• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Trời Đất Vào Xuân

Rừng Phong Ngày 3 Tháng Giêng 2011.

Quạnh hiu buồn chuyện trước kia
Vẩn vơ nhớ lại, cười khì tấm thân.
Sớm mai trời đất vào xuân.
Thôi thì thôi nhé, có ngần ấy thôi.

Trên đây là bốn câu Thơ tôi làm ngày 10 Tháng Giêng năm 2005. Ðêm qua, tôi tìm thấy những câu Thơ này trong quyển Sổ Ghi những Chuyện Vặt trong năm 2005 của tôi. Sáng nay tôi kể ở đây vài chuyện với quí vị làm món quà cuối năm.

Hai câu:

Quạnh hiu buồn chuyện trước kia
Vẩn vơ nhớ lại, cười khì tấm thân.

Lấy ý từ hai câu Thơ tôi không nhớ của Thi sĩ Tầu nào:

Liêu lạc bi tiền sự
Chi ly tiếu thử thân.

Cười khì” không đúng. Làm sao tôi có thể nhớ chuyện xưa mà cười được! Hôm nay tôi sửa:

Lưu vong buồn chuyện quốc vong.
Ðau thương nhớ nước, khóc ròng một thân.
Sớm mai trời Mỹ vào xuân.
Thôi còn chi nữa! Có ngần ấy thôi.

o O o

Tuổi già hạt lệ như sương
Ba mươi năm lẻ tha hương cuối trời.
Quốc vong đau suốt một đời.
Tàn xương tro rắc quê người. Thế thôi.

Trên trang giấy xưa đã 5 năm, đây là bài thơ tôi làm khi một ông bạn đầu năm gửi cho tôi mấy cái E-mail, ông bạn đoán chắc trong thư là trong năm 2002 ở Việt Nam Tượng Già Hồ sẽ ra nằm ở bãi rác, bọn cộng sản sẽ bị nhân dân lôi cổ ra trước chợ, bợp tai, đá đít, đuổi đi.

Kỳ Hoa Nhị Thiên Nhất
Tiếp nhữ số điện thư.
Báo quyết minh niên nhật
Bắc Cộng đáo thu mu!
Dĩ quá tứ niên hậu
Cố quốc lù tù mù.
Hà sự tha bất đảo!
Trích địa ngã tồn lu!

Kỳ Hoa năm Hai ngàn Lẻ Một – 2001.
Nhận được của bạn mấy điện thư – E-mail.
Bạn nói chắc ngày này năm tới
Bọn Bắc Cộng sẽ ra bãi tha ma.
Nhưng đã qua bốn năm
Tình hình quê hương vẫn tối mù.
Tại sao chúng nó không đổ?
Sống ở đất trích tôi buồn lu..

Ðây là bài Thơ tôi tự vịnh năm 2005:

Tuổi Ðời Bẩy Bó Thu còn đạm,
Mắt mờ, tai lãng kính  chưa đeo.
Mất nước đau lòng anh cuốc cuốc
Nát nhà mỏi miệng chị eo..eo.
Thằng nâng bi Cộng mồm nhem nhuốc
Ðưá thổi chim Hồ lưỡi mốc meo.
Chủ Tịt Hậu Môn dzu Mỹ Quốc
Khoe: “Việt Nam đẹp nhất Lá Ðèo.”

o O o

Năm xưa chúng nó tung hô:
“Việt Nam đẹp nhất Bác Hồ Chí Meo.
“Năm nay chúng nó lộn lèo
Việt Nam đẹp nhất Lá Ðèo, Lá Ða.”
Anh đi chống Cộng đường trường.
Thành công chẳng thấy, những thương cùng sầu.
Thương về đâu, sầu về đâu?
Kỳ Hoa tuyết nhuộm mái đầu như sương.

Tôi không bình loạn gì nhiều về những bài Thơ Xưa này. Mong quí vị đọc và thông cảm:

Chuyện Ðàn Bà ở Mỹ:

Em Bẩy  Mốt Em vẫn Mười Bẩy
Em trẻ tâm hồn, tươi cái ấy.
Ðưá nào bảo Em là Bà Già
Nó vừa nói láo vừa nói bậy.
Nó bảo em “ Mặt con nít, đít bà già.”
Chấp gì! Nó nói tùm lum tòa loa.
Mặt em mướt như mặt con nít
Mà đít em là đít gái Mười Ba.

Tình lang duc vấn ngã niên kỷ
Lục thập niên tiền thiếp thập tam.

Thơ Ðỗ Phủ

Bồ đào mỹ tửu, dạ quang bôi.
Dục ẩm, tỳ bà mã thượng thôi.
Túy ngoạ sa trường quân mạc tiếu.
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi!

Thơ CTHÐ:

Uýt-ky  Mỹ tửu,  pha-lê bôi
Duc ẩm, hiền thê xa thượng thôi.
Tuý tử Kỳ Hoa, quân mạc khốc.
Cổ lai biệt xứ kỷ nhân hồi.
Uýt-ky rượu Mỹ, cốc pha lê.
Muốn uống, vợ hiền thúc lên xe.
Say chết Kỳ Hoa, Em chớ khóc
Xưa nay biệt xứ mấy ai về.

Thơ Trịnh Ðiền

Mã ngôi pha

Huyền Tông hồi mã, Dương Phi tử.
Vân vũ nan vong nhật nguyệt tân.
Chung thị thánh minh Thiên tử sự,
Cảnh Dương cung tỉnh hựu hà nhân?

Thơ CTHÐ:

Huyền Tông quay ngựa, Dương Phi chết.
Ái ân trời đất vẫn còn thương.
Thiên tử thánh minh làm chắc đúng.
Ai chết cùng trong giếng Cảnh Dương?

Kim Cốc Viên

Thử địa nguyên phi tích nhật nhân.
Ðịch thanh không oán Triệu Vương Luân.
Hồng tàn, lục tụy hoa chi hạ.
Kim Cốc thiên niên cánh bất xuân.

Thơ CTHÐ:

Ðất này chẳng phải đất tình nhân.
Tiếng tiêu oán mãi Triệu Vương Luân.
Hoa tàn, lá uá trên cành lạ.
Kim Cốc ngàn năm không có xuân.

Ðỗ Mục

Tiêu tiêu sơn lộ cùng thu vũ,
Tích tích khê phong nhất ngạn bồ.
Tá vấn Hàn Sa tân đáo khách:
“Khứ thời hoàn hạ Ðỗ Lăng vô?”

Thơ CTHÐ:

Tiêu tiêu xa lộ cùng thu vũ,
Tích tích khê phong nhất ngạn bồ.
Tá vấn Sài Gòn tân đáo khách:
“Khứ thời hoàn biệt Tạ Ông vô?”

Sụt sùi xa lộ cuối thu mưa.
Gió suối hiu hiu cuốn cỏ bồ.
Hỏi khách Sài Gòn vừa mới đến:
“Ngày đi Ông Tạ nắng hay mưa?”

Ðỗ Mục

Hoa đường kim nhật ỷ diên khai.
Thùy hoán Phân Ty Ngự Sử lai?
Hốt phát cuồng ngôn kinh tứ toạ.
Lưỡng hàng hồng phấn nhất thời hồi.
Lầu ngọc hôm nay mở tiệc vui.
Phân Ty Ngự Sử được ai mời?
Bỗng thốt lời ngông vang bốn mặt.
Hai hàng người đẹp mặt hoa cười.

Tức phu nhân

Tế yêu cung lý lộ đào tân.
Mịch mịch vô ngôn kỷ độ xuân.
Tất cánh Tức vong, duyên đế sự.
Khả lân Kim Cốc trụy lâu nhân.

Thơ CTHÐ:

Lưng ong cung cấm vẫn giai nhân.
Ðăm đăm không nói mấy mùa xuân.
Tức đã tiêu rồi, duyên đã hết.
Thương người Kim Cốc rớt lầu Tần.

Ðây là bài Thơ Kim Cốc Viên của Ðỗ Mục

Phồn hoa sự tán trục hương trần.
Lưu thủy vô tình, thảo tự xuân.
Nhật mộ đông phong oán đề điểu.
Lạc hoa do tự trụy lâu nhân.

Thơ CTHD:

Phồn hoa, hương sắc cũng tiêu tan.
Nước chẩy vô tình, cỏ vẫn xuân.
Chiều tà ai oán chim kêu gió.
Hoa rơi như kẻ rớt lầu Tần.

Lý Bạch

Nhất vi thiên khách khứ Trường Sa.
Tây vọng Trường An bất kiến gia.
Hoàng Hạc Lâu trung suy ngọc địch,
Giang thành ngũ nguyệt lạc mai hoa.

Thơ CTHÐ:

Nhất vi nạn khách đáo Ui-Dza. – USA
Ðông vọng Sài Gòn bất kiến gia.
Bạch Ốc công viên thính miu-dzích. – Music.
Hoa thành bát nguyệt lạc đào hoa.
Thân làm khách nạn đến Ui-Dza.
Ðông ngóng Sài Gòn chẳng thấy nhà.
Bạch Ốc công viên nghe miu-dzích.
Hoa thành Tháng Tám rụng đào hoa.

Thơ CTHÐ

Ta giữ cờ ta phất phới bay.
Ba mươi năm cờ vẫn còn đây,
Ba mươi năm nữa dù dâu bể
Quê Mẹ cờ ta phất có ngày.

Ðêm dài nhớ trước, thương sau.
Nỗi đau như biển, mối sầu như mây.
Hát cho vơi, hát cho đầy
Cho đêm Em thắm, cho ngày Anh xanh.
Em đi anh ở lại thành
Cái dzưa thì đắng, cái hành thì cay.

Cõi Tiên ngàn kiếp vẫn là Xuân.
Trăm năm ngắn ngủi kiếp hồng trần.
Tại sao Lưu Nguyễn ngày xưa ấy
Chẳng ở Thiên Thai với Ngọc Chân?

Hạnh phúc thần tiên chuyện hão huyền.
Người tiên đâu dứt được tình duyên.
Ðời vui hơn cõi tiên nhiều lắm,
Làng nước mình hơn hẳn Xứ Tiên.

Xem lại những trang tôi ghi mấy bài Thơ tôi dịch, phóng tác ở Sài Gòn những năm 1981, 1982, tôi tìm được hai bài Thơ của ông Nguyễn Thượng Hiền. Thơ ông chữ Hán, tôi phóng tác ra tiếng Việt. Rất tiếc tôi đã không ghi những bài thơ nguyên bản chữ Hán của ông.

Thơ Nguyễn Thượng Hiền:

Phong hầu trên ải, chuyện hoang đường.
Ngày tháng qua mau, dạ cảm thương.
Ca về rừng quế, non xanh thắm,
Mộng đến đào hoa, suối ngát hương.
Mưa gió nhớ người, thừa ý chí.
Trần ai hại kẻ có văn chương.
Rượu say nhớ chuyện ta thời trẻ,
Một mình lên núi ngắm mười phương.

*

Ðốt ngọn đèn khuya, đọc Sở Tao.
Mở song, mưa gió, lá ào ào.
Chợt mưa, chợt tạnh, Trời không định.
Làm biển, làm dâu. Ðất cũng đau.
Ải vắng tin thư, thôi chẳng đợi.
Thu buồn gối lẻ, hết lên cao.
Mắt nhìn tùng cúc thê lương quá.
Còn hỏi càng cua uống rượu sao??

Thơ tôi làm khi đi đưa một người bạn tôi đến nghĩa trang:

Trước, Sau

Chưa biết thằng nào trước thằng nào.
Thằng nào đi trước, thằng nào sau.
Ði sau, đi trước cùng đi cả,
Thằng thì đi trước, thằng đi sau.
Không thằng nào nói: “Tao đi trước.”
Không thằng nào nói: “Tao đi sau.”
Thằng đi sau lậy thằng đi trước.
Thằng đi trước kệ thằng đi sau.
Ðã không tránh được đi sau, trước.
Cần quái gì lo chuyện trước sau!

Tạp chí PHỐ VĂN, Số 50, Tháng 04, 2005. Trích:

Vâng, cứ thế. Chủ nhật. Trưa, Phở Xe Lửa. Tại đây được gặp Hoàng Hải Thủy và chị Alice, vợ anh. Cả hai đều đã già, những chuyện tài tử, giai nhân đã nằm trong quá khứ. Chị Alice nói cười vui vẻ. Chị Alice ơi, kẻ này biết ngày xưa chị đẹp mê hồn, chẳng thế mà anh chàng Hoàng Hải Thủy khóc lên, khóc xuống, phải đăng báo năn nỉ chị về khi chị giận anh chị đi tá túc một nơi nào đó. Thời gian.. Ôi thời gian… Nhưng thôi, hãy vui lên với những gì trước mắt: tô phở thơm ngon, trời ngoài kia bắt đầu ửng nắng, dòng Potomac như dòng Danube… Kẻ này ngồi ngắm chị Alive và Hoàng Hải Thủy tay trong tay dìu nhau ra khỏi Phở Xe Lửa mà lòng chợt thấy thèm.

o O o

Mời quí vị đọc Chuyện Mèo của Nhà Văn Khái Hưng:

BA TÔI. Người viết Trần Khánh Triệu, con trai Nhà Văn Khái Hưng, trong Tập NHÀ VĂN qua hồi ức người thân. Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin Bắc Cộng. Trích:

(…) Mười tám năm trôi qua.., lắm lúc tỉ mẩn ngồi ôn lại những ngày xưa, tôi lại không khỏi ngậm ngùi thương mến một người cha hoàn hảo. Sinh trưởng trong một gia đình quan lại nhưng ngay tự tấm bé theo lời mẹ tôi thuật lại, ba tôi đã phải chịu cảnh hành hạ của bà mẹ ghẻ khắc nghiệt. Phải chăng vì phải chịu đựng hoàn cảnh ấy, ba tôi đã có kinh nghiệm sống để viết nên hai cuốn Thoát Ly và Thừa Tự. Cũng như theo lời mẹ tôi, hồi bé mỗi khi uất ức đau buồn chuyện gia đình, ba tôi lại vào chùa niệm Phật tụng kinh cứu khổ.

Tết năm 1944 bà tôi mất ở Cổ Am, trong mấy ngày đêm liền, ba tôi đêm nào cũng thức tới khuya tụng từng pho kinh A Di Ðà hay Ðịa Tạng. Trong các tác phẩm của Khái Hưng, người ta vẫn thường nói có cái gì phảng phất nhẹ nhàng của đạo Phật, điều đó thiết tưởng cũng không lấy gì làm lạ.

Nhiều người thấy ba tôi gầy yếu (nặng khoảng 46 cân) lại là nhà văn, nên vội cho là ba tôi nghiện hút. Ðiều đó tuyệt nhiên không có. Ba tôi không hề cho rằng mình là nhà văn nên được quyền sống phóng đãng. Hồi ở Ninh Giang ba tôi mê quần vợt, lúc ở 80 Quan Thánh vì tuổi đã cao, nên chỉ tập tạ nhẹ. Ba tôi lại bơi ếch rất tài, bơi rất chậm nhưng lại rất dai. Hồi ở Sầm Sơn, sáng nào cũng ra biển từ sớm, lội chừng bốn trăm thước hay đi bộ lên Hòn Trống Mái lên Belvédère tập thể dục.

Ba tôi chỉ nghiện có thuốc lá, hồi nào nhà dư dả thì Mélia vàng, ít tiền hút Pip. Khi nào cần thức khuya viết bài thì cà phê hay chè tầu nhưng phải là loại hảo hạng.

Mỗi nhà văn thường có những thói quen khi sáng tác. Ba tôi cũng vậy. Viết bài phải viết vào lúc sáng sớm hay đợi lúc về khuya. Ngồi ung dung trên chiếc ghế mây, trời lạnh xếp bằng trên ghế, trước hết ba tôi ngâm nga vài câu chèo cổ hay trống quân rồi điếu thuốc ngậm trên môi, thỉnh thoảng lại thả khói tròn lên trần. Bút máy thường là loại Waterman ngòi vàng, viết trên giấy pelure dày. Khi nào ngừng lại nghĩ ngơi, ba tôi lại có thói quan vẽ những hình xoáy ốc hay những chữ S kế tiếp dính liền nhau.

Trong các giống vật, ba tôi chuộng mèo hơn cả (chim cũng có thích nhưng có một lần nuôi chim bị chết trong lồng, ba tôi không hề nuôi nữa). Có một con mèo Xiêm sống tới sáu, bẩy năm trong nhà được ba tôi lo cho từng tí một. Ngồi viết bài, ba tôi thường bắt nó lên lòng vuốt ve, khi nào dáng chừng được một đoạn văn vừa ý lại bế nó lên đi đi lại lại trong phòng. Mỗi lần con mèo đó dẫm chân làm bẩn cả nệm, mẹ tôi tỏ ý khó chịu, ba tôi chỉ trả lời: Những cánh hoa đào in trên nệm càng đẹp chớ sao?

Nói đoạn ba tôi cười xòa, thế là xong chuyện.

Yêu mèo bao nhiêu, ba tôi ghét chó bấy nhiêu. Có lần tôi đem chó về nuôi, ba tôi bắt phải cho hàng xóm ngay tức khắc. Chó theo ý ba tôi là giống vật nịnh bợ. Khác hẳn với mèo, ai tử tế nó thân thiết, ai chọc nó, nó cào ngay. Thái độ dứt khoát hẳn hoi như thế chứ không như anh chó nhiều khi đá vào mồm vẫn ve vẩy đuôi, hí hởn, le lưỡi liếm ngoen ngoét thực là đáng ghét.

Ðối với mèo như vậy nên mỗi lần tôi nghịch cắt râu mèo, lấy vải bịt kín đầu mèo rồi ra sức kéo đuôi thì y như ba tôi có biện pháp mạnh đối với tôi. Hoặc phạt không cho ăn tráng miệng, hoặc úp mặt vào tường.

Với mẹ tôi (đã qua đời năm 1954 vì bệnh tim), ba tôi không bao giờ làm cho người phật ý. Sống với nhau trong bao nhiêu năm trời không con cái gì, chỉ có tôi là đứa con nuôi, ba tôi năm nào cũng nhớ tới ngày hôn lễ của hai người, tặng mẹ tôi khi thì cái áo, khi thì chỉ một cành hoa ngắt ngoài vườn. Những lần như vậy, mẹ tôi lại ôm lấy tôi ứa nước mắt vì sung sướng.

Ðến đây, tôi cảm thấy có bổn phận nói về mẹ tôi một đoạn, vì chính nhờ mẹ tôi mà ba tôi mới khỏi phải nghĩ về sinh kế để có thể sáng tác nhiều văn phẩm như vậy. Mẹ tôi tên thật là Lê thị Hòa, biệt hiệu Nhã Khanh, con một vị Thượng thư đậu cử nhân triều Nguyễn. Gia đình bên ngoại tôi rất khá giả, cho riêng mẹ tôi hơn năm mươi mẫu ruộng miền Quế Phương, chợ Cồn. Nhờ tiền thóc thu được hàng năm nên việc chi tiêu trong gia đình cũng đỡ rất nhiều. Mẹ tôi lại khéo thu vén, buôn bán nên mặc dù số lương viết báo hồi đó có 30 đồng một tháng, ba tôi cũng không cần lấy phần nào hoa lợi bên nội, dù ba tôi có quyền hưởng. Mẹ tôi chữ Nho viết rất đẹp, tính tình đoan trang, ít nói, hiểu rộng Hán học. Cứ đến đoạn nào viết về các bà, ba tôi cũng hỏi ý kiến mẹ tôi cẩn thận. Còn nhớ trong cuốn sách Bông Cúc Huyền viết hồi ba tôi ở Quần Ngựa, Hà Nội, mẹ tôi ở xa chưa kịp coi, có đoạn viết “đôi ủng đan bằng kim tuyến”, khi đọc mẹ tôi nhất định cho “đan” là sai, vì kim tuyến không đan được. Cuối cùng ba tôi cũng phải cười, nhận mẹ tôi có lý.

Trở về chuyện ba tôi… đối với gia đình như vậy, đối với bạn bè, ba tôi lại có cảm tình nồng hậu đặc biệt. “Mê bạn như mê gái” đó là lời mẹ tôi nhận xét sự giao thiệp của ba tôi với các nhà văn trong Tự Lực Văn Ðoàn. Trong nhà dù có bận việc đến đâu, anh em rủ đi ngắm cảnh chùa Thầy, chùa Trầm, hay lên Sa Pa, Tam Ðảo, ba tôi cũng vui vẻ đi ngay. Những giờ làm việc cho tới khuya để kịp ra báo, tôi vẫn thường nghe thấy tiếng ba tôi cười vang cùng anh em, có lẽ đó là những giây phút thần tiên nhất trong cuộc đời ông vậy. Cũng theo lời mẹ tôi, bản chất của ba tôi là con người nghệ sĩ. Về sau tham gia hoạt động chính trị cũng chỉ thấy anh em làm, ba tôi cũng tha thiết làm với anh em…

o O o

Ðây là chuyện Mèo của ông Nguyễn Mạnh Tường:

Tôi lang thang trôi dạt đến khu Ba Ðình, nơi mà xưa kia tôi hay đến chơi tennis. Chưa đến giờ tan sở, trên sân vắng bóng người chơi. Ðang ngồi cạnh sân, bỗng nhiên tôi ngạc nhiên thấy như một cục gì đang lăn tròn dưới chân tôi mà lúc đầu tôi cứ tưởng là một cục len. Ðó là một con mèo bé tí chắc mới đẻ vài ngày, chắc là mẹ nó, theo thói quen, đã quyết tâm bỏ đi để nó tự một mình khám phá thế giới. Tôi bế nó lên trong lòng bàn tay, dịu dàng vuốt ve nó và tôi cảm thấy nó thật tội nghiệp. Nó và tôi là hai kẻ lạc loài đang trôi dạt bơ vơ trong cuộc đời, cả hai cùng chung cái đói, nạn nhân cùng bị cô lập và sầu não chung một số phận. Sau khi đi một vòng trong khu nhà hỏi xem ai là chủ nó, câu trả lời luôn là không biết, tôi cám ơn sự may mắn hay Ðấng Cứu Thế nào đó đã trao cho tôi một người bạn đồng hành bất hạnh và khốn khó để tôi có thể thì thầm chuyện vãn hầu lấp đầy cái khoảng thời gian trống vắng, để cho tôi có một kết nối tình cảm mà tôi không dám đòi hỏi nơi vợ con vì sợ rằng sẽ đào sâu thêm nỗi khổ đau của họ. Giữa tôi và vợ con, sự im lặng là cái hùng biện hơn là những lời nói và nó không làm tuôn thêm những dòng nước mắt. Câu chuyện giống như tôi và con mèo con kia: chỉ cần nhìn nhau trong ánh mắt là quá đủ cho những trao đổi tình cảm.

Ôm con mèo trở về nhà, tôi chia cho nó chén cơm trắng của tôi. Tôi rất vui khi thấy nó bằng lòng một chút cơm như thế và nó lên cân khá nhanh. Mỗi khi tôi ngồi thiền hay ngồi mơ mộng bên cạnh cửa sổ, nó leo lên ngồi trên đùi tôi, về đêm nó đến nằm kề bên cạnh tôi. Nhờ đó, tôi bắt đầu bước những bước đầu tiên, ra khỏi con đường hầm vô tận của cô đơn, tự cho mình một lý lẽ để sống bằng cách lấp đầy những khoảng trống trong sự hiện hữu của tôi. Tôi không thể đi dạo một mình ngoài đường vì lúc nào cũng có bọn chó săn bám gót phía sau. Tôi không thể ghi danh vào Câu lạc bộ Tennis Ba Ðình vì giá vợt, banh và giày vải để chơi là quá cao, những cái giá thật điên khùng mà tôi không thể nào vươn tới. Nhưng điều làm tôi đau lòng nhất là thấy biến mất những bạn cùng chơi Tennis với tôi ngày xưa nay kiếm cách tránh và chạy mặt tôi. Sự bỏ chạy của họ như là những cú dao đâm vào tim tôi, tôi không thể nào đóng vai một kẻ vô gia cư hay cùi hủi. Tôi hiểu thái độ những người bạn chơi tennis kia, tất cả đều là những chức sắc cao cấp trong chính quyền, dĩ nhiên là những người của Ðảng, là những người luôn luôn lo lắng hơn ai hết về tương lai quan chức và chính trị của mình. Vì thế họ sẽ bị kinh hoàng khi phải bắt tay một kẻ đang bị bệnh dịch và phải chơi một trận tennis với kẻ này. Họ cũng chỉ là con người, với những tâm hồn yếu kém, tôi không thể nào mong họ bớt mất tư cách hơn, bớt hèn hạ, bớt mất phẩm giá hơn.

Con mèo lớn nhanh và nó được tôi dành cho nhiều săn sóc. Nó giúp tôi hoà giải lại với cuộc đời, nó làm nẩy nở trong tôi cái thú vui được có lại những sinh hoạt trí thức, những sinh hoạt ngày xưa đã đem lại cho tôi những niềm vui thanh khiết.

Sao y bản chánh

Advertisements

31 Responses

  1. Tôi rất phục Công Tử, một nhà văn ” còn trẻ “, trong thời đại của chúng ta, mà lại có trình độ chữ Hán rất cao. Tôi nhớ, có lần Công Tử tiết lộ : ông học chữ Hán với thầy Đào Mộng Nam, và khi thầy kiểm tra bài học chữ Hán lần cuối, Thầy Nam có phán rằng: ” Chữ Hán sẽ không bao giờ rời bỏ công tử nữa ! ” Nay tôi thấy công tử làm thơ và dịch thơ chữ Hán, tôi khâm phục hết sức !
    Hồi đi tù cộng sản, những tháng ngày chết tiệt, phải ngồi nghe lũ cán ngố lải nhải ba cái điều chúng nó được cấp trên nhét vào cái óc mít của chúng nó, tôi gần hóa điên ! May sao, đúng lúc ấy, một anh bạn tù có bộ sách Tư Học chữ nho của Đào Mông Nam. Mổi khi cán cộng lép nhép, tôi tập trung tâm trí vào việc nghiền ngẫm chữ Hán; và nhờ trời, do vậy, tôi biết lõm bõm it chữ Hán, đâu cũng được vài ngàn chữ. Nhưng ra tù, rôi qua Mỹ, đi quyét nhà, rửa chén riết, lại lo khoa chân múa tay khi sài tiếng Mỹ, tôi quên béng cái chữ Hán lằng nhằng. Nay hơi rảnh, rị mọ tìm lại thì thấy trí nhớ quá tệ. Không biết công tử có cách chi chỉ dẫn cách học chữ Hán, hoặc truyền lại kinh nghiệm của ông về cách nghiền ngẫm chữ Hán, sao cho nó ở lại với mình. Nếu được như thế, chắc có nhiều bạn đọc như tôi được đội ơn ông .

    • Mr Giang Anh. Rat tiec, ong oi. Toi cung quen het chu Han roi. ” Chu Han khong bo toi, toi bo chu Han. ” Di tu lan hai 6 nam khong doc chu Han, tro ve mai nha xua phai lo sinh ke, sach chu Han cua toi mat het. Du khong mat, co sach chu Han toi cung khong con thi gio va tam tri de doc. “Van on, Vo luyen” Bi kip that don gian. Muon khong quen chu Han, ta phai doc chu Han moi ngay. Mat toi nay doc chu A,b,c con kho thay ro, het con doc duoc chu Han. Rat tiec. CTHD

  2. Xưa kia thầy đẻ vẫn cho đi học, đi hành như ai. Cũng có Tú kép như ai. Hồi đó hách phải biết.

    Thế nhưng, mình con nhà văn lại mê làm lính.

    “Thế” là buông cây bút, cầm cây súng. Đến khi giải ngũ thì mình lại bỏ cây súng để cầm cây cuốc, vác cái cầy.

    Nay nghe CTHĐ tán “hiêu” tán vượn về thơ, làm tôi cứ nghệt mặt ra như ngỗng đực, dẫu rằng vẫn chịu là hay … nhưng nào có dám phẩm bình, nhận xét gì đâu.

    Lại thấy ông Giang Anh bàn ra tán vào vào nữa làm tôi cứ ngẩn tò te.

    Vẫn hay … dốt nó khổ thế ấy. Đành câm thì khổ làm sao quý vị ơi ???

    • Bác Van Toan à! Bác đừng nên mặc cảm thái quá như thế. Không phải ai muốn học tiếng Hán cũng học được đâu. Chưa hết, học cho biết rồi, không phải ai cũng nhớ và áp dụng được những điều mình học, phải không bác ?

      Tuy nhiên, tôi thiển nghĩ, nếu đã không thể làm nên chuyện để rồi chỉ biết thở dài cho thân phận mình và học hỏi người khác, lại cũng không phải chuyện dễ làm!

      Tôi nói thế vì chạnh lòng nhớ tới vận nước VN vô cùng khốn nạn của mình. Phải chi bọn bồi tàu, phó nhòm, thiến heo, hoạn lợn, ở đợ, làm mướn v v… ở nước mình chỉ biết chép miệng thở dài như bác và đừng hung hăng học đòi đi làm chính trị, thì nước mình đâu đến nỗi đìêu linh như hơn nửa thế kỷ qua và đi đến chỗ mạt vận như hiện nay !

      • @Phương Lê bạn tôi.

        Cám ơn bạn đã có lòng khích lệ. Nhưng bạn à, tới ngần này tuổi rồi, dẫu có biết chắc rằng mình dốt thì đâu đến nỗi tệ phải không ạ.

        Có lẽ bạn sẽ bất ngờ khi biết rằng tôi lại … hãnh diện về những cái dốt của mình … thế mới chết chứ ?!

        Tôi đánh dấu chấm than ở đây, cố ý để công tử hà đông hiểu cho rằng, trong số các độc giả trung thành với trang mạng này, vẫn có những người dốt nhưng hiểu được những gì ông viết bằng cái dốt của họ. Họ vẫn cảm động và cảm xúc bằng sự kém cỏi của họ – điển hình là tôi.

        Như thế Hoàng công tử có lẽ sẽ rất vui, bởi ngòi bút của ông đã đi đến tận những nơi nhỏ bé và khiêm tốn nhất.

        Đó là lý do tại sao tôi phải kêu lên rằng mình dốt. Bạn Phương Lê quả thật đã đem đến cho tôi thêm nhiều tình cảm của con người đối với con người trong những thời gian cuối đời.

        Bạn gợi cho tôi nhớ lại ngày xưa khi bị thương, được tải thương đến bệnh viện, mấy ngày sau mới thấy trong túi quần, áo có nhiều tiền quá. Hóa ra, lính tráng “tụi nó” nhét vào cho mình. Sợ mình “đói rách” trong những ngày “bơ vơ” trong quân y viện.

        Nhiều khi tôi muốn sang đoạt cái hỗn danh ĐỒ NGU của ông bạn thương phế binh Đỗ Trọng Ngữ (đã mất)… nhưng không dám. Ôi sao nó dễ thương làm vậy !

        Vô cùng cảm ơn bạn.

  3. Kính Hoàng tiên sinh
    Tôi nghĩ bài “Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi…” là bài Lương Châu Từ của Vương Hàn.

    • Jan.13. 2011. Toi ghi sai ten thi si bai nay may lan. Dung nhu ong viet: bai Tho nay cua Vuong Han. Cam on ong ban. CTHD

    • Ông Ngan Vo kính.

      Ông làm ơn, nếu có thể cho biết bài dịch :

      Rượu bồ đào, chén dạ quang,
      Nửa chừng muốn uống tiếng đàn dục đi.
      Say nằm bãi cát li bì,
      Xưa nay chinh chiến người đi ai về.

      Là của ai. Có phải là của Vân Bình Tôn Thất Lượng không ?

      Còn 2 câu thơ sau (trong Cung oán ngâm khúc – Ôn như hầu – Nguyễn Gia Thiều) :

      Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ,
      Quán thu phong ủ rũ tà huy.

      Được dịch thêm :

      Cầu nước chảy ngồi trơ bến cũ,
      Quán gió thu ủ rũ bóng chiếu.

      Tôi thấy hai câu nguyên bản đã quá hay rồi, nhưng hai câu dịch lại càng tỏ thêm xuất sắc của tác giả. Tôi thấy nó hay quá. Hay đến nỗi học trò được nghe bình như vậy mà hiểu rộng thêm ra được nhiều lắm.

      Xin cám ơn ông trước.

      Kính.

      • Kính ông Van Toan
        Quả đúng đó là bản dịch của thi sĩ Vân Bình Tôn Thất Lương (tôi nghĩ là Lương chứ không phải Lượng). Ông có thể xem trong http://www.rfviet.com/forum35/showthread.php?t=50850. Ở đó cũng nói như vậy.
        Nhân nói chuyện thơ thẩn mới nhớ tới lý do tại sao tôi biết website này. Chẳng qua là tôi mê thơ, nhất là truyện Kiều và các bài cổ thi. Một hôm lang thang trên web tìm các bài bình về Kiều, tôi được link vào đây. Do thấy kiến văn rộng rãi của ông HHT về Sàigòn, văn chương của ông cũng như lập trường chống cộng dứt khoát của tác giả và đa số độc giả, tôi ra vào thường xuyên hơn trang web này và thường có ý kiến ý cò.
        Về chuyện dịch thơ, quả thật là nếu dịch thoát và tài tình, dịch giả cũng xuất sắc chẳng kém tác giả
        Kính chúc ông sức khỏe

      • Kính ông Ngan Vo.

        Thưa ông, ông đúng đấy ạ. Vân Bình Tôn Thất Lương. Giáo sư Việt văn trường Nữ Trung Học Đồng Khánh và Khải Định – Huế –

        Nhưng tôi bị lỗi vì gõ chữ.

        Thơ thì tôi cũng thích lắm, nhưng xưa đi học, tôi chịu lối phẩm bình về thơ (thẩn) của cụ Thượng Chi, nên ít khi ngó ngàng tới thơ. Tôi cũng thuộc dăm ba bài tình thơ lãng mạn – thời tiền chiến.

        Tuy không phải là kén, nhưng từ ngày mất nước đến nay, nhạc tôi cũng chỉ nghe được mấy bài từ hải ngoại. Hình như chỉ có 2 bài thì phải.

        Một là do bà Hà Thanh hát hay quá, thêm nữa bài ấy cũng có hồn chân thật, không sáo mòn – NỖI NIỀM.

        Bài thứ hai của Ngô Thụy Miên, nhưng chỉ nghe được thôi chứ không thích hẳn – ĐƯỜNG XA ƯỚT MƯA – Sĩ Phú hát. Cũng có lẽ vì ông này mà tôi nghe được chăng ?

        Còn trong nước thì tôi đành chịu chết. Thơ thì tôi chịu nhất (Việt Nam mình) là cụ Cao Bá Quát. Tôi mê đến nỗi không bài nào của cụ mà tôi không thuộc, dầu bằng chữ Hán không phải là sở trường của tôi.

        Văn điệu và cách dụng chữ của Chu Thần tiên sinh thật là tài tử thánh thót. Hình như trong từng tác phẩm có sẵn ý nhạc rồi vậy.

        Còn thơ Tàu thì thích mỗi bài Tỳ bà hành – Bạch Cư Dị – do Phan Huy thực (?) dịch. Bài dịch xứng đáng là một tuyệt tác. Quá siêu phàm.

        Kính.

  4. Kính gửi ông Phan Sinh và toàn thể độc giả.
    (Nhất là những vị từng là dân tác chiến).

    Kính xin ông Phan Sinh và quý vị thương tình cho tôi.

    Số là trong tất cả các bản đồ hành quân của chúng ta ngày đó, tất cả đều có những địa-điểm tự đặt ra ví dụ như Delta 55, Bravo 66 v.v… được gọi chung là “check point”.

    Nay quá lâu rồi, tôi không tài nhớ ra được “check point” trong Việt ngữ mình ngày xưa là gì. Việt ngữ mình có chữ rất hay (chỉ có hai chữ mà thôi).

    Vậy nay kính xin ông Phan Sinh, nhất là ông là dân DLO thứ thiệt, hẳn ông rất rành. Cùng chư vị, ai biết hay còn nhớ được xin dạy bảo cho.

    Tôi lấy làm cám ơn vô cùng.

    P/s – Vì tôi bị “tự tra tấn” quá lâu, nay chịu thua, phải tự đầu hàng với trí nhớ.

    Nên kính mong Hoàng công tử niệm tình tha thứ, vì đây là một câu hỏi rất vô duyên. Không ăn nhập với tinh thần của bài viết.

    • Bạn Phương Huỳnh mến,

      Xin thứ lỗi, toi không biết là được kêu đích danh cho đến hôm nay , đi lang thang xem Trời Đất Vào Xuân của Hoàng huynh, mới đọc được cau hỏi trên của bạn.
      Tôi xin tạm gởi vài từ ngữ cho bạn, trong khi đợi tôi hỏi vài anh bạn thân trong đon vị cũ (PB) ở Mỹ xem họ có câu trả lời chính xác cho chữ ” check point” không.
      Trên Bản đồ hành quân (Overlay) (xin nói rõ cho các bạn không đi lính biết) bằng giấy kiếng mỏng, chúng ta vẽ Điểm xuất phát, mũi tên chỉ đườngtiến của đơn vị hành quân theo bản đồ quân sự ( tỉ lệ 1/100,000) đến mục tiêu A, ròi B ròi C…A, B, C…được gọi là Mục tiêu (Objective) được khoanh tròn bằng mực xanh, đỏ. Còn các điểm Delta 55, Bravo 66…như bạn nói, có phải là ” Ám danh địa thế” không? Ám danh địa thế có trong Đặc lệnh truyền tin cho mỗi cuộ c HQ quan trọng, mình không đưọc gọi bằng tên thật ( bạch văn). Còn nghĩa của check point là ” điểm kiểm soát” thì tôi cũng không nghe tên này (VN) bao giờ.
      Vậy xin bạn đợi, khi nào tôi có được câu trả lời rõ ràng và chính xác cho chữ ” check-point” , tôi sẽ cho bạn hay liền. Kính, PS.

      • Hay là bạn muốn nói đến chữ” hoả tập”? Khi đơn vị hành quân đến một địa điểm nào, cần overnight, thì nhiệm vụ của đề-lô là phải thiết lập các hoả tập Pháo Binh xung quanh điểm đóng quân, và gọi về cho đơn vị PB yểm trợ biết, có khi phải bắn 1,2 quả đạn khói để điều chỉnh hoả tập. Nhưng chuyện này lại không ăn nhập đến chữ check point của bạn.

  5. @Bác Backy54 và bạn Phương Lê của tôi.

    Tôi không dám múa rìu qua mắt thợ. Nhưng với giọng hát này thì không thể nghe một mình được.

    http://www.youtube.com/results?search_query=ha+thanh

    Đây là một trong vài giọng ca tuyệt hiếm của VNCH. Giọng hát của bà tôi cảm thấy : Buồn nhưng không thảm. Xuống thật nhẹ, lên cao thật vun vút, không nghẹn, không vướng víu.

    Nhớ đến mấy câu trong ĐTTThanh, Cụ Tố Như tả cảnh Thúy Kiều đàn cho Kim Trọng. Tôi e cũng chỉ đến thế.

    Kính mời Bác và quý vị độc giả của Hoàng công tử thưởng thức.

    Thân mến.

    • Cám ơn bác đã chia sẻ. Hà Thanh quả có một giọng ca độc nhất vô nhị, vượt thời gian lẫn cả không gian !

  6. Kính Bác Phuong Huynh ,

    Cảm ơn bác đã cho nghe Hà Thanh. Bác nói đúng, Hà Thanh có giọng ca buồn nhưng không thảm rất hợp với lớp già hướng nội như bác và tôi. Thưa bác , cộng đồng người Việt bé xíu ở thành phố tôi cư ngụ hầu như ai người ta cũng đều mê những giọng ca như Tuấn Vũ, Giang Tử…..,và giải trí bằng coi phim bộ Hồng Kông ! Hóa cho nên tôi trở thành kẻ lữ hành cô đơn trong chính cộng đồng của mình về mặt thưởng thức nghệ thuật. Duy nhất có một người bạn nhỏ hơn tôi độ một bó tuổi đời, ở cách chổ tôi độ chừng nửa giờ xe là thân với tôi. Thỉnh thoảng chúng tôi đến nhà nhau lai rai vài sợi nhưng chính là để cùng nhau nghe lạI những giọng ca mà mình yêu mến một thời như Sĩ Phú, Nhật Trường như Thái Thanh,Thái Hằng mà không sợ ai chê là những tên nhà quê âm nhạc !! Tôi nhớ có lần nghe xong một bài của Thái Thanh ,chú ấy mới từ từ phán rằng : Anh ạ , mỗi lần em nghe bà này(T Thanh) hát là em nổi cả da gà !.Vâng ,Đúng quá, Cô Thái Thanh có giọng ca đi vào từng thớ thịt ,từng lỗ chân lông của ta khiến ta bị…nổi da gà với giọng ca bén và sắc như dao lam mà không một ai có thể bắt chước được hiện nay và mai sau.

    Bây giờ xin mời Bác PhuongHuynh và các Bác thân mến của tôi cùng nổi da gà với tôi qua giọng ca Thái Thanh với bài Người đi qua đời tôi sau đây :

    Kính mến , Bk54.

  7. Bác Phương Huỳnh ơi ,tôi quên còn một giọng ca nữa tuy không khiến bác phải nổi da gà nhưng dứt khoát khiến tâm hồn bác lâng lâng bay bổng. Nổi tiếng từ những năm 50 ,Tâm Vấn có một chổ đứng cao trong lòng người nghe như những tiếng hát cùng thời với chị như Kim Tước , Thái Thanh, Hà Thanh….

    -Xin mời bác đưa tay đón nhận Nỗi Lòng của chị Tâm Vấn qua bài hát sau :

    Hy vọng bác có được vài phút thoải mái để quên đi cơm áo gạo tiền của đời thường. Kính. Bk54.

    Ps— Bác Van Toan ơi, bài hát này cũng để tặng bác nếu bác để mắt tới xem ,chúc bác một ngày vui vẻ. Cám ơn bác về bài MC quăng lựu đạn ,và mong được nghe bác Xây Xâm Xing mo. Thân mến ,Bk54.

    -Ps2—Bác BacThan ơi ,hình như lâu rồi bác có nhắc đến phim Django thì phải ? Nay tôi siu tầm được phim Django của năm 1966 với chàng cao bồi đi bộ kéo theo cái quan tài trong đựng **** ,không biết có đúng phim bác théc méc không ?. Làm sao để post lên cho các bác thưởng thức đây ,bác chỉ cách cho tôi với. Thân mến ,Bk54.

    • Ồ … Trong quan tài đựng cái gì thì em xin được phép che lại để những người nào chưa xem háo hức hơn.

      Cổ Long có một cuốn dựa trên tình tiết này, em nghĩ thế.

    • Bác Backy54 kính.

      Tôi rất Wan Xây Xăm Xinh Mo “nắm”, chỉ vì mấy năm nay thời tiết, gió máy không được điều hòa như thông thường, nên mùa màng thật là khó đoán được thất hay trúng.

      Mùa màng, cây trái, thậm chí đến cả heo trong chuồng, gà vịt thả ngoài vườn ngoài ruộng, tôm cá dưới ao cũng không thể “chỉ thị”, “định hướng” theo đúng “đường lối, chính sách” của đảng và nhà nước được.

      Nên chúng tôi phải dụng tâm và khổ công rất nhiều Bác ạ. Năm ngoái toàn vùng (mấy huyện với nhau), chúng tôi bị thất trắng (chôm chôm, xoài cát v.v…). Khiến cho dân chúng ở đây ngất ngư con tầu đi. điêu đứng cả mấy năm nay.

      Xoài cát mà trúng một cú là phe phẩy còn hơn dân áp phe trúng mánh đậm nữa. Thế mà trắng tay bác ạ. Năm nay e rồi cũng không khá hơn tí nào so với năm ngoái.

      Giờ này gió chướng cũng không thấy lú ra tí nào, xoài thì lơ thơ tơ liễu buông mành, cây có cây không, mà chưa chắc có đậu hay không nữa.

      Khoảng năm năm trở về trước, tới mùa này thì chỉ thấy hoa không thấy lá. Năm nay thậm chí lá cũng không yên thân, vừa mới ra xanh mướt đã bị xoắn lại rồi … vì sương muối.

      Thấy xót xa cho con cháu, trời còn tối, vừng đông chưa hừng rạng, tôi đã phải ra vườn trong khi sương còn dày đặc để tưới vườn. Các con, các cháu không chịu, nhưng tôi vẫn cứ làm để lấy đó làm vui (vì thấy còn xứng đáng để sống).

      Ngày xưa thầy đẻ tôi mắng : Bé thì cậy cha, lớn lên cậy vợ, già thì cậy con cháu. Sướng nhỉ !

      Vì tính tôi hồi đó nó vô tâm lắm, chỉ biết ăn, học và chơi thôi. Việc nhà việc cửa chả động đến cái móng tay nữa.

      Bây giờ nghiệm thấy đúng xát ván. Các cụ linh thật ! Bởi vậy, càng ngày tôi càng chăm làm, để mình không là cục nợ cho các con, các cháu, nhất là nhà tôi. Bà ấy “xương” tôi nhắm.

      Cả nhà chỉ muốn tôi suốt ngày mở computer để đọc báo, đọc sách nghe nhạc và uống cà phê hoặc uống trà. Cách nhật thì làm mồi cho tôi nhắm với các “cụ” bạn già mí nhau cho đời đỡ tủi.

      Nhưng tôi thấy … làm sao ấy nên cứ lăn lưng ra vườn, ra ruộng. Lội cả xuống ao, xuống mương để vét bùn đắp bờ, đắp đường. Có được như vậy tôi mới thấy thanh thản và hạnh phúc. Cuối cùng cả nhà đều đồng ý mà chiều tôi.

      Ấy là nói thế thôi, bởi tôi lên cơn … lười một cú. Nổi máu giang hồ vặt … là mấy tuần chẳng thấy bóng dáng tôi đâu cả. Ai hỏi, thằng cháu ngoại nhỏ nhất nhà trả lời gọn bâng : Ông ngoại con đi đâu mất tiêu rồi !

      Hiện tại tôi không dám trở chứng lười, vì thấy gia đình cơ cực quá. Vì 4 năm nay thất bát nặng lắm, Trúng mùa nhưng thất bác ạ. Bởi càng trúng thì giá cả càng rẻ đến mạt.

      Ôi XHCN ! (xuống hố cả nút). Ôi ! CHXHCNVN !
      (cọng hành xả hẹ củ ngứa Việt Nam).

      Cám ơn bác cho nghe lại giọng ca của dĩ vãng (Tâm Vấn).

      Kính.

    • Kính gửi Ông Hoàng Hải Thủy.
      và toàn thế quý độc giả.

      Từ lâu được biết ông là bạn thân của nhà văn Dương Hùng Cường, riêng tôi lại thích DÊ HÚC CÀN hơn.

      Không biết Ông và quý vị biết bài báo này chưa ? Tôi biết đã lâu nhưng không rõ từ nguồn gốc nào, và đã copy riêng vào my documents. Nay post lại đây để hầu Ông và tất cả quý vị.

      Xin đừng nghĩ rằng tôi đánh trống qua cửa nhà sấm. Bởi trong độc giả của chúng ta, thể nào cũng có ít người chưa được biết.

      Kính.

      MỘT KỶ NIỆM KHÓ QUÊN TRONG TÙ VỚI NHÀ VĂN DƯƠNG HÙNG CƯỜNG.

      ——————————————————————————–

      Đặc biệt các vị thuộc binh chủng “không quần” hẳn không quên nhà văn quân đội Dương Hùng Cường thường được bạn bè gọi vui “Dê húc càn”, với nhiều tác phẩm viết về Không Quân ,Buồn Vui Phi Trường là một trong số. . . Ông bị đày đọa đến chết trong ngục tù cộng sản !

      Di ảnh nhà văn Quân Đội Dương Hùng Cường (giữa)

      Vũ Uyên Giang
      (Để nhớ đến bạn tôi nhà văn quân đội Dương Hùng Cường đã bị CS bức hại trong lao tù)

      1.

      Vũ đi dọc con suối nhỏ chạy giữa khu rừng tre già ở Vùng Kinh Tế Mới Cẩm Đường (Long Giao, Long Khánh) mong tìm kiếm được ít rau tàu bay, cải trời để làm món ăn độn cho cả bọn, vì hôm nay tới phiên anh “đi chợ” (1)…
      … Kinh nghiệm tù đầy trong “vòng tay nhân ái” của đảng CS đã cho bọn anh những bài học quý giá; nếu không muốn bị chết vì đói khát dưới sự lao động khổ sai và sự quản lý hà khắc của cai ngục thì phải biết đoàn kết, phải biết kết hợp thành từng nhóm nhỏ từ 2, 3 người để giúp đỡ lẫn nhau trong lao động cũng như sinh hoạt và ngay cả trong công việc tìm kiếm những cọng rau lang, rau muống, củ sắn, củ khoai… làm đầy cái bao tử vốn thường xuyên lép kẹp. Rừng tre già với những thân tre cao vút, oằn xuống.
      Tàn tre đan kín không gian, che khuất ánh sáng mặt trời chói chang bên trên, khiến khu rừng trở nên âm u, hoang vắng lạ lùng. Tiếng gà rừng xao xác, xen lẫn với tiếng kẽo kẹt của thân tre cọ vào nhau sau mỗi cơn gió thoảng. Tiếng chặt tre chan chát xen lẫn với tiếng reo hò của đám cải tạo mỗi khi chặt được một cây tre tạo thành những thanh âm hỗn độn, ồn ào, vang động cả một góc rừng. Vũ men theo triền suối, nước trong vắt chảy lững lờ. Một vài con cá lòng tong bơi tung tăng ngược giòng nước tạo thành những vệt sóng nhỏ lăn tăn.
      Vũ nghĩ, nếu giờ này mà có một cái vợt, anh sẽ vớt được những chú cá lòng tong bé tí kia, và đến chiều, cả bọn anh sẽ có một nồi canh rau với chút mùi tanh tanh của cá. Nghĩ đến đó tự dưng anh nuốt nước miếng… Anh chợt cười vu vơ, xua đuổi ý nghĩ vừa thoáng hiện trong đầu. Đời sống khổ ải trong lao tù khiến con người trở nên ti tiểu; suốt ngày chỉ nghĩ kế làm sao đánh lừa được cái bao tử bằng những cọng rau, những mẩu khoai, mẩu sắn nhặt nhạnh được trong khi lao động.
      Vũ dừng lại lắng tai nghe ngóng. Dường như có tiếng nói cười lao xao vọng lại từ bên kia bờ suối. Anh thận trọng nghe ngóng, dò xét để đi đến quyết định có nên sang bên đó không? Đây là một chọn lựa khôn khéo mà bắt buộc bất cứ người nào được cử “đi chợ” cũng phải đắn đo, thận trọng vì có thể đó là tiếng nói cười của bọn vệ binh canh tù. Lớ ngớ để chúng tóm được thì ốm đòn; có khi dám xơi cả băng AKAMICINE (2) vào người không chừng; nhưng cũng có thể đó là tiếng nói cười của đám tù nhân Trại khác cùng lao động ở khu vực này…
      Nhưng béo bở nhất là gặp được những người dân đi làm rừng, làm rẫy; đúng là trúng số, vì sẽ có cơ hội mua được tí đường, tí đậu, tí thuốc lào… Đôi khi có anh còn mua được cả lít “máu nhân dân” (3) hoặc ký thịt, ký cá v.v… về để dành ăn cả tháng.
      Anh còn đang phân vân không biết có nên băng qua con suối sang bên kia không, thì loáng thoáng nghe trong gió thoảng tiếng nói vọng đến: “Tụi mày biết không? Lúc tao ở Không Quân…” Giọng nói quen thuộc lắm anh nhớ là đã nghe tiếng người này nói ở đâu đó một đôi lần thì phải nên chắc là quen với anh. Vũ mỉm cười quyết định bước sang bên kia bờ suối.

      2.

      Người đàn ông gầy guộc, làn da sạm đen, hai má hóp lại và khi cười để lộ hàm răng có những chiếc răng cửa bị gẫy. Anh ta nằm ngửa dưới tàn một cây “cám” lớn. Chung quanh anh, lố nhố những người tù quần áo vá chằng, vá đụp đang kẻ đứng, người ngồi nghe anh nói chuyện. Chiếc điếu cầy lỏng chỏng trên nền đất. Trong trại tù thì chiếc điếu cầy là hình ảnh quen thuộc lúc nào cũng đi sát với cải tạo như vũ khí bên mình, chẳng thế mà có nhiều anh ví von là đeo Bazôka đó sao? Tiếng nói của người đàn ông sang sảng, ánh mắt sáng và khuôn mặt cương nghị khiến Vũ nhớ đến một người bạn thân của một thời xa xưa: Dương Hùng Cường, tức Dê Húc Càn, nhà văn Quân Đội ở binh chủng Không Quân QLVNCH, tác giả của Buồn Vui Phi Trường, Vĩnh Biệt Phượng… Vũ mạnh dạn bước về phía những người cải tạo đang quây quần nói chuyện. Người đàn ông ngồi bật dậy như giây lò so, gọi:
      – Vũ! Mày phải không? Lại đây.
      – Sao “ông” thay đổi nhiều quá vậy? Ở Trại nào ?
      Vừa hỏi, Vũ vừa đưa mắt ngầm chào những người bạn chung quanh Cường. Từ lâu, mặc dù chơi với anh, nhưng Vũ vẫn có thói quen gọi anh bằng “ông”, vì Cường lớn hơn Vũ khoảng 5, 6 tuổi gì đó; nhưng vì cùng là đồng nghiệp trong giới viết lách, văn nghệ văn gừng, báo chí; hơn nữa hai người lại chơi thân với nhau; nên trong đối xử Cường vẫn coi Vũ như một người bạn cùng trang lứa; ngược lại Vũ vẫn coi Cường như một người anh. Cường có thói quen gọi bất cứ người bạn thân nào cũng bằng mày, tao; nên Vũ cũng không ra khỏi cái thói quen thân tình đó.
      – Mẹ kiếp! Mày thì có hơn gì tao ? Cũng thay đổi như bất cứ thằng tù nào. Vào đây mà mày không thay đổi, cứ phây phây mập mạp là làm hỏng kế hoạch của đảng và nhà nước mất. Tao ở T.11, L.2. Còn mày? Cường hỏi. Anh vẫn giữ lối nói ồn ào, dí dỏm ấy.
      – T.5, L.1
      – Mày có gặp thằng nào “phe ta” không? Tao chẳng gặp thằng nào cả.
      Vũ đáp:
      – Có. Thằng Trần Ngọc Tự (4), Nguyễn Đăng Thạch (5), Nguyễn Thanh Trang (6) ở T.5 chung với tôi. Nguyễn Nguyên Phương (7), Phí Ích Bành (8), Nguyễn Đức Quang (9), Dương Kiền (10), Dương Cự (11) ở T.1; Đỗ Kim Bảng (12), Đào Văn Khánh (13) ở T.3, Khả Năng (14) ở T.2 và khi ở Phú Quốc gặp Nghiêm Phú Phát (15) và Võ Thế Hào (16)…
      Nói xong Vũ cầm chiếc điếu cầy rít một hơi. Những sợi thuốc lào Lạng Sơn chính hiệu, vàng óng, được cắt thật nhuyễn đưa anh vào cơn say ngầy ngật, tê dại. Dương Hùng Cường quay sang giới thiệu Vũ với đám bạn bè anh đang bu chung quanh:
      – Đây là thằng Vũ, đồng nghiệp làm báo của tao. Thằng này nhiều tài vặt lắm viết văn cũng được, làm thơ nghe cũng khá, đặc biệt nó chẳng học trường vẽ mà vẽ cũng có nét lắm… Trong đám viết lách tao chịu thằng này nhất vì nó thẳng thắn, không lươn lẹo, quanh cọ Nhiều lúc nó “phang” những búa mà cả tuần sau thằng bị phang mới biết, mới hiểu. Đau không chịu được… Như hôm Tết Mậu Thân, nó phang thằng Cả Quỷnh, Giám Đốc Trị sự của tờ báo nó đang làm ngay trên tờ báo Xuân; vậy mà mãi sau Tết con nhà Cả Quỷnh mới biết. Đau không để đâu cho hết đau. Bọn làm báo tụi tao thằng nào cũng căm mấy ông chủ báo keo kiệt, hà tiện mà chẳng làm được gì, chẳng dám lên tiếng; chỉ có thằng này hiên ngang phang cả nhà thằng Quản Đốc tờ báo mình đang làm trên báo nhà; mà lại là báo Xuân nữa mới đau điếng. Dường như lúc đó mày làm chung với thằng Viên Linh (17) phải không?
      – Ừ! Nhưng Viên Linh đã rời tòa soạn vì xích mích với Cả Quỷnh. Bấy giờ chỉ còn Anh Hoàng Sơn và Đạm Phong…
      – Mày có nghe tin tức gì của thằng Nguyên Vũ và Du Tử Lê không?
      – Không!
      – Tao nghe mấy thằng nó nói, chính mắt bọn nó trông thấy thằng Du Tử Lê bị chết ở chân cầu Thị Nghè. Có thằng còn quả quyết nhìn thấy chiếc xe Vespa của nó nằm lật gọng ở lề đường. Còn thằng Nguyên Vũ thì có đứa nói với tao là đến chiếu ngày 30/4/75 còn gặp nó ở Sàigòn; mãi ngày 2/5/75 nó mới lần mò ra Vũng Tàu và “tếch” ở đó. Tao thích tính thằng Nguyên Vũ, nó chơi chí tình với bạn bè, hơi màu mè một chút nhưng không thủ. Có tiền là xả láng… Mày nhớ bữa tiệc lột lon ở Trung Thành Quán ngày nó giải ngũ không? Vui quá hả mày?
      – Ông nghe những tin đồn về Phách và Chiêu (18) ở đâu vậy ? Nhiều khi chỉ là những tin đồn nhảm thôi. Sau ngày đứt phim, thiếu gì những huyền thoại! Vũ đáp.
      – Ừ, tao cũng nghĩ thế.
      Nỗi mừng vui xôn xao trong lòng; Vũ không thể nào ngờ gặp lại Dương Hùng Cường trong hoàn cảnh tù đầy này. Hai thằng ngồi nhắc nhở nhau về những kỷ niệm của thời làm báo; nhắc đến bạn bè, đứa ở, đứa đi mà ngậm ngùi. Cường thở dài:
      – Chắc chẳng có dịp gặp lại bọn nó quá! Mày có tính gì không?
      – Tính toán gì được ông? Bây giờ còn chưa biết sống chết ra sao; cứ được ngày nào hay ngày đó đã.
      – Ừ! Đành vậy. Mày còn trẻ. Ráng sống mà về. Còn tao bệnh hoạn hoài. Không biết có ra được không?
      – Hai Trại ở xa nhau quá; chứ nếu không tôi tìm cách gửi cho ông ít thuốc tây. Vũ nói.
      – Mẹ kiếp! Làm sao mà gặp được? Hôm nay đúng là may mắn, tao không ngờ gặp lại được mày. Tao mừng lắm. Nhất là biết tin tức của một số bạn bè… Để tao gói cho mày ít thuốc lào và ít đường thẻ tao vừa mua được của người làm rẫy.

      3.

      Sau lần gặp gỡ tình cờ ở khu rừng tre Cẩm Đường, Vũ không gặp lại Dương Hùng Cường nữa; dù anh cố tình dò hỏi các anh em bên trại T.1 và T.3 là hai trại kế cận với T.5 của Vũ; nhưng không có kết quả gì. Vì dù ở trong cùng một Liên Trại (19) gặp được nhau đã là khó, huống gì Cường ở Liên Trại L.3, còn Vũ ở Liên trại L.1… Khi về đến Trại, Vũ mang niềm vui bâng khuâng vì gặp được bạn cố tri trong hòan cảnh khốn cùng nhất.
      Vũ kể chuyện gặp gỡ Cường cho Trần Ngọc Tự nghe khiến Tự cứ tiếc hùi hụi là đã né không đi rừng hôm đó nên không được gặp Cường, vì Tự và Cường cùng phục vụ trong tờ báo Lý Tưởng của Binh chủng Không Quân. Bẵng đi cả năm sau, Vũ chẳng có cơ hội nào gặp lại Cường và cũng không nghe bất cứ tin tức gì về Cường nên không biết anh còn bị giam ở T.11 hay không?
      Trần Ngọc Tự thì đã bị chuyển ra ngoài Bắc trong đợt chuyển một số lớn anh em cải tạo thuộc thành phần “ác ôn, có nhiều nợ máu với nhân dân” như An Ninh, Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị… bị cho là nguy hiểm nên phải đầy ra núi rừng Việt Bắc vào đầu năm 1977. Cái lý do Tự bị đưa đi Bắc chỉ vì anh đã khai cấp bậc và chức vụ là: Trung úy Chiến Tranh Chính Trị, Thư ký Tòa soạn Tập san Lý Tưởng Không Quân. Bọn VC vốn ghét An Ninh, Tình Báo và Chiến Tranh Chính Trị, mà Tự lại khai là Thư ký Tòa soạn Tập san Lý Tưởng Không Quân; bọn VC ngu dốt cho là anh có nhiệm vụ soạn tài liệu về lý tưởng cho Không quân chống cộng. Hơn nữa trong một lần học tập chính trị, Tự đã phát biểu một cách văn hoa là: “Thưa các bạn, xuyên qua quá trình lịch sử VN cận đại, đảng CSVN xuyên suốt sợi chỉ hồng…” Tên quản giáo VC ngồi theo dõi buổi học tập đã chặn anh lại và “giáo dục những kẻ lầm đường lạc lối” (20) như sau:
      – Anh Tự. Anh là một người cực kỳ phản động, vào đến đây rồi mà anh vẫn còn tiếp tục chống phá cách mạng bằng cách dùng thủ đoạn chiến tranh tâm lý để tuyên truyền xuyên tạc đường lối của đảng và nhà nước ta; đổi trắng thay đen làm suy yếu đi cái tính chất vĩ đại thần thánh của đảng CS tạ Đảng CSVN là một đảng vĩ đại với sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt và vĩ đại của Bác, nên đã chiến thắng được 3 tên đế quốc sừng sỏ đó là Thực dân Pháp, Phát xít Nhật và Đế quốc Mỹ; đã dẫn dắt đến chiến thắng ngày nay, giành được tự do, độc lập. Đánh bại Đế quốc Mỹ và phá tan bộ máy chiến tranh khổng lồ của Ngụy quân, Ngụy quyền Sàigòn. Vậy mà anh dám xuyên tạc lịch sử VN là cận đại Lịch sử VN chỉ có vĩ đại chứ làm gì có cận đại? Đảng CSVN với biểu tượng là lá cờ đỏ rực rỡ thì anh xuyên tạc ra là sợi chỉ hồng là thế nào?
      Cả Tổ đã không nhịn được cười trước sự lý luận ngu dốt và sự hiểu biết nông cạn của tên cán bộ VC. Chính vì vậy mà y đã ghim Tự vào trong hồ sơ đen của những người ngoan cố chống đối; và hậu quả là trong đợt chuyển trại lần này nhằm đem những tên nguy hiểm ra Miền Bắc, nơi có điều kiện giam giữ khắc nghiệt hơn.
      Hôm Tự đi, Vũ đưa tiễn ra tận cổng trại, một đoàn người tiễn đưa bịn rịn. Tự cười toe toét, đưa tay sửa lại gọng kiếng cận thị nói:
      – Kỳ này tớ lại có dịp thăm lại Ninh Bình quê tớ rồi. Vũ nhét vào tay Tự mấy vần thơ anh viết tặng Tự và dặn “…Đọc xong thì đốt đi!”

      Tiễn bạn lưu đầy đất Bắc
      (Tặng Trần Ngọc Tự)

      Mày đi nặng gánh lao tù
      Gió mưa Việt Bắc mịt mù từ đây
      Còn tao heo hút chân mây
      Khổ sai, lao dịch dưới tay vượn người
      Mày đi, môi vẫn mỉm cười
      Cỏ cây rũ rượi khóc lời chia xạ..
      (Viết tại Long giao 1977 – VUG)

      4.

      Đến cuối năm 1977, khi mặt trận vùng biên giới Việt – Miên trở nên sôi động, tình hình chiến sự không còn ở mức va chạm nho nhỏ vì hiểu lầm nhau nữa mà chuyển sang mức độ giao tranh lớn. Khi ấy tình nghĩa của hai nước “CS xã hội chủ nghĩa anh em đời đời bền vững” Việt Miên đã tan vỡ sau khi tình hữu nghị Việt – Hoa đã biến thành thù hận. Mặt trận ở biên giới phía Bắc đã khiến cho “tên đàn em phản trắc Bắc Việt” phải nghĩ đến chuyện thanh toán “tên đàn em phản trắc” Khmer. Khu vực Liên Trại L.1/ Trại giam Long Giao được lệnh giải tán, dồn tù cải tạo sang Liên Trại L.3 để lấy khu L.1 trống làm chỗ huấn luyện tân binh cho lực lượng SPK.
      Lực lượng Cách Mạng Giải Phóng Kampuchia là con đẻ của CSVN. Chúng lập ra Lực lượng này gồm một số lớn là đồng bào Việt gốc Miên ở vùng biên giới Gò Dầu Hạ, Vĩnh Bình, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Châu Đốc… bị VC lùa bắt dồn về L.1. Chúng bắt đủ mọi thành phần dân chúng, người già, trẻ em, đàn bà…không từ một ai; tất cả những người sống ở những vùng giáp ranh với Miên đều chúng bắt lùa vào các trại thuộc Liên Trại L.1, mà chúng đã dụ dỗ họ là chở đi tị nạn, tránh sự tấn công sát hại của người Miên. Ngay khi vào Trại, chúng liền lập thành đội ngũ, phát quân phục bộ đội và cho tập tành thao diễn cơ bản. Xen lẫn vào đám dân lành này là những cán binh VC được cài vào để nằm chung trong đội ngũ Lực lượng SPK, chuẩn bị cho kế hoạch xâm lược Kampuchia.
      Bọn tù cải tạo như Vũ nhìn thấy cảnh những người dân lành bị lùa vào trại tập trung như một bầy gia súc mà thương hại cho họ vô cùng; có những em bé mũi dãi còn chảy lòng thòng đói ăn mặt mũi vêu vao; có những bà mẹ trẻ, bồng con còn đỏ hỏn trên tay; có những cụ già móm mém tóc bạc da mồi… họ chẳng biết gì về chiến lược lớn của đảng nên khóc lóc, kể lể, phản đối đòi về quê hương xứ sở thì bị bọn cán bộ canh gác đánh đập tàn nhẫn… Bọn Vũ thấy vậy thương hại thường nhín phần ăn thiếu thốn của mình ném sang cho họ. Nhất là lúc này đang là mùa thu hoạch lúa, ngô, khoai, sắn, nên bọn Vũ có “chôm” (21) được nhiều lương thực cất giấu dự trữ phòng khi đói. Bây giờ được dịp cứu đói mấy người dân lành bị VC bắt ở vùng giao tranh với Miên lùa về đây…
      Các tù nhân cựu quân nhân VNCH thuộc Liên trại L.1 bị lùa sang Liên Trại 3, họ dồn các trại lại với nhau: Hai trại T.2 và T.5 dồn chung vào trại T.13 ở sát hàng rào trại T.11; Hai trại T.3 và T.1 dồn vào trại T.12. Ngay buổi chiều hôm ấy, bên hàng rào trại T.11 và T.13 đã trở thành cái chợ trời ồn ào. Tù nhân hai trại túa ra hàng rào tìm bạn bè, thân thuộc. Tiếng kêu réo nhau vang động cả một khu vực. Dịp này Vũ cũng gặp lại một số bạn bè cũ như Dương Hùng Cường, Trần Quan Điêu (22), Đoàn Đức Thuận (23), Trần Văn Quốc (24)…
      Vũ và Cường đứng bên hàng rào vừa trò chuyện, vừa thông báo cho nhau tất cả những diễn biến sau hơn một năm đứt liên lạc. Thôi thì đủ thứ chuyện… từ chuyện tiễn Trần Ngọc Tự đi Bắc, đến chuyện Thanh Trang, Nguyễn Đăng Thạch được thả về… miên man mãi đến tối mịt.
      Vũ ném sang cho Cường mấy cuốn truyện mà anh giấu được trong Trại. Suốt thời gian này, Vũ được anh em đồng tù gọi đùa là “Thư Viện Quốc Gia” vì cất giấu nhiều sách chống cộng được xuất bản từ trước năm 1975, và bí mật chuyền tay cho anh em trong trại đọc; dĩ nhiên chỉ chuyền trong số những người thật thân thiết và tin cậy được. Trong số này có các quyển của Djilas (25), Georghiu, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Khắc Khoan v.v… anh đã chuyền sang cho Cường đọc. Một hôm gặp nhau ở hàng rào, khi trả lại cho Vũ quyển Giờ Thứ 25 (La Vingt-Cinquième Heure) của Georghiu, Cường nói:
      – Mẹ kiếp! Bây giờ đọc lại mấy quyển sách này mới thấm thía cái cảnh tù đầy triền miên, đi hết trại tù này sang trại tù khác của anh chàng Moritz. Mình thì cũng vậy. Có khác gì đâu? Cũng chuyển hết trại này sang trại khác, cũng khổ như chó…
      – Ông có xem cuốn phim đó chưa? Thằng Anthony Quinn đóng vai Moritz sao mà hay thế. Vũ nói:
      – Có. Tao chịu nhất cái scène nó phải diễn xuất nửa cười nửa mếu của anh chàng Moritz khi hai thằng phóng viên phỏng vấn, chụp hình…
      Ngày và tháng cứ trôi đi hờ hững, những người tù sống chen chúc trong các trại T.11 và T.13 Long Giao, hàng ngày vẫn bị đầy ải trong các công tác lao động khổ sai. Trại L.1 cũ nơi Vũ bị giam sau một thời gian giam giữ những người Khmer Krôm (người Việt gốc Miên), bây giờ lại nhốt thêm những người Khmer chính gốc bị bắt ở những làng giáp ranh biên giới đem về và họ cũng được cấp phát quân phục bộ đội, hàng ngày cũng ra sân tập diễn hành và cơ bản thao diễn (VC sau này xử dụng họ để núp dưới chiêu bài là Lực Lượng SPK để tràn sang Kampuchia cướp chính quyền của bọn Pon Pot và Ieng Sari). Số tù Miên mỗi ngày một đông ở xen lẫn với đám bộ đội VC hàng ngày cứ đứng dọc hàng rào chờ nhóm tù cải tạo đi lao động về để ngửa tay xin củ sắn, củ khoai đám tù mót được ngoài ruộng, ngoài rẫy.
      Lại sắp đón một cái Tết nữa trong tù, Tết Mậu Ngọ… và cũng là thời điểm sắp đến hạn 3 năm tù mà trước đây VC thường cho tù nhân học tập về cái mốc để học tập cải tạo tiến bộ. Nhân dịp này Trại tổ chức một đợt học tập nhằm trấn an sự nôn nóng của một số tù nhân nhẹ dạ ngây thơ tin vào những hứa hẹn của VC.
      Đa số tù cải tạo đã quá ê chề với những lời nói của VC nên trong trại họ thường nhắc nhở nhau câu nói của Ông Nguyễn Văn Thiệu, cựu Tổng Thống VNCH: “Đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm” nên anh em thường bỏ ngoài tai những tuyên truyền láo khoét của cán bộ cai tù. Vì vậy khi CS đưa ra chiêu bài cái mốc học tập cải tạo 3 năm, anh em chỉ cười và an tâm với cái mốc ở tù “mút mùa lệ thủy” cho nó chắc. Tiêu đề của đợt học tập kỳ này là: “Củng cố niềm tin vào đảng CS và hạ quyết tâm học tập cải tạo cho đến khi nào tiến bộ thì về”. Cái tiêu chuẩn mơ hồ “đến khi nào tiến bộ thì về” là một cái bánh vẽ nhằm trấn an, lừa mị những người ngây thơ, ngu dốt chứ chẳng gạt được ai. Nhiều người khi trước vì quá tin vào lời hứa hẹn học tập 3 năm nên đã tích cực lao động hùng hục, đoạt nhiều thành tích xuất sắc, được biểu dương trước Đội, trước Trại và trước Liên Trại…; trong sinh hoạt hàng ngày thì tích cực đấu tranh phê bình bới móc người khác. Họ nghĩ rằng như thế là học tập – thật là tội nghiệp cho hai chữ học tập vô cùng – nghĩ rằng như thế thì sẽ chóng được thả về…
      Nhưng nay được học về Củng cố tư tưởng họ sinh ra bất mãn, căm phẫn; vì thế để cho số này bớt uất ức, trong một buổi lên lớp ở Trại T.11, Cường đã đứng giữa hội trường lớn tiếng chất vấn giảng viên về sự thiếu thành thật của bài học về cái mốc cải tạo 3 năm và bài học mới về củng cố tư tưởng quyết tâm học tập lâu dài này mà anh kết án là sai chính sách, lừa mị và gian dối… Tên giảng viên cứng họng trước lý lẽ sắc bén của Cường. Anh em sửng sốt trước lời phát biểu cứng rắn, mạnh mẽ của Cường. Ai cũng nghĩ rằng thế nào anh cũng sẽ bị nhốt vào nhà kỷ luật; nhưng anh chỉ bị gọi lên làm bản tự kiểm điểm rồi được cho vào trại.
      Sau khi các Cải tạo viên làm xong Bản Thu Hoạch và hạ quyết tâm tin tưởng vào đường lối chính sách nhất quán của đảng CSVN là giam giữ lâu dài bọn Ngụy Quân, Ngụy Quyền phản động; để an tâm ngồi tù. Toàn thể 3 trại T.11, T.12 và T.13 đều bị giải tán để biên chế sang hai trại T.14 và T.15 ở gần sát hàng rào tiếp giáp với Quốc lộ. Trại 11 và một nửa trại 12 được đưa vào T.14; còn T.13 và một nửa còn lại của T.12 chuyển vào Trại T.15. Cường về T.14, còn Vũ sang T.15. Khi vào Trại, Vũ gặp Dương Cự, Dương Kiền, Châu Kim Thi (26), Khả Năng (14)… cùng ở chung một trại với anh. Về trại mới, Khả Năng được giao làm trưởng bếp lo nấu nướng cho anh em toàn trại.
      Đêm thứ hai, ngay sau khi chuyển sang Trại T.15, Vũ lợi dụng đêm tối đã leo rào chui sang T.14 tìm Dương Hùng Cường. Phải mất khá nhiều thì giờ anh mới tìm thấy dãy nhà Cường ở, sau khi dò hỏi nhiều người. Dãy nhà giam Cường nằm gần khu nhà bếp. Đây là những barracks bằng ván thông do Quân đội Mỹ cất lên làm doanh trại đồn trú của Sư đoàn Không Kỵ số 1 từ trước năm 1972. Cũng như tất cả các trại giam khác, tù nhân nằm xếp lớp như cá mòi hai bên, mỗi người chỉ có một chiều ngang vừa đủ thân mình. Sở dĩ Vũ liều lĩnh leo rào sang thăm Dương Hùng Cường là vì buổi chiều, trong khi lao động ngoài rẫy anh được Đoàn Đức Thuận báo cho biết Cường đang bị đau nặng, có lẽ do chuyển trại phải khuân vác mệt quá sức anh chăng? Vì vậy Vũ quyết định vượt rào sang thăm bạn và mang cho Cường một ít thuốc tây.
      Cường đang nằm dài trên nền đất, dưới ánh sáng vàng vọt, èo uột của ngọn đèn chai. Trông anh có vẻ mệt mỏi nhiều. Cường mừng rỡ ngồi nhỏm dậy khi nhìn thấy Vũ.
      – Làm sao mày sang đây được?
      – Nghe nói ông bị bệnh, tôi vượt rào sang xem ông thế nào, nhân tiện mang cho ông ít thuốc tây.
      – Tao cảm thấy mệt nhiều. Mấy năm nay cái phổi hành tao muốn chết luôn. Không biết có qua khỏi không?
      – Sao ông bi quan quá vậy? Ráng uống thuốc và giữ gìn sức khỏe. Mình phải sống để viết chứ. Phải nói cho hậu thế biết cái thảm trạng của đất nước ngày nay do ai gây ra chứ!
      – Ừ! Tao cũng nghĩ như vậy nên cố ráng sống cho qua ngày. Mày cũng biết đấy. Nhà tao chẳng dư giả gì, nên thỉnh thoảng bà ấy mới có điều kiện thăm nom tao. Mấy năm nay tao đâu dám cho bà ấy biết tình trạng sức khỏe suy yếu của tao…
      – Thôi! Ông đừng nghĩ ngợi vớ vẩn. Tôi sẽ đi kiếm thêm cho ông một số thuốc nữa. Đừng lo lắng làm gì cho hại sức khỏe. Tôi tin rằng với sự giao thiệp rộng của tôi, bằng hữu sẽ sẵn sàng giúp lại khi cần.
      Cường miên man nhắc nhở những kỷ niệm trong đời sống quân ngũ của anh; những kỷ niệm của đời viết văn, viết báo. Cường cũng thổ lộ cho Vũ biết anh có một người bà con rất gần là cán bộ khá lớn ở Miền Bắc, họ đã bảo lãnh cho anh. Mới đây, anh được tên Chính trị viên Trại cho biết anh có thể sẽ được về phép vài ngày do sự can thiệp của người bà con là cán bộ CS nói trên. Có lẽ chính vì thế mà dù hôm học tập về an tâm cải tạo lâu dài anh nổi máu Dê Húc Càn đứng giữa hội trường bắt bẻ tên giảng viên mà chỉ bị làm bản tự kiểm mà thôi.
      Ngồi nói chuyện với Dương Hùng Cường cho đến khuya, Vũ chia tay leo rào trở về Trại. Ngày hôm sau Vũ tìm cách gói một gói thuốc tây đủ loại, quyên góp được của bạn bè, ném sang bên kia rào cho Cường.
      Một hôm, khi đi lao động về, Vũ được Khả Năng cho biết tin Dương Hùng Cường vừa được đi phép 15 ngày về Sàigòn. Khi đi ngang rào T.15, Cường có nhờ Khả Năng nhắn lại cho Vũ biết…

      5.

      Ngày tháng trôi qua như chiếc bóng; quay qua quay lại đã đến Tết Nguyên Đán nên toàn thể Trại được nghỉ lao động 3 ngày để vui xuân. VC cũng phát cho tù vài điếu thuốc lá Hoa Mai khét lẹt và một ít thuốc lào. Khẩu phần ăn cũng được thêm tí thịt, tí mỡ to bằng đầu ngón tay cái… Trưa mùng một Tết, Vũ đang ngồi bên hông nhà tán dóc với bạn bè thì Dương Hùng Cường leo rào sang thăm. Hai thằng ngồi trò chuyện bên hiên nhà nơi Vũ quây tấm poncho làm chỗ ngồi ăn cơm cho cả bạn. Vì là ngày Xuân, nên anh cũng vẽ một cành mai trên vách và chưng mấy nhánh hoa vạn thọ. Vũ đã viết hai chữ nho: “Sinh Sinh” trên vách với hàm ý mọi người đều được sinh tồn.
      Cường cho Vũ biết anh mới trở lại trại chiều hôm 29 Tết sau khi đã nghỉ 15 ngày phép ở Sàigòn.
      Vũ hỏi:
      – Sao ông không lặn luôn mà còn trở vào làm gì?
      – Lúc đầu tao cũng nghĩ như vậy, nhưng khi về nhà thấy hoàn cảnh gia đình, tao sợ liên lụy đến mọi người nên thôi. Hơn nữa tao cũng gặp người bà con cán bộ VC, họ nói kỳ này tao trở lên trại là về.
      – Vậy 15 ngày nghỉ ở Sàigòn ông làm được những gì? Tình hình chung ra sao?
      – Mày thấy đó. Nó cho tao 15 ngày phép về Sàigòn để xin một Giấy Chứng Nhận của bất cứ cơ sở nào xác nhận là sẽ thâu nhận tao vào làm, cầm nộp cho Trại thì nó sẽ thả. Vì vậy suốt mười mấy ngày tao chỉ lo chạy đôn chạy đáo gõ hết mọi cửa, đến mọi cơ quan, xí nghiệp của nhà nước xin một chân lao công, tùy phái ngõ hầu được trả tự do. Tao nhớ đến thằng Ngô Công Đức đang có trong tay tờ Tin Sáng, nên mò đến nó. Tao đâu có mơ ước cầm bút viết lách trở lại; mà viết cái chó gì ở cái xã hội này khi người cầm bút chỉ là một thứ mõ làng, một thứ máy móc viết theo toa đặt hàng của nhà nước, nói theo lời nói của đảng, nghĩ theo suy nghĩ của đảng. Tao chỉ cần nhận vào làm thợ sắp chữ, lao công lau chùi, quét dọn v.v… để được thả về.
      Mẹ kiếp! Thằng này dã man không chịu được. Tao đợi nó suốt 3 ngày, ngày nào cũng từ sáng đến chiều. Nó cứ cho thư ký ra nói bận, không tiếp. Đến ngày thứ tư, nó để tao chờ suốt buổi sáng mới cho vào gặp. Gặp tao nó cũng giả vờ mừng rỡ, tay bắt mặt mừng, hỏi han đủ thứ chuyện. Rõ kịch! Khi tao cho nó biết tình trạng của tao. Tao không cần phải có công ăn việc làm thật, mà chỉ cần tờ giấy chứng nhận sẽ thâu nhận để nộp cho Trại thì mới được thả về. Thế mà nó từ chối mày ạ. Tức đ. chịu được. Vũ chen vào:
      – Ông đến nhờ vả cái thằng phản phúc ấy làm gì? Sao không thử xoay sở mấy chỗ khác?
      – Tao lang thang suốt mười mấy ngày như vậy, hết chỗ này đến chỗ nọ. Khi đưa giấy cải tạo là chúng lắc đầu nguầy nguậy, xua đuổi như xua đuổi tà. Thế mới biết tụi nó chèn ép mình, đẩy mình vào tuyệt lộ, cùng đường; coi mình như hủi không muốn giây vào. Ngày thứ 14, tao đang đạp xe lang thang trong tuyệt vọng; bất ngờ lại gặp thằng Hoàng Trọng Miên ở bùng binh chợ Bến Thành. Mày còn nhớ thằng Hoàng Trọng Miên không? Đúng là trời giúp mày ạ! Gặp tao nó hỏi han tíu tít, thân tình lắm chứ không lạnh nhạt đẩy đưa như thằng Ngô Công Đức; và khi nghe tao tả oán về cái vụ chạy đi xin 1 tờ Giấy Chứng Nhận sẽ tuyển dụng làm công nhân viên, nó liền kéo tao vào một quán cà phê lề đường, móc trong cặp ra một tờ giấy đã đánh máy sẵn hí hoáy viết.
      Viết xong, cũng lại lôi trong cặp ra một con dấu ịn vào đấy một phát, rồi đưa cho tao. Nó nói:
      – Đây là Giấy Chứng Nhận sẽ tuyển ông làm Nhân Viên Hậu Đài của Đoàn Văn Công Thành Phố. Ông đem lên trại nộp cho họ rồi chờ ngày được phóng thích nhé.
      Tao kinh ngạc nhìn thằng Hoàng Trọng Miên, rồi nhìn tờ giấy… Thì ra nó là Giám Đốc Đoàn Văn Công Thành Phố mày ạ! Thế là tao có tờ giấy trong tay. Ai ngờ có ngày mình lại làm “gã kéo màn”. Mình đã nhố nhăng nhiều quá rồi, bây giờ đi kéo màn cho thiên hạ đóng tuồng cũng vui… – Kể cũng may. Thôi cũng hy vọng ông sớm được về cho chị ấy đỡ lo lắng và ông có phương tiện chữa bệnh. Bây giờ ông nói chuyện tình hình bên ngoài như thế nào? Liệu có sáng sủa không?
      Cường kể tóm tắt cho Vũ nghe tình hình xã hội bên ngoài, từ chuyện bọn đầu sỏ Hà Nội hấp tấp gạt bỏ tụi Giải Phóng Miền Nam và bọn tay sai ăn cơm Quốc Gia thờ ma CS; gây nên một làn sóng bất mãn và chia rẽ trong nội bộ đến tình hình dân chúng chống đối ở Miền Nam… và tình hình an ninh chung trong xã hội của VC sau hơn 2 năm cưỡng chiếm Miền Nam v.v… Cường nói:
      – Tóm lại, tình hình xã hội thì vô cùng khó khăn vì bọn VC kiểm soát gắt gao về lương thực. Đời sống người dân nghèo khổ. Nhiều nơi nổi lên chống đối bị bọn chúng thẳng tay đàn áp và tiêu diệt một cách dã man. Tin đồn về các ông Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Cao Kỳ thì nhiều, giống như mình được nghe trong trại, nhưng vẫn chỉ là nhữn tin đồn vô căn cứ và khó phối kiểm.
      Người ta thi nhau vượt biên nhiều vô số kể; nó đang trở thành một cái mode, một phong trào mà VC không cách nào ngăn cản nổi. Có những thằng vừa ngồi uống cà phê với mình bữa nay, ngày mai đã nghe tin biến rồi. Phe VC trốn đi cũng không phải là ít, chúng từ Hải Phòng chỉ cần đi thuyền buồm là sang đến Hồng Kông dễ dàng. Mày đừng có nản chí; ráng sao về được, bọn mình tìm cách chơi lại tụi nó. Tao đã liên lạc được mấy thằng đệ tử của ông Kỳ, tụi nó còn hăng lắm, còn cất giấu nhiều súng đạn lắm…
      Hai thằng ngồi nói chuyện với nhau suốt mấy tiếng đồng hồ. Đến chiều Cường mới từ giã trở về trại T.14. Trước khi về, Cường nhìn trên vách thấy 2 chữ “Sinh Sinh” nên hỏi: “Mày viết phải không? Nét chữ mày vẫn bay bướm lắm. Để tao đối lại nhé”. Nói xong, Cường lấy cây bút viết hai chữ “Xuất Xuất” (với hàm ý mọi người được ra khỏi trại) lên vách tạo nên một vế cân đối và ý nghiã: mọi người sống sót và được về hết cả. (27)
      Dương Hùng Cường đi rồi mà Vũ còn bâng khuâng ngồi nhìn ra sân nắng. Mắt trời đang ngả dần về hướng Tây, hắt những tia nắng vàng vọt trải dài trên những tàn cây cao. Bất giác thi hứng nổi lên, Vũ cầm bút viết một bài thơ Xuân để kỷ niệm buổi gặp gỡ đầu xuân trong lao tù giữa hai người bạn cố tri:

      Xuân ở Long Giao
      (Tặng bạn tôi Dương Hùng Cường)
      Heo hút đồi cao bụi phủ mờ
      Những thân còm cõi dáng chơ vơ
      Bốn vòng gai sắc như dao nhọn
      Đâm suốt hồn ai nhát hững hờ?
      Đã mấy mùa xuân trong đớn đau
      Cao su vàng lá úa u sầu
      Bọn ta chung kiếãp tù tăm tối
      Ngày tháng chừng trôi qua rất lâu.
      Từ đáy ngục sâu gặp cố tri
      Cầm tay chẳng biết nói năng chi
      Rưng rưng khóe mắt đôi giòng lệ
      Tủi hận vương đầy trên lối đị
      Cùng đón xuân sang giữa ngục tù
      Chẳng trà, chẳng bánh, chẳng hạt dưa
      Uống ly nước lạnh thay men rượu
      Rồi cũng rền vang mẩu chuyện xưa
      (VUG – Long Giao Xuân Mậu Ngọ 1978)

      Buổi tối, Vũ leo rào sang trại T.14 đưa cho Cường bài thơ. Đọc xong, Cường tỏ vẻ xúc động, khóe mắt có những giọt long lanh. Anh nói:
      – Có lẽ vài ngày nữa tao được về. Mày có cần nhắn gì ở nhà không? Chắc không có dịp gặp mày trước khi về quá; vì sợ lúc đó mày đi lao động. Thôi thì cố giữ gìn sức khỏe và vững tinh thần nghe mày.
      Hai thằng ngồi dưới hiên nhà cho đến khuya. Sương xuống lành lạnh. Văng vẳng từ đám đông gần đó, tiếng anh chàng Kháng Sơn đang hát một bản nhạc lời Việt dựa theo nhạc của bài “Proud Mary” của Mỹ:

      “Rồi một ngày nào trong tù cải huấn
      Anh với tôi cùng nhau ra sức phấn đấu.
      An tâm! An tâm! Nhưng còn tin mù mờ…
      Rồi một ngày nào được phân công đi vùng kinh tế mới
      Anh với tôi chúng ta cùng nhau bối rối.
      Không đi! Không đi! Ta cùng nhau ù lì…”

      Tiếng cười dòn dã của các tù nhân khi nghe bài hát của Kháng Sơn đã làm vơi đi nỗi buồn xa nhà của những người tù trong ngày đầu xuân. 6.
      Sau mấy ngày nghỉ Tết Mậu Ngọ, toàn thể tù nhân hai trại T.14 và T.15 lại bắt đầu lao vào công tác lao động khổ sai dưới sự quản thúc hà khắc của lũ cai ngục răng đen mã tấu CS. Khu vực Long Giao trước kia có 10 trại giam gọi là T. thuộc hai Liên Trại L.1 và L.3; ngày nay chỉ còn 2 Trại phải thu hoạch lúa, ngô, khoai, sắn, bầu, bí, rau… của 10 trại, nên ngày nào cũng phải gánh gồng, khiêng, vác từ mờ sáng đến tối mịt. Khu lao động cách xa trại trên 10 cây số, nên phải đi bộ đến hiện trường lao động, xong lại phải khiêng sản phẩm thu hoạch được về trại nhập vào kho của Hậu Cần.
      Sở dĩ chúng giữ lại 2 Trại T.14 và T.15 là để có nhân công thu hoạch lúa, ngô, khoai, sắn nhập vào kho trước khi chuyển họ đi nơi khác. Các anh chàng tù cải tạo cũng đâu có dại dột gì, đoán biết được âm mưu của CS, nên khi thu hoạch thường lén cho dân đi mót lúa, khoai, sắn rất nhiều sản phẩm vì có hai cái lợi: một là đỡ phải khiêng về trại nặng nề, hai là cho dân chúng để họ có lương thực cho đỡ đói, bù lại người dân cũng cho lại các anh thuốc hút hoặc đường, kẹo, bánh v.v…
      Có những ngày bọn cán bộ quản giáo phải tập họp tù lại để chửi bới vì những đống lúa ngô khoai mót của người dân còn cao hơn, nhiều hơn đống của cải tạo thu hoạch. Từ trên cao nhìn xuống thung lũng vàng rực lúa chín, từng đoàn tù nhân như cả một đàn kiến lớn xúm vào gặm nhấm những cánh đồng lúa vàng mênh mông, trĩu nặng bông và trên con đường nhựa dẫn về Trại Cải tạo Long Giao, từng đoàn tù nhân nhếch nhác mồ hôi, kĩu kẹt quang gánh, gánh lúa về Trại…”gánh lúa về, gánh về, gánh về…”
      Ngày xưa trong những ngày mùa thì niềm vui “gánh lúa về” đã được nhạc sĩ Phạm Duy diễn tả trong bản nhạc của anh khiến người nghe cũng cảm thấy vui lây cái vui được mùa; còn đám cải tạo thì chẳng vui chút nào vì họ biết chắc, có gánh lúa về thì họ cũng chỉ được những lát sắn khô chua loét, sượng sùng… Cái độc ác và dã man của VC là ở chỗ đó, bắt người tù lao động cực nhọc, làm ra rất nhiều lúa gạo nhưng không cho họ được ăn gạo mà chỉ được ăn ngô, khoai, sắn… Không chỉ những người cải tạo mới bị chúng bắt ăn độn kiểu này mà cả nước đều bị đẩy xuống đáy vực thẳm giống nhau, đều bị chúng cho hóa thú giống nhau. Có như vậy đảng mới đạt được chỉ tiêu bần cùng hóa nhân dân để khống chế cái bao tử của người dân, bắt họ phải thuần phục theo chúng muốn.
      Cường được phóng thích sau tết khoảng 5 ngày. Hôm đó tình cờ Vũ cũng lên cơn “chây lười lao động”, nên khai bệnh nghỉ ở nhà phụ Tổ tăng gia tưới rau. Khi anh đang múc nước ở giếng, bỗng nhiên nghe tiếng ồn ào bất thường bên trại T.14; anh ngừng tay đứng xem chuyện gì xảy ra thì thấy tên Chính trị viên đang dẫn Cường đi ra cổng Trại T.14, theo sau là một đám tù bàn tán xôn xao… theo đưa tiễn. Cường mặc một bộ treillis còn tương đối lành lặn, tay cầm một túi xách nhỏ, miệng cười tươi rạng rỡ. Cường dừng lại trước cổng, giơ tay vẫy từ biệt bạn bè rồi cúi đầu lủi thủi đi về phía cổng lớn của Trung đoàn để ra Quốc lộ.
      Vũ chạy ra sát hàng rào, đứng đón Dương Hùng Cường, vì muốn ra cổng Trung đoàn phải đi dọc hàng rào T.15. Hàng rào dày hơn 3 mét, không thể bắt tay nhau được, nên cả hai chỉ đưa tay vẫy chào nhau. May mà hàng rào mới được dẫy cỏ trống trơn nên hai người mới nhìn thấy nhau.
      – Mày ở lại ráng giữ sức khỏe và giữ mồm nghe không?
      Cường nhắc nhở Vũ vì anh biết tính của Vũ thẳng thắn không sợ bất cứ một thế lực, khống chế nào… Uy vũ bất năng khuất mà! Cường cũng nghe anh em nói cho biết Vũ hay phát ngôn châm chích mỗi khi học tập phải phát biểu. May mà lũ cán bộ VC ngu dốt (Vũ thường hay gọi chúng là giặc dốt và đã có lần phát biểu kêu gọi mọi người phải đứng lên diệt giặc dốt) không hiểu được cách nói của một thằng cầm bút như anh.
      – Ừ! Ông về cũng cẩn thận giữ mình. Thì ông có thua gì tôi? Cho gửi lời thăm chị và các cháu. Vũ nói. Cường dừng lại, nhìn Vũ thật lâu mắt ướt sũng, rồi quay lưng lầm lũi bước đị Dáng người gầy gò, lỏng khỏng bước thất thểu về phía cổng Trung đoàn. Vũ thấy mắt mình cay cay. Anh đứng lặng bên hàng rào nhìn Cường đi mỗi lúc một xa, nhòe nhoẹt trong màn sương mỏng của buổi sáng. Anh khẽ thở dài! Anh không ngờ đó là lần cuối cùng trong đời anh được nhìn thấy Dương Hùng Cường. (28)

      Ghi chú:

      (1) Đi chợ: người tù chia phiên nhau mỗi ngày một người trong toán đi nhặt nhạnh rau cỏ, khoai sắn cho anh em trong toán ăm thêm nên gọi là đi chợ.
      (2) Akamicine: ám chỉ đạn AK.47
      (3) máu nhân dân: để chỉ rượu đế
      (4) Trần Ngọc Tự: Trung úy CTCT Không Quân. Cùng bị bắt và bị xử chung trong vụ Dương Hùng Cường, Hoàng Hải Thủy, Doãn Quốc Sĩ móc nối với nhân viên Bưu Điện gửi tài liệu ra hải ngoại.
      (5) Nguyễn Đăng Thạch: Trung úy Biệt phái, Giáo sư Đại học. Thạch là con trai cụ Nguyễn Đăng Thục, Khoa trưởng Đại học Văn Khoa Sàigòn. Hiện Thạch định cư ở Canadạ
      (6) Nguyễn Thanh Trang: Trung úy, Giáo sư Trường Võ Bị Đà Lạt, Nhạc sĩ.
      (7) Nguyễn Nguyên Phương: Trung úy, Giáo sư Triết.
      (8) Phí Ích Bành: Trung úy, Chủ sự Phòng Văn Nghê Đài Phát Thanh Sàigòn. Bành là em ruột của nhà văn Dương Nghiễm Mậu (Phí Ích Nghiễm)
      (9) Nguyễn Đức Quang: Trung úy, Nhạc sĩ. Hiện Quang cư ngụ ở Nam California
      (10) Dương Kiền: Trung úy, Ủy Viên Chính Phủ Tòa Án Quân Sự Vùng 2. Hiện cư ngụ ở Na Uy
      (11) Dương Cự: Trung úy, Ủy Viên Chính Phủ Tòa Án Quân Sự Vùng 4. Hiện còn ở Sàigòn
      (12) Đỗ Kim Bảng: Trung úy, Giáo sư, Nhạc sĩ
      (13) Đào Văn Khánh: Trung Úy, Ký giả báo Tiền Tuyến của Quân Đội. Khánh là phu quân nhà văn nữ Lệ Hằng. Hiện nay Khánh đang cư ngụ ở San Jose, California và viết văn ký dưới bút hiệu Đào Khanh
      (14) Kịch sĩ Khả Năng: Chuẩn úy, tên thật là Nguyễn Văn Tây, phục vụ tại Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Sau khi cải tạo về có làm việc cho Đoàn Văn Công Thành Phố một thời gian. Đã chết vì bệnh.
      (15) Nghiêm Phú Phát: Trung úy Công Binh. Đoàn trưởng Đoàn Văn Nghệ Sinh Viên Học Sinh Nguồn Sống cùng với Hà Quốc Bảo. Phát là em ruột của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phị Hiện Phát cư ngụ ở California
      (16) Võ Thế Hào: Trung úy, Giáo sư Toán
      (17) Viên Linh là Tổng Thư ký Toà soạn nhật báo Hoà Bình thay thế cho Mặc Giao Phạm Hữu Giáo đắc cử Dân biểu Hạ Nghị viện. Nhưng làm được một thời gian ngắn thì nghỉ vì xích mích với Trần Hữu Quỳnh, Quản đốc của tờ báo. Hiện nay Viên Linh đang trông coi tờ Khởi Hành ở Nam California.
      (18) Du Tử Lê tên thật là Lê Cự Phách. Nguyên Vũ tên thật là Vũ Ngự Chiêu
      (19) Liên Trại cấp bộ tương đương như Trung đoàn. Gồm nhiều Trại; mỗi Trại thường mang bí số T hoặc K để giam giữ tù cải tạo.
      (20) VC thường gọi tù cải tạo là những “kẻ lầm đường lạc lối được đảng giáo dục

      • Bài văn thiệt là xúc động,đọc đẻ thấy tình càm giữa con người và con người,dù trong hoàn cảnh nào cũng được biểu lộ bởi những người tử tế,những người như vậy càng ngày càng hiếm,đây thất sự là một điều đáng buồn
        Cảm ơn bác Van Toan nhiều lắm xin chúc Bác cùng Quý Quyến năm mới an lành

  8. @@ Bác BacThan của tôi ơi !

    Không biết bác với ông Ng ngọc Ngạn có bà con không mà sao trả lời huề vốn giống nhau quá xá. Ông Cổ Long đâu có biết cách post phim Django cho mấy bác tôi cùng xem đâu,chỉ có ông BacThan biết cách mà thôi ,phải không bác ?? Vậy mà ổng làm tình vờ thiệt tội nghiệp và tủi thân cho đám già dốt chúng tôi quá đi thôi.

    -Ps–Bác mà không chỉ cách là tôi la lên trong cái quan tài đó có cái gì cho mấy bác tui biết à nghe !!! Bác nào biết cách chỉ tui rồi mình cùng xem mí nhau !!!! Thân, Bk54.

    • Xin lỗi em chưa hiểu ý bác lắm. Nếu bác muốn post đoạn phim gì gì đó thì cứ vô tư copy link rồi paste vô đây thôi. Như thế này này …

  9. Bác Bacthan ơi , bác post như vậy chỉ là cái trailer của U tube thôi , còn của tui là nguyên phin từ đầu đến FIN luôn, 700 MB dài tiếng rưỡi chứ bộ,bắn í xèo nên tui mới biết trong quan tài có cái gì chứ lị. Tui bỏ trong một cái folder tên Django ,mà không biết làm sao bỏ lên mạng vì quá dài , Utube là hổng được rồi. Bác hổng giúp thì kể như tui chịu thua luôn. Thân mến.

    Ps—Đặc biệt phin này nói tiếng Ý à nghen nên tui phải download subtitles mới coi được .Bác ngâm kíu xem có cách nào hay không ?

    • Bác em,

      Cách thứ nhất là bác chẻ phim ra thành nhiều tệp rồi chuyển lên YouTube hay một trang web nào khác tương tự. Việc này có thể dẫn tới những phiền toái về copyrights. Cách thứ hai là gửi qua megaupload hay rapidshare rồi chia sẻ link cho những người nào muốn tải về xem.

      Em chỉ sợ là những người nào thực sự muốn xem như em thì đã xem rồi. Còn những người chỉ tò mò muốn xem thì họ chưa chắc đã bỏ công tải về xem.

      Tùy bác thôi.

  10. Em gửi các bác mấy bài nhạc xuân nghe chơi cho vui. Bài đầu tiên là bài Tâm Sự Ngày Xuân do ca sĩ Thanh Thúy trình bày. Em thấy bài này câu “Đồi hương thay phấn giữa đêm chờ tin báo xuân” nghe rất mượt mà.

  11. Xuân Về Nhớ Tết Năm Nay của nhạc sĩ Hoài Linh, Thái Châu và Diễm Chi song ca. Không hiểu sao em cứ nghĩ đây là giọng Sơn Ca chứ không phải của Diễm Chi. Bác nào có thông tin minh bạch hơn xin vui lòng chia sẻ cho em với.

  12. Đan Áo Mùa Xuân của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, ca sĩ Lệ Thu trình bày.

  13. Phút Giao Mùa, Nhật Trường hát …

  14. Sao Tây nó đẹp thế hở các bác? Hay là tại vì em không hiểu tiếng Tây cho nên bị choáng?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: