• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Mèo ơi, Chào Em

Năm Hổ đi – chẳng có chuyện gì đáng gọi là hùng hổ, toàn là chuyện hèn hạ, chuyện Việt Kiều ở Kỳ Hoa bợ đít bọn Việt Cộng – năm Mèo đến. Ðúng ra là năm Mèo trở lại. Sáng cuối năm, vừa nói câu thứ nhất trong ngày:

“Tết năm 1975 là Năm Mèo. Thấm thoắt dzậy mà đã 36 năm.”

CTHÐ định đi một đường cảm khái:

“Ðã 36 mùa lá rụng qua cuộc đời chúng ta kể từ năm Mèo 1975, năm chúng ta mất nước. Làm gì mà chúng ta chẳng già đi.”

CTHÐ Vợ đưa nhẹ một đường kiếm Ỷ Thiên Thượng Dziệt, Hạ Tuyệt:

“Thôi mà. Ðừng nhắc đến chuyện đó nữa. Nghe nản lắm.”

CTHÐ – anh vợ của Công Tử Vô Kỵ – đi một đường Ðồ Long bảo đao  im luôn.

Nàng nói đúng. Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái.. Ðã viết quá nhiều về chuyện Ngày 30 Tháng Tư 1975. Tết Mèo đến – có gì dzui đâu – nhắc làm gì nữa chuyện Tết Mèo năm ta mất nước!

Thân kính gửi đến quí vị độc giả tuổi đời Bẩy Bó trở lên: KIM NOVAK trong phim Books and Candles, phim chiếu trên màn ảnh xi-nê Sài Gòn những năm 1960. Trong phim này KIM là một nữ phù thủy trẻ đẹp.

Chuyện Mèo có ít trong kho chuyện dân gian. Mèo gần người hơn chó. Mèo được nằm chung giuờng với người, mèo được nằm gọn trong lòng người; được người vuốt ve, chó không được thế. Mà Mèo không có nghĩa với chủ như chó, mèo không mừng chủ khi chủ về nhà, mèo không bao giờ xả thân cứu chủ, không mèo nào bị đưa đi xa mà biết tìm đường về nhà như chó.

Vì vậy thế gian có ít chuyện mèo.

Người đời thường nói: “Không có chó bắt mèo ăn c..” Do đó tôi có thể nói:

“Không có chuyện Mèo viết bài Xuân cho báo Tết Mèo, ta kể chuyện Chó vậy..”

Mời quí vị đọc bài Viết ở Rừng Phong thay cho bài Xuân Mèo:

Trời không chớp biển chẳng mưa nguồn
Ðêm nảo, đêm nao tớ cũng buồn..

Một trăm năm trước Thi sĩ Tú Xương, trong những đêm dài trằn trọc không ngủ ở thị trấn Nam Ðịnh, thành phố ông cất tiếng khóc chào đời, trời không chớp biển, trời chẳng mưa nguồn, ông thấy ông buồn, ông mần thơ. Tôi – CTHÐ – liêu lạc nơi Tây Vực xứ người, xa cách quê hương tôi một biển Ðông, một biển Tây – Trái Ðất này có hai biển, cả hai biển cùng ngăn cách tôi với đất nước tôi – mùa thu, mùa đông, kể cả mùa xuân nơi xứ người tôi sống nhờ – Kỳ Hoa Ðất Trích– đêm nào trời cũng chớp biển, đêm nào trời cũng mưa nguồn, tôi không buồn sao được. Tôi buồn ghê lắm. Tôi buồn đến chít được. Dám nói trên cõi đời này không ai có thể buồn hơn tôi. Ông Tú buồn ông còn có thể mần Thơ giải sầu, tôi buồn tôi chiụ chít thôi.

Ðêm buồn.. – Biết rồi ! Khổ lắm ! Nói mãi !– tôi tìm quên trên những trang sách. Ðêm khuya, phòng vắng, đèn vàng, yên lặng, an ninh năm chăm phần chăm, tôi nằm đọc Người Trăm Năm Cũ, tiểu thuyết của Nhà Văn Hoàng Khởi Phong. Người Trăm Năm Cũ, tác phẩm tiểu thuyết văn học – dã sử – kỳ tình – chiến đấu – phiêu lưu – mạo hiểm – yêu nước, hai tập, hơn một ngàn trang chữ font 12. Ðọc đến đoạn truyện Người Trăm Năm Cũ tả chuyện bọn Mật Thám Tây đến một ngôi chùa ở vùng Yên Thế, Bắc Giang, tìm bắt ông Ðề Thám – quả thật là nhà chùa có chứa ông Ðề Thám và một số chiến hữu của ông Ðề – lúc lính Tây đến chùa, ông Ðề cùng các chiến hữu đồng chí của ông vẫn ở trong chùa. Các ông được đưa xuống hầm bí mật của nhà chùa, sức mấy mà bọn Mật Thám Tây tìm được hầm – bọn Mật Thám Tây ác ôn lùng sục tanh bành trong chùa làm cho con chó của nhà chùa sợ quá, bỏ chạy ra khỏi chùa.

Bọn Mật Thám Tây thất bại, lểnh mểnh kéo nhau đi rồi, Sư Cụ thấy chùa mất chó, đi lêu têu ngoài đường tìm gọi chó về chùa, Sư Cụ vừa đi, vừa gọi:

“…Êu..! Êu..!.. Cún ở đâu? Cún về chùa..! Cún ơi..”

Ôi… Ðọc mà cảm khái cách gì..! Tưởng như thấy lại cảnh đồng chiều, cuống rạ.. Lá Diêu Bông.. Sáu, bẩy mươi năm trước.. Ngày tôi mắt sáng, tóc xanh, tâm hồn, trái tim, ký ức, kỷ niệm, luôn cả tương lai, tất cả… hằm bà lằng síu oát, hằm ba lằng hăm-ba-ly-he, trắng tinh như tờ giấy trắng. Ðêm cô liêu nơi xứ người tôi sống lại những chiều xưa tôi đi một mình qua những cánh đồng  trên quê hương trung du miền Bắc của tôi; những cánh đồng trời cuối thu mờ mờ sương khói, có cái gọi là khói lam chiều xanh xanh trăng trắng sám sám bàng bạc um um om om nhạt nhạt dâng lên ở chân trời. Tôi xúc động, tôi đặt sách lên ngực, tôi nhắm mắt, tôi mơ màng..

Tôi tưởng tượng cảnh Sư Cụ chiều về tối, trong sương lam mờ tím, đi lêu têu tìm chó trên con đường quê đất đỏ vắng tanh, vắng ngắt. Sư Cụ Người Trăm Năm Cũ vừa đi vừa gọi :

“..Êu..! Êu..!.. Cún..! ..Cún..!”

Cảm khái rồi tôi  théc méc:

“Không biết nhà chùa, nói cho rõ là những chùa ở Bắc Kỳ ngày xưa, như cảnh chùa có hầm bí mật chứa những người Việt yêu nước chống Pháp được tả trong tác phẩm Người Trăm Năm Cũ, có nuôi chó, nuôi mèo, nuôi chim, nuôi cá cảnh không? “ Hình như là không! Ôi..! Tôi hổ thẹn dường bao. Là người Việt Nam, sống trong quê hương mình 65 năm, tức là 9 phần 10 cuộc đời mình, lại là người viết truyện, viết trò, cuối đời lưu lạc, cô đơn lạc lõng ở nước người, khi buồn, nhớ, thương, đọc, nghĩ, viết về quê hương mình, .. ú..a..ú..ớ không trả lời dứt khoát được câu hỏi:

“Chùa Bắc Kỳ ngày xưa có nuôi chó, nuôi mèo không..?”

Hình như là không! Bởi vì, theo những suy luận, phần lớn là ngu xuẩn, nhẹ nhất cũng ngớ ngẩn, theo những ghi nhớ, phần lớn là không đúng, của tôi thì nhà chùa ngày xưa ở Bắc Kỳ không chùa nào nuôi chó, nuôi mèo; Sư Cụ, Sư Ông, Sư Bà, Sư Bác, luôn cả Sư Cô.. không nuôi chó, nuôi mèo; việc chùa nuôi chim,  chùa nuôi cá cảnh lại càng không có.

Nhà chùa không nuôi chó bởi vì:

– Người ta nuôi chó để giữ nhà, giữ nhà tức là giữ của, để ngăn không cho kẻ trộm vào nhà. Nhà chùa là Cửa Không, đã là Cửa Không – tức Không Có Gì – thì nhà chùa đâu có của cải gì đáng để nhà chuà phải nuôi chó giữ chùa!

– Bổn tánh của Chó là nó sủa gâu gâu khi nó thấy người lạ vào nhà nó, nó ở chùa thì chùa là nhà nó, những con chó có lương tâm chức nghiệp thường làm dữ, chúng có thể hung hãn nhào vào cắn rách bắp chân, ống quần của thiện nam, tín nữ. Nếu nhà chùa nuôi chó thì mỗi khi nghe tiếng chó sủa, biết có người đến chùa dâng hương, Sư Cụ lại phải bảo chú tiểu:

“Nam mô..! Xích cổ con Cún !”

– Chó nó không ăn chay. Nhà chùa nuôi nó toàn bằng cơm tẻ với tương chao, rau cà, mít non kho, khoai mì.., chắc như bắp là nó sẽ mò vào trong xóm nó tìm ăn. Nó không tu, bắt nó chay trường, nó sẽ phạm giới. Tưởng cũng nên tội nghiệp nó.

– Nếu nhà chùa nuôi chó đực thì năm năm cứ đến ngày.. động đực, nó lại mò đi tìm…. cái. Ðể nó đi như vậy thì kỳ mà gọi anh thiến chó, hay anh thiến heo Ðỗ Chín, Ðỗ Mười, vào chùa, dùng dao thiến dùm nhà chùa con khuyển thì cũng kỳ. Nếu nhà chuà nuôi chó cái thì năm năm cứ đến ngày.. động đực, nó không phải đi đâu cả, nó ra trước cổng chuà là nó đã có ba, bốn con chó đực ngồi xổm, thè lưỡi, chờ nó. Cảnh đó cũng thường thôi, xẩy ra ở đâu cũng được nhưng xẩy ra trước cổng chùa thì e không thanh tịnh tí nào. Rồi nó chửa, nó đẻ ra năm bẩy con chó nhép, nhà chuà gạo đâu mà nuôi chúng nó, nhà chùa phải treo bảng cáo thị kêu gọi thiện nam, tín nữ lãnh về nuôi dùm.

Vì những lý do đó tôi cho rằng Nhà Chùa Bắc Kỳ ngày xưa – ngày xưa là những năm trước năm 1945 – không nuôi chó. Nhưng mà.. khoan.. khoan.! Nhờ anh tí.. Ðừng có vội kết luận. Vỡ mặt bi giờ! Nếu Nhà Chuà Bắc Kỳ ngày xưa không nuôi chó thì tại sao lại có hai câu thơ..

Hai câu thơ nghe nói là của ông Nguyễn Công Trứ. Không nhớ – nói thật là không biết đi, mình có phải là học giả đâu, mình cũng không viết về văn học, mình chỉ viết láp nháp giải sầu năm phút cho bà con lưu vong buồn bã đọc cho đỡ buồn thôi, chuyện mình không biết mình viết mình không biết, có gì mà phải xấu hổ – không biết có cả bài thơ 8 câu hay chỉ có hai câu này thôi:

Bụt cũng hiền lành, sư cũng khá
Còn hai con chó chửa từ bi..

Như dzậy là nhà chùa có nuôi chó, hoặc ngày xưa, thời ông Nguyễn Công Trứ, có một ngôi chùa ở xứ Bắc Kỳ nuôi chó. Nếu nhà chùa không nuôi chó, tại sao văn học dân tộc lại có hai câu thơ trên đây của ông Nguyễn Công Trứ?

May quá là may! Chưa lên tiếng bàn hươu, tán vượn về chuyện chùa có nuôi chó hay chùa không nuôi chó. Ọ..ẹ.. viết ra, ông Nhà Văn ông ấy  mắng cho mấy mắng, vuốt mặt không kịp! Hú vía!

Một chiều cuối năm ở xứ người buồn viết chuyện xưa, tôi xin hỏi quí vị độc giả ở chín phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca:

“Thưa quí vị, ở những ngôi chùa ngoài ta – tức ngoài Bắc – ngày xưa nhà chùa có nuôi chó không?”

Quí vị nào biết chắc có, không, xin cho biết. Cám ơn quí vị.

o O o

Tâm viên, ý mã…

Tâm của tôi nhẩy nhót như con khỉ, ý của tôi chạy lung tung như con ngựa. Nôm na là đang nghĩ về chuyện này tôi nghĩ sang chuyện khác. Ðang buồn vì chuyện xẩy ra ở Kỳ Hoa, tôi man mác u hoài vì  chuyện xẩy ra ở Sài Gòn. Hôm nay tôi buồn ở Rừng Phong thu đã – tức mùa Thu đã đi qua Rừng Phong– tôi tưởng như tôi đang sống ở Sài Gòn, như tôi trong buổi sáng muà thu vàng năm tôi trẻ, mắt tôi  sáng, tóc tôi xanh, những năm tôi hoa niên ấy có dăm, ba người nói tôi có vóc dáng giống như Dzêm Ðin, như Mông-ty Cờ-líp, tôi dạo những bước chân phong tình trên vỉa hè Lê Lợi, Tự Do trong thành phố thủ đô của tôi, tôi đi bên những tà áo hoa vàng, hoa hồng.., những tà áo bay bay ôm những bộ chân dài thon kiều nữ Sài Gòn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa – sang và đẹp – tôi đi theo những gót chân ngà, chân ngọc, tôi vào Phở Minh Casino ăn tô phở gà, có đệm hai cái chà-cháo-quẩy, tôi vào nhà hàng Phạm Thị Trước ăn hủ tíu-paté chaud, tôi ghé tiệm Thanh Bạch làm đĩa bánh mì-bò kho, tôi vào Brodard nhâm nhi ly cà-phê đen – những ngày xưa vàng óng ấy tôi không uống cà-phê sữa – tôi  nhìn cảnh và người Sài Gòn Tự Do qua làn cửa kính Brodard, tôi đi với tôi buổi chiều mùa thu xanh xưa vào rạp Xi-nê Bonard xem phim En na đăng-sê koong sơn ê-tê… Tóc Em chưa uá nắng hè…

Ôi.. Cảm khái cách gì..!

Tôi vừa đi một đường “tâm viên, ý mã”, thưa Quí Ông Hát Ô, thưa Quí Liệt Vị Nữõ Ðộc Giả Ái Mộ Thơm Như Múi Mít. Hôm nay, trong bài này, tôi cũng đi một đường ý mã, tâm viên”, tôi không viết về một chuyện, tôi viết về năm, bẩy chuyện, những chuyện lăng băng không ăn nhậu, ăn nhịp gì với nhau.

Ðây là chuyện Xuân Tóc Ðỏ đánh te-nít với Nhà Vô Ðịch Te-nít Xiêm La trong Số Ðỏ của ông Vũ Trọng Phụng.

SỐ ÐỎ. Trích:

Mấy dzơ đầu ở Séc thứ ba cho thấy hai đấu thủ cùng cố gắng hết sức. Tuy Luang Prabahol đã trổ hết tài năng nhưng cũng không lấn át được Xuân. Ðến lúc trọng tài hô 15-30, thấy tài tử của mình nắm chắc phần thua, Vua Xiêm tức thì lôi trong túi áo bào ra cái bản đồ nước Xiêm cũ có bờ cõi ở núi Hoành Sơn. Ngài ngắm nghía cái bản đồ mà không nhìn xem cuộc đấu nữa. Viên quan hầu Ðức, và viên quan hầu Nhật, cùng ghé tâu một cách thì thào: La guerre..! La guerre..!”

Dưới sân, đám công chúng Pháp Nam vô lo, vô lự, vẫn vỗ tay rầm rộ ủng hộ Xuân. Trọng tài hô:

– Ca răng..! Ca răng ta..! A văng ta sê vít..! A văng ta đờ o..!

Sự hồi hộp của mọi người là không thể tả được. Ðám bách tính quần dân kia không biết rằng giữa lúc ấy Ðức Vua nước nhà, quan Toàn Quyền và quan Thống Sứ đưa mắt nhìn nhau. Rồi Ông Giám Ðốc Chính Trị Ðông Dương, sau khi nghe mệnh lệnh của quan Toàn Quyền, tức thì bỏ khán đài, chạy xuống sân tìm ông Bầu của Xuân Tóc Ðỏ. Văn Minh rất cảm động khi vị thượng quan ấy của chính phủ, mời mình ra một chỗ vắng, hấp tấp rỉ tại, đại khái như thế này:

– Chính phủ Bảo Hộ và Chính Phủ Nam Triều cử bản chức nhờ ngài làm một việc tối hệ trọng có quan hệ mật thiết đến vận mệnh của đất nước. Nghĩa là bản chức yêu cầu ngài bảo tài tử của ngài phải nhường, phải thua nhà vô địch Xiêm ngay đi. Tuy mất cái danh dự thắng cuộc, các ngài sẽ được chính phủ bù cho những phần thưởng danh dự khác rất hậu hĩ.

Ông Bầu Văn Minh còn đương ngạc nhiên há hốc mồm ra thì vị quan to nói tiếp luôn:

– Ngài cứ biết nghe đi đã. Việc này rất khẩn cấp, thì giờ rất ngắn ngủi. Nếu An Nam mà thắng Xiêm La về quần vợt thì thế nào cũng có nạn chiến tranh. Chính phủ Pháp chủ trương hoà bình, các ngài phải theo gương đó mà tránh cho bách tính lương dân cái nạn núi xương, sông máu. Thôi, chốc nữa ta sẽ nói chuyện nhiều.

Bởi thế nên giữa lúc công chúng reo.. o, reo.. a huyên náo cả một góc trời, giữa lúc viên trọng tài kêu “Ca răng, Ca răng ta, đờ o, séc vít..” thì nhân lúc Xuân Tóc Ðỏ quay về với đứa trẻ nhặt bóng, ông Bầu Văn Minh liền thất thanh bảo khẽ nó:

– Thua đi! Nhường đi! Ðược thì chết! Chiến tranh!

Công chúng đương hồi hộp vì 7-7, 7-8.. thì sự không ngờ xẩy ra, Xuân Tóc Ðỏ lốp một bóng bay bổng lên trời rồi rơi vào hàng rào găng! Kết quả thảm khốc 7 – 9 ấy làm cho mấy nghìn con người la ó rầm rĩ để tỏ sự thất vọng công cộng. Nhưng.. một hồi kèn La Marseillaise đã nổi lên mừng nhà Vô Ðịch Xiêm và kết liễu cuộc vui, để Ðức Vua và các quí quan của ba chính phủ về Phủ Toàn Quyền.

Ngưng trích.

Quí vị vừa đọc đoạn tả trận đấu Te-nít giữa Xuân Tóc Ðỏ và Nhà Vô Ðịch Xiêm La trong tác phẩm Số Ðỏ. Nhà văn Vũ Trọng Phụng, chắc cả đời chỉ đánh te-nít trên bàn đèn thuốc phiện, nhưng tỏ ra biết khá rõ về cách chơi, cách tính điểm thắng bại của Te-nít. Những điểm 7-8, rồi 7-9 là điểm mà Te-nít Mỹ gọi là Tai bờ-rích: Tie-break. Nhưng khi Tay Vợt Xiêm thắng mà dàn kèn Bu-dzích của Thành phố Hà Nội te te tét tét trổi bài La Marseillaise để mừng thì e rằng Nhà Văn tả không đúng, bản La Marseillaise là quốc ca của Pháp, muốn mừng Nhà Vô Ðịch Xiêm, dàn kèn phải trổi bài Quốc Ca Xiêm.

Nhưng mà.. lại khoan.. khoan.. Biết đâu những năm 1920, 1930 thế kỷ trước, ở những sân te-nít Hà Nội, người ta, đúng ra là người Tây, lại chẳng có cái lệ cho dàn kèn bu-dzích trổi bản La Marseillaise để mừng những nhà Vô Ðịch Thể Thao, bất kể Nhà Vô Ðịch là dân nước nào.

Biết đâu lại chẳng như thế. Không biết chắc thì đừng có nói chắc.

Advertisements

10 Responses

  1. Vietnamese accents added by EasyVN at http://www.easyvn.com/
    Unable to read ? Click here http://www.easyvn.com/viewmessage.php?id=291210135435690532
    ____________________________________________________________
    Kinh Bác CTHD

    Bài quá hay , nhưng cháu có 2 cái théc méc : Về
    chữ Chà- cháo -quẫy, ngày xưa cháu ở Chợ Lớn nghe người Tàu hay dùng chữ Dầu Cha Quẩy , hay Dầu Chao Quẩy không biết chữ nào là đúng . Theo người Quảng Đông Chữ Dầu ( oil) , Cha hay Chao là ( chiên ) và chủ Quẩy ( devil ) vì có một truyền thuyết , ngày xưa bên Tàu có 2 vợ chồng âm mưu ghép tội một tướng Tàu yêu nước là ông chống lại nhà Vua. Hai người nầy thể hiện qua 2 miếng bánh giống như hình người ghép lại với nhau khi bỏ vào trong chảo chiên . Ở Chợ Lớn các ông Tàu thường làm bánh Tiêu với bánh Dầu Cha Quẩy .
    Théc méc thứ hai là rạp hát Bonard có phải là rạp hát Vĩnh Lợi nằm trên đường Lê Lợi gần nhà hàng Thanh Bạch và bịnh viện Hui Bon Hoa hay Bịnh viện Đô Thành Sàigòn .

    Thân mến Bác

  2. Kinh Bac CTHD

    Chau co tim thay hinh rap ci ne Bonard tren wed http://saigon.vietnam.free.fr/saigon_7/cinema-bonard-saigon.jpg.

  3. Cứ mỗi năm tôi có hai lần giỗ song thân tôi.

    Một lần giỗ nữa để tưởng-nhớ đến Cố Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm.

    Trước nhất, mỗi lần đứng trước ban thờ hai cụ thân sinh ra mình. Tôi thường kính cẩn mang ơn Người, không phải Người đã sinh-thành ra tôi, đã cho tôi ăn, mặc, học-hành đến nơi đến chốn, cho thật tử tế để khỏi thua chúng bạn.

    Mà tôi mang ơn Người cho đến cuối đời … chỉ vì Người đã can đảm mang cả gia đình vào Nam để lánh xa bọn dã man là Việt minh.

    Nhờ đó tôi mới được hưởng những ngày ấm no hạnh phúc dưới thời Tổng Thống Ngô Đình diệm. Dẫu rằng chế độ của Cụ vẫn chưa là thực là hoàn hảo.

    Nhưng Cụ Diệm đã cho tôi được làm một con người, một con dân của một đất nước thật sự có chủ quyền, có dân chủ và tự do.

    Tôi vẫn đường hoàng đến viếng mộ Cụ và bào đệ ở Bình dương để dâng hương và hoa.

    Đất nước này khốn nạn ngay tức thì khi anh em Cụ bị giết thảm (cũng vào năm mão – Quý Mão). Hai năm sau tôi gia nhập quân đội vẫn được nghe những huynh-trưởng của đơn vị ca ngợi Cụ Ngô với sự tiếc nuối vô biên.

    Tôi đã từng đi đến nhiều nơi, trong đó có khu Cao Xá ở Tây Ninh nghe những cụ già ai oán về cái chết tức tưởi của anh em Cụ.

    Tôi và bạn hữu chưa hể để tang lấy 1 phút cho ngày BA CHỤC THÁNG TƯ. Bởi nếu không có biến cố 02 – 11 – 1963, tôi có thể quả-quyết rằng một ngàn lần 30 tháng Tư, còn gọi là tháng Tư đen không bao giờ xảy ra.

    Khốn nạn thay, 1 triệu người miền Bắc di cư vào Nam, có bao nhiêu người thực lòng biết tri ân đến Tổng thống Ngô Đình Diệm. Phải chăng các cụ xưa từng nói : Bạc là dân … có đúng chăng ?

    Chúng ta cứ lấy hình ảnh của những người vượt biên trong thời gian ở đảo để chờ đợi qua nước thứ ba. Rồi đem so với thân phận của những người bỏ quê, bỏ quán, bỏ nhà, bỏ cửa vào Nam thời Ngô Thủ tướng.

    Chúng ta cũng nên lưu ý một điểm, Thủ tướng Ngô Đình Diệm bị tứ bề vây bủa. Từ trong ra ngoài đều ra sức phá hoại Ông. Miền Nam Việt Nam lúc đó có thể nói là tùm lum bấy nhậy. Nát còn hơn tương làng Bần ở Bắc Ninh.

    Có một người dận Bắc kỳ di cư nào vào trong Nam mà chết đói chưa ? Hay là sau đó, những khu Bắc kỳ di cư ấy ngày càng phồn thịnh ?

    Riêng gia đình tôi không hề cư ngụ 1 lần trong khu định cư của dân Bắc kỳ cả. Và vẫn tồn tại đến ngày hôm nay. Đó là một điểm son vì dân vì nước của Thủ tướng Ngô Đình Diệm vậy. Không thể chối cãi.

    Hàng năm cứ đến những ngày tháng cuối năm (2-11) chúng tôi chỉ vài “thằng” lính già cùng nhau thắp nén hương tưởng niệm Cụ Ngô mà đau xót.

    Nhưng dẫu sao, chúng tôi và chúng ta vẫn có quyền hách xì xằng mà tuyên bố với thiên hạ rằng : ĐỜI CHÚNG TA ĐÃ TỪNG LÀ MỘT CÔNG DÂN NƯỚC VIỆT TỰ DO VÀ ĐỘC LẬP. CÓ CHỦ QUYỀN HẲN HÒI. CÓ CHỦ QUYỀN THỰC SỰ.

    Chẳng hơn Vua Bảo Đại sao ? Mặc dù ông từng tuyên bố : Trẫm thà làm một công dân một nước có chủ quyền còn hơn làm vua một nước thuộc địa. Và ông chưa hề thực sự được làm một người công dân tốt đẹp như thế.

    Có thể nói thêm nữa rằng : Chúng ta đã từng có một ông Vua thực đáng là VUA.

    Tôi đã từng tự cảm thấy mình hạnh phúc vô biên. Bởi dẫu sao, còn rất nhiều triệu người dân Việt khác (ở ngoài Bắc chẳng hạn) không hề thực sự được hưởng niềm hạnh phúc và kiêu hãnh đó.

    Có chẳng là họ cố tình gây dựng trên căn bản là ảo tưởng hoang đường mà thôi.

    Tôi còn thêm một điều hãnh diện và hạnh phúc nữa :

    Tôi không phải là một tên vong ân bội nghĩa với vị cứu tinh tôi và gia đình tôi trong suốt thời gian đầu đầy bỡ ngỡ ở xứ (nước) Nam kỳ xa lạ.

    Nhớ đến Cụ bao nhiêu, tôi càng căm hận đám ác tăng năm 1963 bấy nhiêu. Họ không những giết một gia đình họ Ngô mà thôi, họ còn đang tâm giết chết cả một dân tộc.

    Tôi có thể nói rất dài, nói mãi, nói đến chết về năm MÃO. Nói trong máu, trong nước mắt từ tận đáy lòng sâu thẳm.

  4. Tôi có thể nói thêm :

    Rất tiếc mục reply này không cho phép tôi được post lên vài tấm ảnh của Tổng Thống Ngộ Đình Diệm.

    Trong đó có 1 tấm Ông nằm ngủ trên một trõng tre rất sơ sài, nghèo nàn một trong những lần đi kinh lý các miền thôn quê.

    Có thể tôi lẩm cẩm quá chăng. Quý vị có thể tìm trong google, hoặc các trang mạng khác đầy đủ hơn tôi nhiều.

  5. Kinh nguoiquanmot
    KInh bac CTHD
    Dau Chao Quay tuong trung cho 2 vo chong Ta^`n Co^’i vi da ham hai Nhac Phi duoi thoi vua Tong Cao Tong (1127-1162). Co le Tan Coi la bguoi bi dan Trung Hoa ghet nhat nen moi co chuyen Dau Chao Quay. Neu qui vi sang Hang Chau, tham mo Nhac Phi se thay tu+o+.ng 2 vo chong Tan Coi quy truoc mo Nhac Phi.
    Nhung xet cho cung, cung la do vua Tong Cao Tong muon tay Tan Coi de hai Nhac Phi thoi, vi neu Nhac Phi danh thang nha Kim, ruoc 2 vua truoc dang bi nguoi Kim giam la Huy Tong va Kham Tong ve, thi vua Cao Tong bo di dau.
    Kinh

  6. Ông Van Toan đả làm tôi rất xúc dộng khi ông viết về Ngô Tổng Thống. Một triệu dân Băc di cư, và những người triệt để chống Cộng, đều bàng hoàng khi nghe tin Tổng thống và bào đệ của Người bị bọn phản tướng, một lũ ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa– A God dammned thug, như Tổng Thồng Johnson đã đặt tên cho chúng — sát hại một cách vô cùng man rợ !. Ác tăng, phản tướng cùng lũ đâm thuê chém mướn, nghe lời tên Thái thú Cabot Lodge, hè nhau làm cuộc bạo loạn bỉ ổi và man rợ, đã mở đầu cho sự tan hoang và đưa tới mất nước, tù đày chết chóc, lưu vong tịn nạn và bao thảm trạng ngày nay. Ngay sau cuộc bạo loạn, lính tráng chúng tôi đã căm ghét, gọi tên cái bao cao xu dùng trong cuộc vui chơi với ” chị em ta ” là…”ông Đại sứ “. Còn mấy anh sư ác ôn, do tên cộng nằm vùng Trí Quang dật giây, xuống đường vu cáo và ăn vạ, được gọi là ” giặc thầy chùa”, thì sau này quen mui, tưởng làm loạn, súi bẩy tự thiêu dể cướp chính quyền, trong vụ bạo loạn Miền Trung, đã bị ngay tên đại sứ Cao Bảo Lộc, dùng tay Nguyễn Cao Kỳ đập nát ! Ác giả ác báo ! Sao ngày nay dưới bàn tay máu của Cộng sàn, bọn sư chết tiệt và lũ bẩn tướng, không biết hè nhau biểu tình, tự thiêu cho nhân dân nhờ.
    Tôi là một Phật tử củng như cha mẹ, tổ tiên tôi. Nhưng tôi kinh hãi khi thấy các ác tăng vu cáo và săt máu như thế !
    Ô hô ! ngày nay mất nước, lưu vong, bọn tướng, tá mặt dầy Minh, Đôn, Thiệu, Khiêm, Xuân, Đính…, đứa còn sống, đứa đã chết. Nhưng đố có đứa nào dám nhận cái tội tầy đình, đã nhúng tay vào máu vị nguyên thủ quốc gia đã ban cho chúng cơm áo và chức tước ! Tướng cũng như tá, đứa nọ đổ lỗi cho đứa kia ! Nhưng đứa nào cũng đả chui xuống cái hầm phân của lịch sử, và sẽ muôn đời bị nguyền rủa và phỉ nhổ ! Hoan hô ông Van Toan đã ” lạc đề vào lịch sử ” khiến tôi nổi máu, ngồi viết mấy hàng này ,

  7. Nhiều ngôi chùa miền bắc nuôi chó. Ban ngay chó bị nhốt trong cũi ơ một chỗ khuất nẻo. Ban đêm được thả ra. Chó chỉ quen với chú tiểu phụ trách nuôi chó.
    Lý do chùa nuôi chó thì chúng tôi không rõ

  8. Cháu đồng ý với các bác Van Toàn và Giáng Anh vô cùng. Dù là thế hệ sau biến cố 11/63, cháu cũng như bác Văn Toàn, trên bàn thờ Chúa, Ông Bà Cha Mẹ, có cả hình Cụ Diệm để luôn tưởng nhớ và không bao giờ quên ơn người. Và cháu luôn hãnh diện là người Việt Nam Tự Do, không bao giờ phục tòng trước lũ vc khốn nạn. Kính chúc các Bác trên dđ và gia đình Bác HHT một cuối năm Dần yên bình và năm mới 2011 thật tươi vui và tràn đầy may mắn. Kính,

  9. Tôi là một trong hơn triệu người Bắc di cư vào Nam năm 54,chính xác là ngày 20-7-54,là ngày chia đôi đất nước,lúc đó tôi mới chỉ vài tháng tuổi,mẹ tôi nói đã được 1 y tá người Mỹ bồng lên tàu ‘há mồm’ vào Nam.Bố tôi đi chuyến tàu há mồm khác,bị Việt Minh dùng mortier pháo kích nhưng may mắn không chết!Trưởng thành trong Nam hoàn toàn,tôi vẫn nhớ những ngày Tết truyền thống dưới thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm,gia đình tôi,bố là công chức trung cấp trong Nam,nhưng đời sống rất thoải mái..và hối lộ tham nhũng hầu như là không có!Vâng,đúng như bạn Toàn nói,tôi tri ân Tổng Thống Ngô Đình Diệm,tôi có ác cảm với bọn sư sãi (xin lỗi quý vị,tôi theo Đạo Phật nhưng không thể đồng tình với sư sãi đa tạo ra mầm bạo loạn năm 63,mang bàn thờ xuống đường và tôi còn nhớ có 1 người lái xe máy lỡ đụng phải,đã bị đánh hội đồng nhừ tử!!)..Bây giờ tôi vẫn nhớ những ngày thanh bình dưới thời đệ nhất cộng hòa..Hàng năm tôi vẫn âm thầm xem tường thuật về lễ tưởng niệm cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và rơi nứớc mắt tiếc thương.Ghét JFK,Cabot Lodge tên đại sứ Mỹ đi đến đâu là có coup d’etat đến đó.

  10. Nhắc lại làm chi cho đau đớn thêm bác Van Toan ơi.

    Tôi nghĩ quẩn, Cụ Ngô Đình Diệm bị giết vậy mà hay. Ta càng có thêm nhiều dữ kiện để so sánh và thấy rõ chân tướng của hochiminh (xin lỗi – tôi không thể viết hoa tên này được).

    Chúng ta không ai viết, không ai ca tụng Người để hưởng lợi lộc được ban phát như bè lũ cộng sản tâng bấc hochiminh.

    Tinh-thần Ngô Đình Diệm sẽ sống mãi với non sông Việt Nam.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: