• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Nhận Vơ, Bịa Chuyện

Thần Dược VINAGRA có thể tìm thấy mọc bên bờ hồ nước này.

Mười năm trước trong một bài Viết ở Rừng Phong tôi ngỏ ý tôi muốn bắt chước ông Lê Quý Ðôn trong việc ông đọc những sách xưa, thấy chuyện hay hay, ông ghi lại, làm thành tập “Kiến Văn Tiểu Lục” – tập sách Ghi những chuyện Thấy, Nghe nho nhỏ. Tôi muốn tôi cũng ghi lại những chuyện nho nhỏ mà tôi thấy hay hay tôi đọc được trong những trang sách của người xưa, làm thành một tập như tác phẩm “Kiến Văn Tiểu Lục” của ông Quế Ðường Lê Quý Ðôn, một văn phẩm tác giả viết từ 300 năm trước ngày hôm nay.

Tôi thấy tôi làm việc ấy – việc ghi lại những chuyện hay, nhỏ, vui, lạ trong sách – đăng báo, xuất bản thành sách thân tặng những người Việt Nam không có điều kiện và thì giờ đọc, ghi như tôi  có ích, có giá trị hơn là những bài tôi viết linh tinh lang tang về những chuyện ruồi bâu như chuyện đả kích bọn Kỳ Nhông, bọn bợ đít Cộng sản, hay chuyện bới móc những sai lầm trong văn phẩm của người khác. Việc đọc, ghi lại, làm thành một tập, với tôi thật dzễ làm. Chỉ có Hay, Dzở thôi. Tất nhiên. Nhưng từ ngày có ý định ấy đến nay đã mười mùa lá phong rơi rụng ở Rừng Phong, tôi vẫn chưa làm được.

“ Ý trung nhân! Ngô lão hỹ! Em yêu ơi, anh già rồi.”

Cơn mưa Tuyết đầu mùa đông vừa đến, vừa đi qua Virginia. Tuyết nhẹ thôi. Tuyết Virginia dzễ thương, duyên dáng, không dzữ dzằn, không tàn nhẫn như Tuyết ở nhiều bang Mỹ khác. Tuyết Virginia như lời ông bạn Tạ Quang Khôi nói khi chàng CTHÐ bánh xe tỵ nạn mới đến Virgia được năm, bẩy ngày:

“Tuyết Virginia là Tuyết để làm duyên. Chẳng lẽ mùa đông mà Virginia lại không có Tuyết.”

Sáng nay tuyết trắng còn nằm trên cỏ nhưng trời nắng vàng, tôi mời quí vị đọc vài trang, vài chuyện ghi trong tác phẩm “Kiến Văn Tiểu Lục” của ông Tiến sĩ Triều Lê Quế Ðường Lê Quý Ðôn.

Những trang đầu tập “Kiến Văn Tiểu Lục” ghi khoảng 100 câu người xưa nói và viết, toàn những lời khuyên tốt cho người đời. Những sách loại Minh Tâm Bảo Giám có trích nhiều câu trong “Kiến Văn” như những câu sau đây:

Nhĩ bất văn nhân chi tội, mục bất đổ nhân chi đoản, khẩu bất ngôn nhân chi quá.

Tai không nghe chuyện tội lỗi của người, mắt không thấy những vụng kém của người, miệng không nói những sai lầm của người.

Giới tửu hậu ngữ, giới thực thời sân. Nhẫn nan nhẫn sự, thuận bất thuận nhân.

Không nói sau khi uống ruợu, không giận dữ khi đang ăn. Nhịn được chuyện khó nhịn, thuận với người không thuận mình.

Ða ngôn đa bại, đa sự đa lự.

Nói nhiều sẽ bị nhiều thất bại, Bới việc sẽ có nhiều chuyện phải lo.

Thậm ái tất đại phí, đa tàng tất hậu vong.

Ham thích nhiều sẽ tiêu phí nhiều. Chưá nhiều tiền của sẽ bị nguy đến thân.

CTHÐ bàn loạn: Lời nhận xét trên đây – đa tàng tất vong – rất đúng với những ông trọc phú-gian thương-vị kỷ ở Sài Gòn sau Ngày 30 Tháng Tư 1975. Những ông nhà giầu chạy không kịp, bị bọn Bắc Cộng lấy hết tài sản, giam tù, tra hỏi, khảo của, chỉ vì cái tội có nhiều nhà, vàng, đô-la. Nhiều ông vì có nhiều mấy thứ đó mà chết thảm trong tù.

Sự bất khả tố tận, thế bất khả dụng tận, ngôn bất khả đạo tận, phúc bất khả hưởng tận.

Việc đời không nên làm hết, thế lực không nên dùng hết, lời nói không nên nói hết, phúc không nên hưởng hết.

Ðạo ngô ác giả thị ngô sư, đạo ngô mỹ giả thị ngô tặc.

Người kể điều xấu của ta là Thầy ta, người kể cái Hay, cái Ðẹp của ta là tên giặc hại ta.

CTHÐ: “Ðạo ngô ác giả thị ngô sư, đạo ngô mỹ giả thị ngô hào hữu.”

Người nói những cái Xấu, cái Dzở, cái Dzơ, cái Bẩn, cái Ngu, cái Tục Tĩu của ta là Thầy ta. Ðúng dzậy, nhưng người nói những cái Hay, cái Ðẹp của ta là bạn tốt của ta.

Sự bất can kỷ, phân hào mạc lý.

Việc không liên can đến mình thì đừng dzính dzô.

Vô đạo nhân chi đoản, vô thuyết kỷ chi trường. Thi nhân thận vật niệm, thụ thi thận vật vong.

Không nên nói cái kém của người, không nên khoe cái hay của mình. Làm ơn cho ai đừng nhớ, chịu ơn ai đừng quên.

Hiếu nghị luận nhân trường đoản, thị phi, vi đại ác.

Những kẻ hay bàn luận việc hay dở, phải trái của người là bọn đại ác.

CTHÐ: Nói, viết, bàn luận về những việc làm hay, dở, phải, trái của người đời sao lại bị coi là bọn đại ác? Nói, viết, bàn luận, khen chê đúng là việc ta phải làm. Chỉ cần “đúng.”

Tôi ngừng bàn loạn về những cach ngôn, châm ngôn, lời hay, ý đẹp trong “Kiến Văn Tiểu Lục.” Tôi sẽ viết tiếp về những lời này trong một bài sau. Nay mời quí vị đọc chủ đề của bài này: “Bịa chuyện, Nhận vơ”:

o O o

Cho đến những năm trước năm 1940 ở Bắc Kỳ vẫn còn cái tục – thói quen – người đau ốm không đi bệnh viện, không dùng thuốc mà cho người đến những đền miếu nghe nói là nơi có Thần Thánh không phải là thầy thuốc mà nổi tiếng hay chữa bệnh cho dân, xin cái gọi là “tàn nhang, nước thải” về uống để trị bệnh. “Tàn nhang” là tro từ cây nhang bị đốt cháy, “nước thải” là nước đã cúng Thần, nước đã được Thần dùng rồi.  Năm tôi – CTHÐ – 10 tuổi, năm 1942, 1943, việc người bệnh uống cái gọi là “tàn nhang, nước thải” không còn nữa.

Mời quí vị đọc nguyên nhân cái tục “người bệnh uống nước thải hoà tàn nhang” của ông bà ta ngày xưa. Tôi – CTHÐ – chắc đây cũng là việc ông bà tôi bắt chước người Tầu.  Chuyện “Tàn nhang, nước thải” An Nam được ghi trong tác phẩm “Kiến Văn Tiểu Lục “ của ông Quế Ðường Lê Quý Ðôn.

Kiến Văn Tiểu Lục. Sao y bản chánh. Tập 2. Trang 340

Ðền Ðức Cao Sơn Ðại Vương ở làng Láng Giản, huyện Chí Linh. Tục truyền Ðại Vương chữa bệnh rất giỏi, thường hiện làm ông lang đi chữa hai bệnh đậu, sởi cho trẻ em. Có người ở Sơn Tây, con vừa lên đậu vưà lên sởi, may gặp ông già nói là chữa được, bèn đón về nhà, bốc thuốc chữa. Quả nhiên đưá con khỏi bệnh, mới hỏi họ tên và quê ở đâu, ông già nói:

– Ta tên là Cao Sơn, nhà ta ở đầu cái hồ thôn Láng Giản, huyện Chí Linh.

Người kia theo lời mang đồ đến tạ, thấy đó là ngôi đền cao ngất như ngọn dáo, cây cối xanh um, mới biết là Thần hiển thánh. Từ đấy Ðại Vương nức tiếng là Thần Y. Ai có bệnh cứ mang đồ lễ chay, và một bình nước trong, đến quì dâng trước đền, xưng tên, kể rõ bệnh trạng, xin Thần chữa cho. Nhiều người được khỏi bệnh. Người xa, người gần, đến xin chữa bệnh hay bán con, rất đông.

Ngưng trích.

Trong tiểu thuyết Số Ðỏ của Vũ Trọng Phụng có đoạn Cụ Cố Hồng — nhân vật sống mãi với câu nói “Biết dzồi.. Khổ lắm.. Nói mãi.. ” khi bệnh được người nhà đi xin “tàn nhang, nước thải” ở cái đền gọi là Ðền Bia về cho uống.

Dường như – tôi nhớ lơ mơ – người bệnh uống tàn nhang, nước thải trong Số Ðỏ không phải là ông Cố Hồng mà là ông bố của ông Cố Hồng.

Kiến Văn Tiểu Lục. Sao Y Bổn Chánh hai chuyện “Nhận Vơ.” Tập 2. Trang 344.

Người đời thường sai lầm về việc xưa. Tập “Thi Liên Hợp Bích” ghi chuyện:

Vua Thánh Tổ nhà Minh ra vế đối:

Si, My, Võng, Lạng, tứ tiểu quỷ.

Ông Giải Tấn đối:

Cầm, Sắt, Tỳ Bà, bát  đại vương.

Vua khen:

– Câu đối hay như trời sinh ra vậy.

Thế mà truyện ta thì vẫn cho câu đối đó là của ông Vũ Duệ người bản triều.

Phần “Tùng Thuyết” ở sách Thuyết Phu có chuyện:

–  Ông Dương Ức đời Tống đi sứ sang nước phương Bắc. Bắc triều làm lễ tế Hoàng Hậu, cử ông vào đọc văn. Khi mở bản văn tế chỉ thấy giấy trắng, không có một chữ. Ông liền đọc:

Duy linh
Vu Sơn nhất đoá vân
Lăng Uyển nhất đoạn tuyết
Ðào Nguyên nhất chi hoa
Thu không nhất luân nguyệt.
Khởi kỳ:
Vân tán, Tuyết tiêu, Hoa tàn, Nguyệt khuyết!
Phục duy thượng hưởng

Dịch

Kính nghĩ Ðức Bà xưa
Non Vu một đám mây, Vuờn Lãng một chòm tuyết
Nguồn Ðào một cành hoa
Trời Thu một vầng nguyệt
Ðâu ngờ:
Mây tán, Tuyết tan, Hoa tàn, Trăng khuyết!
Xin kính hưởng.

Vua Tống Chân Tông rất mừng về tài mẫn tiệp của ông Dương Ức. Thế mà ta thì cứ cho đó là chuyện ông Nguyễn Ðăng Cảo ở triều ta.

Sách “Triều Dã Thiêm Tải” ghi chuyện:

Cao Thôi Ngụy đời Ðường thích làm trò cười. Vua sai nhẩy xuống sông xem đáy sông có gì lạ không. Cao lặn xuống sông. Lúc sau nổi lên, há miệng cười lớn. Vua hỏi có chuyện gì mà cười, Cao nói:

– Thần gặp ông Khuất Nguyên, ông ấy nói với thần: “Ta gặp Hoài Vương vô đạo mới phải nhẩy xuống sông Mịch La, anh nay gặp Minh Chuá, xuống đây làm gì?”

Vua vui lòng, thưởng cho Cao trăm tấm gấm.

Thế mà ta cứ cho đó là chuyện ông Lương Thế Vinh. Rõ thật là bịa chuyện.

Ngưng trích.

CTHÐ phụ đề Việt ngữ: Tác giả “Kiến Văn Tiểu Lục” viết về một số chuyện của người Tầu, được ghi trong sách Tầu, vậy mà những người Việt  cứ nhận, cứ khoe đó là những chuyện do người Việt làm. Tác giả “Kiến Văn” kể và kết:

“Rõ thật là biạ chuyện.”

Kính thưa Lê Quế Ðường Tiên sinh: Ông cha tôi không “biạ chuyện“, ông cha tôi chỉ “nhận vơ.”

Chuyện đọc Văn Tế “Vân tán, tuyết tan, hoa tàn, nguyệt khuyết ” là chuyện của người Tầu đời Tống, có ghi trong sách của Tầu. Ông cha tôi “nhận vơ” đó là chuyện của dân tộc mình. Thời ông Lê Quí Ðôn đang sống, ông cha tôi kể nhân vật đọc Văn Tế trong chuyện là ông Nguyễn Ðăng Cảo. Sau đó khoảng trăm năm, nhân vật đọc Văn Tế được đổi ra là ông Mạc Ðĩnh Chi. Chuyện Ông Trạng Mạc Ðĩnh Chi đọc Văn Tế ở triều đình Tầu được kể trong rất nhiều sách văn học nước tôi. Ba trăm năm trước ông Lê Quý Ðôn đã viết đó là chuyện người Tầu, ghi ở sách nào.vv..vv. Chắc cũng có nhiều người đọc “Kiến Văn Tiểu Lục” nhưng dường như chẳng ai cho chuyện “nhận vơ” như thế là không nên. Ông Dương Quảng Hàm, người được coi là nhà làm sách văn học kỹ, đúng nhất Việt Nam, cũng ghi chuyện “Trạng nguyên Mạc Ðĩnh Chi đi sứ sang Tấu đọc văn tế” trong một quyển Việt Nam Văn Học Sử của ông.

Nhắc lại cho đúng: Ông cha tôi không “biạ chuyện,” ông cha tôi “nhận vơ.”Nhận vơ” tồi hơn “bịa chuyện.” Muốn “Biạ chuyện” người bịa phải có tài tưởng tượng, tài sáng tác. “Nhận vơ” lấy chuyện hay của người làm chuyện của mình.

Nay mời quí vị đọc một chuyên Hay Hay, Vui Vui trong “Kiến Văn Tiểu Lục”:

Kiến Văn Tiểu Lục. Tập 2, trang 366,367.

Làng Tử Cầm ở huyện Chương Ðức. Phiá Tây làng có hơn 10 ngọn núi đá, trong đó có một cái động. Hồi gần đây có làm một tòa hành cung ở trên núi nên đổi tên là xã Châu Long.

Châu Canh, người đời nhà Trần, ở làng này. Người ta kể: Nhà Châu Canh nghèo, ông bố mất sớm, bà mẹ Canh dọn hàng bán nước ở chân núi. Thôn ấy có một ngọn núi đá, trên đỉnh núi có khối đá hình dáng như con cóc ngồi xổm; ở chân núi phiá đông có khu đất khá rộng, giữa khu đất là một cái hồ. Buổi chiều khi mặt trời về phiá Tây, ánh nắng chiếu in bóng con cóc trên đầu núi xuống mặt hồ. Trước mặt hồ là khu ruộng rộng khoảng vài mẫu, dáng đất như hình dao cầu cắt thuốc.

Một hôm có một người Tầu đi qua, vào quán uống nước, thấy mẹ con Canh nghèo quá, thương hại bảo Canh:

“Bên núi này có một ngôi đất rất tốt, bóng con cóc trên núi ngự trên ngôi đất này. Ta chỉ cho anh làm nhà mà ở trên chỗ đất ấy. Chỉ trong ba năm là anh được làm quan, được ở gần vua. Nhưng khi anh đã là quan sang giầu rồi thì anh phải dẹp ngay căn nhà đó, anh làm nhà nơi khác mà ở. Nếu cứ ở chỗ đó, anh sẽ gặp tai hoạ.”

Canh làm theo lời ông thầy Tầu, làm căn lều trên chỗ đất được chỉ, Canh sống trong lều đó, ngày đi cày thuê, cuốc mướn cho người. Năm Canh 20 tuổi, dân trong vùng tổ chức một ngày xuống hồ bắt cá. Canh đi bắt cá với người làng. Ðang bắt cá thì cái dây đeo cái rọ chứa cá của Canh bị đứt, Canh ghé vào bờ lấy một sợi dây leo bên hồ làm dây buộc rọ. Dây này quấn quanh bụng Canh. Buộc dây một lúc Canh thấy duơng vật của anh cứng lên, anh xấu hổ cứ đứng duới hồ nước, không dám lên bờ. Mọi người về hết. Bà mẹ Canh không thấy anh con về, chạy ra hồ tìm. Canh kể chuyện buộc dây leo cho mẹ nghe, bà mẹ anh bảo anh cởi cái dây leo đó ra. Canh cởi ra, dương vật anh sìu xuống. Canh thấy lạ, đem sợi dây leo về nhà,phơi khô, cất đi. Ít ngày sau Canh đem dây ra buộc quanh bụng, lại thấy như lần trước. Bèn cho là vật quí, gác lên gác bếp.

Sang năm sau, Vua Trần Dụ Tông mắc chứng dương nụy, sai xá nhân đi khắp nước rao tìm thầy chữa bệnh. Một xá nhân ghé vào hàng nước của bà mẹ Châu Canh. Canh nghe chuyện Vua bệnh, mừng lắm. Tự nói mình có thuốc chữa. Xá nhân đưa Canh về kinh đô. Canh đem sợi dây nấu với nước như nấu canh, cho Vua uống. Vua dùng vài lần thấy hết bệnh, trong thưởng và trọng đãi Canh, cho Canh ở ngay trong cung để gần vua.

Canh trở nên giầu sang, nhưng không nghe lời cảnh cáo của ông thầy Tầu, không đi ở chỗ khác mà lại cho làm toà nhà lớn nơi cái lều cũ.

Vì được sống trong cung vua, Canh thông dâm với các cung nữ. Chuyện vỡ lỡ, Vua không nỡ giết Canh, chỉ  đuổi Canh ra khòi cung.

Ngừng trích.

Chuyện ghi đến đây là hết.

Nửa đêm, xứ người, mưa tuyết, nằm trong phòng ấm, đèn vàng, an ninh, đọc sách. Chuyện xưa Châu Canh Dây Leo Cường Dương Tuyệt Dziệu làm tôi théc méc.

Ðể quyển “Kiến Văn” lên ngực, tôi nhắm mắt, suy nghĩ:

“Chuyện được ông Lê Qúy Ðôn ghi trong sách chắc phải là chuyện có thật. Nếu mình còn trẻ, 40, 50 cũng còn được, mình sẽ về xứ Bắc Cộng – mình không về để ăn chơi, tất nhiên mình không về để bợ đít bọn Bắc Cộng đang rẫy chết – mình sẽ về tìm làng Tử Cầm của ông Châu Canh. Làng Tử Cầm trong “Kiến Văn Tiểu Lục.” Mình về đấy tìm sợi Dây Leo Thần Lực ngày xưa. Mấy trăm năm dzồi, chắc là khó tìm, nhưng tại sao lại nghĩ là sẽ không sao tìm được? Mình mà tìm được thứ Dây Thần ấy, mình gây giống, mình sản xuất ra Thần Dzược Vinagra, mình bán ra khắp thế giới. Khi VINAGRA ra đời, mấy anh nhờ Sản xuất Viagra mà thành tỷ phú chỉ có nước khóc. “

Ðến đây tạm chấm dzứt chuyện Dây Leo Thần Lực Vinagra.

Advertisements

5 Responses

  1. Thưa quan bác Công Tử Hà Đông,
    Có một chuyện nhận vơ cầm nhầm nữa đó là việc Hồ chủ tịt nhái bài thơ của một đại thi hào đời Đường rồi tự nhận là thơ của mình rồi in vào sách quốc văn cho các em thiếu nhi ở VN học mới thác cười. Tôi không nhớ hết bốn câu thơ cùa “Bác” mà chì nhớ hai câu cuối, đại khái như sau:
    “Dưới thuyền bàn bạc việc quân
    “Nửa đêm tỉnh giấc trăng quanh chỗ nằm..
    Hai câu trên “Bác” đã thó từ hai câu:
    Ngư ông thụy chước vô nhân hoán
    Quá ngọ tỉnh lai tuyết mản thuyển
    dịch nghỉa:
    Ông chài giấc ngủ không hay
    quá trưa tỉnh dậy tuyết bay đầy thuyền
    Thấy quan bác nói về tuyết ở VA, tôi cũng ở không cách xa rừng phong của quan bác bao nhiêu, nhân chuyện “nhận vơ, bịa chuyện” mà mạo muội viết đôi dòng. Có gì sai xin quan bác và quý bậc cao minh góp ý. Đa tạ.

  2. Thưa ông/bà Linh,
    Đó là bài Nguyên tiêu của Hồ chó mao. Tôi xin viết ra đây cho quý vị thẩm định. Xin thưa là tôi không có siêu tầm thơ của thằng giặc già, tôi hỏi chú em Google thì tìm ra bài thơ đó như sau:
    元 宵
    今 夜 元 宵 月 正 圓
    春 江春 水 接 春 天
    煙 波 深 處 談 軍 事
    夜 半 歸 來 月 滿 船

    Phiên âm:

    Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
    Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên
    Yên ba thâm xứ đàm quân sự
    Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền
    Dịch nghĩa :

    Đêm rằm tháng Giêng
    Đêm nay, rằm tháng Giêng, trăng vừa tròn,
    Nước sông xuân tiếp liền với màu trời xanh.
    Giữa nơi khói sóng thăm thẳm, bàn bạc việc quân,
    Nửa đêm trở về, ánh trăng đầy thuyền.

    Và đây là bài thơ Ngư nhàn của thiền sư Không Lộ đời nhà Lý (có quan điểm cho rằng đây là bài Túy trước của Hàn Ác):
    Vạn lý thanh giang vạn lý thiên
    Nhất thôn tang giá nhất thôn yên
    Ngư ông thụy trước vô nhân hoán
    Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.

    Bản dịch của Kiều Thu Hoạch:
    Trời xanh nước biếc muôn trùng
    Một vùng sương khói, một vùng dâu đay
    Ông chài ngủ tít ai lay
    Quá trưa tỉnh dậy, tuyết bay đầy thuyền.

    Quả đúng như bạn Đoàn Linh nói, Hồ chủ tịt có cầm nhầm chữ nghĩa của người khác. Ở bên Mỹ này vô siêu thị mà cầm nhầm một gói snack thôi, hậu quả ra sao chắc ai cũng biết. Còn ở đây “cha già dân tộc” mà lại thuổng chữ nghĩa ý thơ của người khác rồi bảo là của mình thì quả thật vô liêm sỉ.

    Theo thiển ý của riêng tôi, bài thơ Nguyên tiêu này còn mang âm hưởng của bài Phong kiều dạ bạc nữa ở câu cuối cùng:
    Phong kiều dạ bạc
    Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
    Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
    Cô tô thành ngoại Hàn sơn tự
    Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
    (Tác giả: Trương Kế)

    Tôi viết ra cho quý vị thẩm định. Một con người mà tên cũng giả, ngày sinh cũng giả, ngày chết cũng giả, tình trạng hôn nhân cũng giả, chữ nghĩa cũng giả, vậy mà cả nước phải đi theo cái “tư tưởng” của một nhân vật toàn giả đó sao? Thật đáng buồn cho dân tộc Việt Nam.

  3. Thưa ông Ngan Vo,
    Ông quả thực là bậc cao kiến. Nhờ ông mà tôi đả nhớ lại mấy bài thơ danh tiếng vì cứ lõm bõm quên đầu quân đuôi. Tôi cũng vừa nhớ ra bài Phong Kiều Dạ bạc của Trương Kế và bài của thiền sư Không Lộ(?) là hoàn toàn khác nhau dù trước đó tôi đều thuôc cả hai. Riêng bài PKDB, thi sĩ Quách Tấn có mượn ý làm thành bài Đêm thu nghe qụa kêu, nhưng âm hưởng khác hằn chớ không ‘đạo thơ” như “bác”. Tôi xin trích bài của Quách Tấn dưới đây và xin đa tạ ông Ngan Vo đã chắc nhờ.

    ĐÊM THU NGHE QUẠ KÊU
    Từ Ô-y-hạng rủ rê sang,
    Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng…
    Trời bến Phong kiều sương thấp thoáng,
    Thu sông Xích bích nguyệt mơ màng.
    Bồn chồn thương kẻ nương song bạc,
    Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng.
    Tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi,
    Tình hoang mang gợi tứ hoang mang…

  4. Nhân dịp nói tới chuyện nhận vơ, tôi có cảm hứng nói tới một chuyện nhận vơ khác còn bỉ ổi và hậu quả tàn tệ hơn nhận vơ chữ nghĩa nhiều.
    Lúc còn ở trong nước tôi có đọc quyển “Hồi ký Nguyễn Xuân Chữ.” Cụ Chữ là một nhà cựu nho học, tham gia vào đảng phái quốc gia chống Pháp và trong hồi ký cụ kể rõ về việc đảng CS đã “hijack” cuộc cách mạng của nhân dân như thế nào. Lợi dụng sự phẫn uất của người dân với thực dân Pháp và chế độ phong kiến, đảng CS đã tham gia cuộc biểu tình với vài trăm tên và đã cướp công quần chúng rồi biến thành “cách mạng tháng 8” (sic). Từ đó dẫn đến một loạt thảm hoạ như cải cách ruộng đất, nội chiến Bắc Nam, rồi tới cải tạo công thương nghiệp, tù đày, vượt biên, … mà di hoạ còn kéo dài tới ngày nay.
    Nhưng mà trò đời đi đêm có ngày gặp ma, chơi dao có ngày đứt tay. Sự tức giận của quần chúng có thể bùng ra bất cứ lúc nào và mọi chuyện có thể biến đổi chớp nhoáng. Hôm sụp đổ bức tường Bá Linh, buổi sáng vẫn còn yên ả, nhưng tới chiều mọi chuyện khác hẳn. Tên độc tài Nicolae Ceauşescu lúc đi thăm Iran không nghĩ là quyền lực của hắn không còn khi trở về. Gần đây nhất là tình hình lộn xộn ở Ai cập mấy ngày qua là một ví dụ. Nếu đầu tuần này quyền lực của Hosni Mubarak còn vững như bàn thạch, thì tới hôm nay không ai dám nói trước điều gì sẽ xảy ra.
    Tôi viết mấy dòng này không chỉ để nói lên cái bỉ ổi của bọn CS khi nhận vơ công sức của quần chúng thuộc mọi đảng phái và khuynh hướng trong cuộc “cách mạng tháng 8”, mà còn là lời nhắn cho bọn thổ phỉ CS rằng: hãy dừng bàn tay đẫm máu lại trước khi quá trễ. Nếu sức mạnh quần chúng bị chúng mày nhận vơ và lợi dụng để xây dựng quyền lực và tài sản, thì quyền lực và tài sản của chúng mày cũng sẽ bị sức mạnh đó quét sạch. Chúng ta hãy chờ xem.

    • Đã khởi đầu sự nghiệp bằng nghề ăn cướp và nói láo thì vẹm phải củng cố sự nghiệp bằng những thủ đoạn lưu manh, dối trá. Hiện thời internet đã làm chúng không thể nói dối được nữa, nghĩa là một ngón nghề của chúng đã bị vô hiệu hóa. Sẽ đến một ngày khi trò cướp bóc và dối gạt đồng bào không đủ cho túi tham nữa, chúng sẽ quay qua tranh cướp với nhau cho đến khi chế độ sụp đổ.

      Chuyện ấy đã xảy ra cho Liên Xô và Đông Âu, làm gì mà chẳng xảy ra ở VN?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: