúng tôi không gặp nhau. Một buổi trời đã chạng vạng tối, một anh bạn tù cuả ông xã tôi, hốt hoảng đến báo tin Oanh bị đụng xe, đã đưa vào bệng viện Trưng Vương, nhưng tình trạng hình như không được ổn. Tôi tức tốc vào thẳng nhà thương trong tâm trạng rối bời và thật hồi hộp.
        Oanh nằm đó, bất động, đôi mắt đã khép lại vĩnh viễn…Tôi bật lên khóc nức nở, nắm lấy tay bạn, sờ lên mặt bạn, vuốt trên người bạn, tôi muốn gào lên “ Oanh ơi. Oanh ơi, mình đây, mình đang ở bên Oanh đây, mình không còn giận Oanh nữa đâu, tỉnh dậy đi Oanh ơi “!!! Tôi đưa tay bứt mớ tóc trên đầu xem mình có thật sự tỉnh không, có phải đây là sự thật không…Nỗi hối hận trong tôi trào lên, tôi giận tôi, tôi ghét tôi, tôi là con bạn tồi, sao tôi cố chấp thế…Tuy đã cố dằn vì chỗ đông người, cổ họng tôi vẫn bật lên tiếng gọi “ Oanh ơi. Oanh ơi. Dậy đi, mình thương Oanh lắm, có nghe mình nói không?”

        Tôi ngồi bên Oanh như thế, nước mắt tiếp tục chảy không thôi, biết bao điều muốn vuột ra khỏi trái tim nên lồng ngực đau thắt…..Lâu lắm, chợt nghe tiếng bà dì Oanh nói “Cô phụ tôi thay quần áo cho Oanh nhé. Người bây giờ còn mềm, thay dễ “.

        Tôi nâng đầu Oanh dậy tay chạm ngay vết thương sau ót, máu còn dính bết vào tóc. Đến lúc thay áo lại phát hiện ra phần dưới cũng bị thương, hình như vỡ xương hông thì phải. Ôi, đau đớn biết bao!
        Mãi sau này các cháu con Oanh mới kể rằng, sáng hôm đó, một cậu nhỏ mới quen đến chở Oanh về Thủ Đức để đi hỏi vợ giùm cho cậu ta. Buổi chiều, trên đường về, đã gần đến nhà, đang băng qua con lộ Lý Thường Kiệt để vào ngõ thì bị một xe hơi do người tài xế say rượu đâm phải.

        Oanh là thế đấy, hay làm chuyện bao đồng để giúp người .
        Oanh mất đi bỏ lại bầy con 5 đứa. Con chim quý, Phụng Hoàng, cuả vợ chồng Oanh sinh bất phùng thời, mới 10 tuổi đầu đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhưng như một định luật bù trừ, hai con lớn cuả Oanh tiếp tục công việc cuả mẹ, không những đã duy trì được mức sống đầy đủ cho gia đình mà các cháu còn dìu giắt nhau học hành tới nơi tới chốn nữa. Nếu người ta tin có linh hồn thì chính linh hồn người Mẹ, day dứt lúc ra đi đã quay trở lại thế gian này để phù trợ cho các con vươn lên trong cuộc sống.

        Hôm nay ngồi viết những giòng hồi tưởng này về một phần đời không nhỏ của bạn tôi, Vũ Hoàng Oanh, người phụ nữ tâm tính hiền lành, hay giúp đỡ người khác nhưng số phận cay nghiệt đã dành cho cuộc đời bao tang thương, oan trái. Khi sống, tâm tư luôn mòn mỏi vì lo toan cơm áo, còn mang nặng những vết thương không cơ hàn gắn. Đến lúc lià đời, lại ra đi trong một cơn mê khốc liệt với thân thể đớn đau, với cõi lòng đứt đoạn vì bầy con thơ dại.

        Oanh ơi, những giòng hồi ức hôm nay cũng còn là những nén hương muộn màng mình thắp lên để nhớ đến Oanh, nhớ đến một quãng đời hai chúng ta cùng chung bước trải dài từ tuổi học trò cho đến khi vĩnh biệt.
        Ngủ đi Oanh, hỡi bạn hiền,
        Ngủ cho say nhé, triền miên giấc nồng
        Chuông chùa vọng giữa thinh không
        Đưa hồn an lạc về vùng tịnh yên.
        Hai mươi năm, ngày giỗ bạn

        21/6/1989 – 21/6/2009

        Ấu Oanh

      • Kính CTHĐ ,

        Hôm qua đọc message của CT, tôi post liền bài “Khóc bạn”, nhưng chắc bác NAT đã post rồi nên bác BT bỏ.

        Nhà văn DHC, HHT và ca sĩ DT là những người tôi ái mộ , khi đọc bài viết này tôi khóc quá trời , thấy sao người phụ nữ Việt nam khổ quá.

        Tôi save trong computer của tôi và chuyển đi cho rất nhiều người khác đọc, vì thời của tôi , bạn bè ai cũng có dịp đọc văn DHC với nghe DT hát và cũng để chuyển tải tới mọi người thêm bằng chứng tội ác của việt cộng.

    • Đọc bài này thấy xót xa quá. Tôi không gặp ông Cường ngoài đời. Chỉ loáng thoáng biết ông là nhà văn và thấy ông trong phim “Người tình không chân dung”.
      Những đau đớn trong gia đình ông cũng là những đau đớn nói chung của mọi người sau 75. Người trong nhà tù nhỏ thì bị đói khát đầy đọa, người trong nhà tù lớn thì lo đối phó với chuyện đi kinh tế mới, lo kiếm sống, và lo vượt biên với bao thảm cảnh trên biển Đông.
      Vậy mà bây giờ nhiều đứa đầu trâu mặt ngựa nói lời hòa hợp hòa giải. Còn lâu. Chúng mày lấy tư cách gì nói chuyện hòa hợp hòa giải? Muốn hòa hợp hòa giải, thì đi hỏi những người đã chết.
      Nhân dịp năm mới, chúc quý vị trên diễn đàn an khang, mạnh khỏe và thượng thọ.

      • Cám ơn đã trả lơì. Đúng vậy, vơí ngưoì nói lời hòa hợp hòa giải. Còn lâu. Chúng mày lấy tư cách gì nói chuyện hòa hợp hòa giải? Muốn hòa hợp hòa giải, thì đi hỏi những người đã chết.

      • @Lê Tân Đạt = kieuphong : ê ! mày nói chuyện với ai đấy, thằng mất dậy ? Ở đây, mày cũng chẳng có tư cách gì để cấm mọi người chửi cha mấy thằng lưu manh lại bày đặt đi nói chuyện hòa hợp hòa giải.

        Hỏi những người đã chết ư? Mày còn chưa biết ! Những người đã chết còn biết nghe hơn bè đảng côn đồ nhà mày !

  3. Kính Hoàng Lão Công Tử.
    Tôi đang đọc lại quyển Sống & Chết ở Sàigòn của Hoàng Lão Công Tử. Ðọc đi đọc lại hoài để đừng quên tội ác của Cộng sản Việt Nam đã và vẫn đang còn giết hại người Việt Nam.
    Trong quyển sách này tôi gặp lại Sáu Vui vì tôi cũng có một thời gian thật ngắn hợp tác với hắn.
    Năm mới 2011.Kính chúc Hoàng Lão Công Tử và Phu Nhân được nhiều niềm Vui và Hạnh Phúc!

  4. Nếu nói: (trích):

    … “Việc ra tòa dưới chế độ CS, chỉ là một màn kịch vô duyên. Một trò hề nhạt nhẽo nhão nhoẹt”… (ngưng trích),

    thì việc đi tù dưới chế độ CS lại là một trò láo khoét, mất dậy khác của bọn VC.

    Không bao giờ có chuyện người tù bị tội này, tội nọ sẽ đi tù tối thiểu hoặc tối đa là bao nhiêu năm, tháng! Ai trong chúng ta cũng biết rằng hễ đã vào tù VC thì chỉ biết ngồi nhà đá … bóc lịch! Chúng đối xử với tù như chim vào lồng, hoặc như cá vào chậu, nghĩa là vui thì chúng thả, buồn thi chúng bắt người tù… tiếp tục bóc lịch, bất kể mãn hạn, hết án. Khiếu nại kêu ca thì coi như cầm chắc cái chết trong tù.

    Cái chết của người tù Nguyễn Mạnh Côn đã chứng minh điều đó!

    • @ Bạn Phương Lê của tôi ơi !

      Bạn biết không, ngày xưa tôi đi hành quân trong rừng từ ngày này qua ngày khác, Không thấy làng mạc của dân mình đâu cả, bỗng một hôm được lệnh đi về vùng có dân cư (dù rất hẻo lánh và xa xôi) – Tôi mừng rỡ vô cùng khi từ xa xa có tiếng chó sủa …

      Nay lâu quá rồi, trên diễn đàn này bỗng có tiếng chó dại nó tru lên tôi thấy cũng vui vui không kém.

      Bạn cứ mắng mỏ bọn chúng làm gì cho hoài công. Bọn này thuộc loại ngu lâu nên khó “cải tạo” lắm. Cứ kệ đi bạn ạ !

      Loại này nhảy vào các trang mạng khác, có rất nhiều tên vện, vàng, đốm, chó bạch, chó khét, chó xanh, tức chó đẻ. Đủ mầu đủ loại vào sủa ỏm tỏi.

      Ngay bên đài VOA cũng thế, có một tên lấy nick là nhô (hoa kỳ) sủa nhăng sủa nhít.

      Tất cả đều lãnh một hậu quả là … bị bề hội đồng tơi tả, tan tác, tôi thấy thật thương tâm tê tái.

      Hơi đâu bạn lại chấp nhất nhỏ nhặt mầy thằng dở người, dở ngợm đó cho hao tổn long nhan, mà tàn hoang long thể.

      Mến.

  5. bác Van Toàn ơi, bọn này không được gọi là nửa người nủa ngợm,mà phải gọi là phi thú phi cầm mói xứng đáng bác ạ
    em thì goi chúng là việt cộng cho nó gọn ,bác Phương Lê ơi,em biết nà bác bực mình lắm , em cũng thế đầu năm ra ngõ gặp ngay thằng việt cộng,xúi quảy bác ơi,nhưng không sao ta đi thăm ‘năng bác’ xả xui thees nà xong
    chúc bác năm mới vui khỏe

    • Cám ơn góp ý của bác Văn Toàn.

      Cám ơn bác tomtrinh đã trả lời hộ tôi.

      Vâng, đời (XHCN) đã dạy cho tôi biết rằng hễ gặp VC thì ta cứ gậy mà phang vào đầu chúng!

      Văn minh, lịch sự, tế nhị đã làm chúng ta mất nước. Giờ lại để bọn súc sinh này vào diễn đàn này mà đánh rắm, phóng uế bừa bãi là điều không thể chấp nhận được !

  6. mấy thằng phản động với tư tưởng phản động

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: