• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Gio-o Phỏng Vấn Nhà Văn Hoàng Hải Thủy

Hoàng Hải Thủy, Kỳ Hoa năm 2005

Lê Thị Huệ: Cảm giác của tôi ông là một người rất khó gần. Ðầy cá tính, đầy lôi cuốn, và khó gần. Sau khi bắt tay vào cuộc phỏng vấn, cảm giác ấy của tôi vẫn vương đọng …

Lúc đầu tôi không nghĩ ông sẽ nhận lời khi tôi viết Meo mời ông cho cuộc phỏng vấn. Và rồi thật bất ngờ, ông nhận lời. Hoàng Hải Thủy là một nhà văn đắt giá. Ông đã từng và đang là nhà văn được các báo Việt Nam lấy làm một may mắn khi được ông nhận lời gửi bài. Lý do là ông có nhiều độc giả. Các báo phải trả nhuận bút thì mới có bài của ông.

gio-o.com lấy làm hân hạnh được Nhà Văn Hoàng Hải Thủy gửi bài và đồng ý cho phỏng vấn không thù lao. Có lẽ con người mà người Việt thường gọi là “nghệ sĩ” của ông lộ ra ở điểm này. Có lẽ vì thế mà xuyên suốt bài phỏng vấn, sự ngập ngừng của ông chỉ làm cho tôi và có lẽ nhiều độc giả khác càng tò mò.  Và càng thấy những điều ông không trả lời còn ẩn đậy phần tài hoa và khô khốc ở con người Hoàng Hải Thủy, mà cuộc phỏng vấn vẫn chưa bật hé được.

Tôi rất yêu câu trả lời này của ông: “Tôi phóng tác để các vị phụ nữ Việt đọc”.

Bài phỏng vấn có nhiều khoảng trống mời gọi sự tưởng tượng của các độc giả của Nhà Văn Hoàng Hải Thủy … (lth)

o O o

Lê Thị Huệ: Chào Nhà Văn Hoàng Hải Thuỷ. Cám ơn nhà văn đã dành cho Gió O cuộc  phỏng vấn đặc biệt này. Câu đầu tiên, thưa ông, quyển sách, đoạn văn, bài học thuộc lòng, bài thơ đầu tiên nào đã gây ấn tượng mạnh mẽ ở tuổi thơ của ông ?

Hoàng Hải Thủy: Xin lỗi. Tôi không nhớ.

LTH:  Những ngày thơ ấu của ông.  Biến cố hoặc tâm tư đặc biệt đáng nhớ nào khiến ông muốn cầm bút để trở thành nhà văn sau này

Hoàng Hải Thủy, Kỳ Hoa năm 1996

HHT: Thưa.. Không có gì đặc biệt cả. Không biết tại sao tôi có ý muốn viết tiểu thuyết từ năm tôi 10 tuổi, sau khi tôi đoc Trường Ðời và Giông Tố. Tôi chỉ muốn “viết tiểu thuyết.” Tôi không nhận tôi là “ Nhà văn,”, tôi không thoải mái khi được gọi là “ Nhà văn.” Tôi viết truyện để giải trí cho những người đọc truyện tôi viết.

LTH:  Ông nhớ gì về Miền Bắc ấu thời. Nhớ gì về Hà Nội.  Nhớ gì về Hà Ðông ?

HHT: Câu hỏi ngắn nhưng câu trả lời thì không thể ngắn. Tôi đã viết nhiều về thị xã Hà Ðông thời thơ ấu của tôi. Tôi không muốn viết nhiều về Hà Nội. Tôi chỉ sống ở Hà Nội có 1 năm nên tôi không có nhiều kỷ niệm về Hà Nội.

LTH:  Ông giỏi ngoại ngữ từ nhỏ?

Ông biết bao nhiêu thứ tiếng ?

HHT: Tôi mà “giỏi ngoại ngữ” thì trên cõi đời này còn có ai “ dzốt ngoại ngữ? ” Tôi tiếng Tây Bồi, tiếng Anh Bồi, tiếng Mỹ cũng bồi.

LTH:  Thuở ban đầu ông có ý định sẽ trở thành nhà văn ? Nhà báo ? Dịch giả ? hay Nhà thơ ?

HHT: Như đã trả lời ở trên: 10 tuổi tôi thích, tôi mong mai sau tôi sẽ “viết truyện.” Viết như  ông Lê Văn Trương viết Trường Ðời, như ông Vũ Trọng Phụng viết Giông Tố.

LTH:  Công việc đầu tiên lúc ông vừa vào Nam là làm gì ?

HHT: Năm 1950 tôi từ Bắc Ninh, Bắc Giang trở về Hà Nội. Tôi đi học lại. Trường Văn Lang của ông Hiệu Trởng Ngô Duy Cầu. Năm 1951 ông thân tôi là công chức, đổi vào làm việc ở Sài Gòn, mẹ tôi, anh em tôi vào theo. Năm 1951 tôi học trường Tân Thanh ở đường Lacoste. Năm 1952 tôi được vào làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, cuối năm 1952 tôi được Giải Nhất Cuộc Thi Truyện Ngắn năm 1952 của Nhật báo Tiếng Dội. Truyên ngắn của tôi tên là “Người Con Gái Áo Xanh.” Tôi mất truyện ngắn đầu tay này ngay năm 1952. Tôi đi lính 2 năm. Năm 1954 tôi làm phóng viên-nhân viên Nhật báo Sàigònmới. 1956, 1957 tôi làm nhân viên USOM – United States Operation Mission – tiền thân của USAID. Cuối năm 1957 tôi trở về toà báo Sàigònmới. Tôi làm nhân viên tòa soạn Saigonmới từ 1957 đến ngay Sàigonmới bị đóng cửa năm 1964. Tôiviết tiểu thuyết phóng tác dzài dzài từ 1956 đến 1975, tôi viết nhiều nhất ở Nhật báo Ngôn Luận.

LTH:  Ông đã cộng tác với nhiều báo ở Miền Nam thời 1954-1975 ? Những tờ báo nào cho ông nhiều kỷ niệm thú vị nhất ?

HHT: Tôi chỉ có những ký ức làm tôi xúc động: Hai báo Ngôn Luận và Sàigònmới là hai tờ báo chính trong đời tôi. Người làm công mà được chủ thấy, biết có tài, được chủ trọng đãi.. là nhất. Tôi được hưởng vinh dự và niềm kiêu hãnh ấy ở toà soạn Ngôn Luận và Sàigònmới.

LTH:  Ông từng cộng tác với tờ báo do bà Bút Trà làm chủ. Ông có thể nói cho biết về vai trò của bà Bút Trà. Bà ta có thực sự làm chủ bút, hay cũng như nhiều tờ báo khác ngày xưa và sau này là tuy để tên một bà làm chủ bút, chủ báo, nhưng đằng sau thì luôn luôn do đàn ông làm báo và quyết định tất.

HHT: Tôi viết bài “Phơi-ơ-tông”  và bài “Sài Gòn Mới” trong loạt bài Viết ở Rừng Phong – hoanghaithuy.com – Với tôi bà Bút Trà là Linh hồn, trái tim và xương sống của nhật báo Sàigònmới. Không có bà Bút Trà, không có tờ báo SàiGònmới. Trong đời tôi, tôi chỉ nhậân “Bà Bút Trà là Bà Chủ tôi.” Tôi không thể trả lời đôi câu về bà Bút Trà. Xin đọc bài tôi viết về bà Bút Trà trong hoanghaithuy.com. Tôi không “cộng tác” với bà Bút Trà, tôi làm công cho bà Bút Trà.

LTH:  Hình như ông đã là chủ bút tờ Thế Giới Tự Do do người Mỹ in ấn. Tờ báo do Mỹ viện trợ in rất đẹp. Ông có thể nói về tờ báo ấy đôi chút chăng ?

HHT: Không có chuyện “chủ bút, chủ mực” gì long trọng cả. Năm 1972, người Mỹ ký Hiệp Ðịnh Paris với Bắc Cộng. Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam, Họ ngừng cuộc tuyên truyền chống Cộng ở VNCH. Họ dẹp Tạp Chí Thế Giới Tự Do. Họ thay TGTD từng chống Cộng bằng Tạp Chí Triển Vọng. Cơ quan USIA – Unites States Information Agency – ra nguyệt san USA Today, trong đăng toàn những bài trích trong cáo báo Mỹ về đời sống của người Mỹ, khoa học, kỹ thuật Mỹ. Tất cả các Sở USIS ở khắp thế giới dịch những bài trong USA Today ra làm thành tờ báo tháng của nước mình. Tờ Triển Vọng – Outlook – của Sở Thông Tin Hoa Kỳ ở Sài Gòn cũng làm việc ấy. Tôi làm nhân viên dịch những bài báo tiếng Mỹ. Triển Vong dịch xong, làm thành bản gọi là “ Bluebook”, gửi sang in ở một nhà in của Mỹ ở Manila.

LTH:  Tại sao Công Tử Hà Ðông ? Tại sao ông đã không lấy một bút hiệu như Công Tử Sè Gòng chẳng hạn, vì ông đã sống những năm thanh niên ở Sài Gòn và nghe nói ông cũng thuộc loại dân ăn chơi có hạng ở Sài Gòn thời đó. Tại sao Công Tử ? Tại sao Hà Ðông ?

HHT: Năm 1970 tôi giữ một trang trong Tuần Báo Con Ong, tôi cần một, hai bút hiệu Tếu để viết những bài  kiểu viết láo mà chơi. Cái tên HHT dành để viết tiểu thuyết. Tôi lấy 2 tên Công Tử Hà Ðông và Gã Thâm để ký 2 bài tôi viết trên Con Ong. Tôi ra đời, lớn lên ở thị xã Hà Ðông. Hà Ðông cách Hồ Gươm Hà Nội 11 cây số, có xe điện qua lại ngày 4, 5 lượt. Vì quá gần Hà Nội nên Hà Ðông không có gì đặc biệt cả. Ăn cao lâu, đi xem xi-nê, đi xem bói, mua thực phẩm Tết, quần áo, giày mũ, người Hà Ðông đều ra Hà Nội. Thanh niên Hà Ð6ng ăn diện không khác thanh niên Hà Nội nhưng vẫn là thanh niên Hà Ðông. Không ai dám tự nhận trên báo mình là Công Tử Hà Nội, nhưng nhận mình là Công Tử Hà Ðông thì được. Vì Công Tử Hà Ðông là một thứ công tử tỉnh lẻ, không giống ai, không được ai trọng. Anh Chu Tử hiểu nghĩa cái tên Công Tử Hà Ðông cuả tôi. Anh bảo tôi:

“Anh lấy bút hiệu Công Tử Hà Ðông hay đấy.’

Lúc ấy có anh  bạn tôi, nói:

“Công Tử Hà Nội” mới hay chứ.”

Anh Chu Tử nói:

“Công Tử Hà Nội thì còn nói gì nữa.”

LTH:  Một Công Tử  Sài Sòn trong thời 1955-1975, khác với Công Tử Hà Thành trước đó,  khác với  Công Tử  Bạc Liêu thời kỳ 1930-1950  như thế nào ?

HHT: Tôi không biết. Câu trả lời, nếu tôi trả lời được, cũng sẽ quá dài.

LTH:  Tiêu chuẩn nào để ông chọn những tác phẩm để phóng tác lúc đó ?

HHT: Tôi chỉ viết để người đọc giải trí. Loại tiểu thuyết phơi-ơ-tông – feuilleton – đăng trên nhật báo mỗi ngày cần có những chuyện làm người đọc phải đọc tiếp. Tôi đọc tiểu thuyết Âu Mỹ trước hết vì tôi thích đọc, tôi cần đọc. Ðọc truyện nào tôi thấy hay, tôi bị lôi cuốn, tôi nghĩ đến chuyện nên phóng tác truyện ấy cho độc giả của mình đọc.

LTH:  Những tác phẩm Jame Bond có phải là ông chọn vì nhu cầu độc giả?

HHT: Thời Ðệ Nhất Cộng Hoà, nhân viên Bộ Thông Tin  thường nói với các ông chủ báo câu: “Văn phẩm phải lành mạnh, xây dựng, có hướng đi lên..” Và gọi những truyện bị coi là khiêu dâm, vi phạm thuần phong, mỹ tục là : “Viết để phục vụ – viết theo – những thị hiếu thấp hèn của độc giả.”  Tôi phóng tác tiểu thuyết của Ian Fleming là vì tôi thích những truyện ấy, khi đọc những truyện ấy tôi thấy hay. Người ta có nhu cầu đọc truyện giải trí, tôi biết nhu cầu của đồng bào tôi, tôi biết người đọc truyện tôi muốn đọc loại truyện gì. Khả năng biết đó là do Trời cho.

LTH:  Tại sao ông lại chọn cách “phóng tác” thay vì dịch đúng nguyên bản ?

HHT: Tôi phóng tác để các vị phụ nữ Việt đọc. Các cô, các bà người Việt khó nhớ được một nhân vật lúc thì tên là Elizabeth, lúc thì tên là Liz, lúc là cô Taylor. Vì khó nhớ tên nhân vật, họ không thích đọc truyện có những nhân vật ấy. . Ðộc giả phụ nữ Việt những năm 1960 khó hiểu những truyện có những sự kiện quan trọng như thang máy,  phone, máy ghi âm, phi cơ.

LTH:  Tác phẩm phóng tác nổi tiếng nhất của ông là Kiều Giang. Tại sao từ Jane Eyre lại thành Kiều Giang ?  Nguyên tắc “phóng” của ông từ đâu ? Từ âm thanh tương tự ? Từ điển tích ? Từ ngẫu hứng ? Từ đâu ?

HHT: Khi đọc Jane Eyre, tôi nghĩ: “Mình sẽ phóng tác truyện này, đặt tên là Kiều Giang.” Tên con gái tôi là Kiều Giang, cháu ra đời cùng năm tôi phóng tác Jane Eyre trên nhật báo Ngôn Luận. 

LTH:  Những tác phẩm phóng tác của ông thời Miền Nam 1954-1975 ăn khách chỉ sau truyện Chưởng của Kim Dung. Ông ước lượng tác phẩm Kiều Giang đã được in ra bao nhiêu ấn bản?

HHT: Tôi không biết Kiều Giang được in bao nhiêu ấn bản. Từ năm 1960 Kiều Giang được in thành sách lần thứ nhất, đến năm 1975 có 2 lần tái bản ở Sài Gòn, sau 1975 có 1 lần in lại ở Hoa Kỳ.

LTH:  Kiều Giang của Sài Gòn ngày đó như thế nào ? Những điều mà độc giả chúng tôi chưa được biết ?

HHT: Có ba loại người thích đọc Kiều Giang ở ba số tuổi khác nhau: Tính vào những năm 1960-1965: Mẹ tôi 65 tuổi, vợ tôi 40 tuổi, con gái tôi 12  tuổi. Cả ba người đều đọc và thấy Kiều Giang hay.  Nếu quốc gia ta còn, Kiều Giang có thể sẽ có những lớp người Việt kế tiếp nhau đọc.

LTH:  Lúc đó một ngày ông dịch hoặc phóng tác bao nhiêu trang ?

HHT: Không nhất định bao nhiêu trang. Có những tháng tôi viết ba, bốn truyện cho ba, bốn nhật báo, có những tháng tôi chỉ viết một truyện cho một báo.

LTH:  Thù lao ông nhận được từ việc phóng tác chắc là cao ngất, so với các việc khác?

HHT: Không có gì đáng gọi là “cao ngất.” 20 năm từ 1954 đến 1975 tôi chỉ làm thư ký Sở Mỹ 4 năm – 2 lần – tôi làm nhân viên tòa soạn nhật báo Sàigònmới 8 năm, tôi viết tiểu thuyết trong 20 năm.

LTH:  Ðứng về mặt văn chương có thể nói khả năng văn chương của ông thần sầu.  Ông đẻ ra chữ “Kiều Giang” thế là người đọc chạy theo quyển sách của ông ngay, bị dụ bởi cái chữ “Kiều Giang”. Hoặc như “Ðịnh Mệnh Ðã An Bai”`, “Nổ Như Tạc Ðan”, “Viết Ở Rừng Phong”… Nhiều người cũng ở rừng phong  thuộc tiểu bang Virginia và cũng sáng tác ở đó, nhưng chỉ có Hoàng Hải Thuỷ đặt cho cái tên “Viết Ở Rừng Phong” nghe lên là thấy cả một trời sáng tác, mùa thu, đẹp,  thơ mông, và có tác phẩm để đọc, nên mới chạy theo cái tên Hoàng Hải Thuỷ để tìm đọc bài “Viết Ở Rừng Phong”.  Chứ  ví dụ nghe một cụm chữ như “Rừng Phong Virginia” thì lại thấy chả có gì hào hứng để chạy theo tìm đọc . Ông biết mình có khả năng văn chương đặc biệt này từ bao giờ ?

HHT: Cám ơn lời khen. Tự nhiên tôi nghĩ ra những cái tên văn nghệ ấy.

LTH:  Ông phóng tác nhiều như thế, ông có thể cho vài nhận xét thường gặp và không thể nào quên về phương diện ngữ học của Tiếng Anh và tiếng Việt.

HHT: Tôi chẳng bao giờ để ý đến chuyện này. Tuy vậy, tôi cũng có thể trả lời câu hỏi, nhưng tôi phải suy nghĩ, nhớ lại, đưa tỷ dụ, bài viết ít nhất cũng 5 trang. Viết trong 8 tiếng chưa xong. Tôi xin lỗi đã không trả lời được nhiều câu hỏi.

LTH:  Ngày trước khi ông chưa sang Hoa Kỳ, ông phóng tác như thế. Một gia tài phóng tác khá phong phú. Bây giờ đang sinh sống ở Mỹ, nếu cho ông làm lại, ông làm như thế nào ?

HHT: Làm lại với tuổi 30? Chuyện giả tưởng, Làm lại với số tuổi 78 của tôi hiện nay? Tôi chỉ viết những bài như  những bài Viết ở Rừng Phong. Tôi còn làm gì, viết gì hơn được nữa.

LTH:  Nguyễn Du cũng phóng tác Thanh Tâm Tài Nhân thành Ðoạn Trường Tân Thanh và và rồi tác phẩm phóng tác Ðoạn Trường Tân Thanh ấy trở thành tác phẩm số 1 của văn chương Việt Nam từ trước đến nay. Tác phẩm phóng tác nào của ông, ông nghĩ là xứng đáng như Kiều của Nguyễn Du, khi mà khả năng ngôn ngữ của ông cũng siêu đẳng có hạng.

HHT: Nếu tôi nói “Không có truyện nào tôi viết vừa ý tôi cả.”  Tôi thấy tôi có vẻ kiêu căng. Nay đọc lại những truyện tôi viết 50 năm xưa, như trong các phóng sự tếu, có vài đoạn làm tôi ngạc nhiên: “Tại sao ngày ấy mình viết được những lời, những chuyện như thế này?”

LTH:  Tôi hơi lấy làm tiếc cho các bác Nguyễn Du hoặc bác Hoàng Hải Thuỷ tại sao không viết một tác phẩm cho nó “nguyên chất.’. Các bác tài hoa thế, sao lại cứ phóng tác mà không viết nguyên quyển cho mình nhỉ ?

HHT: Tôi làm phóng tác cho các báo túi bụi còn chưa xong. Thì giờ, tâm trí đâu mà làm một sáng tác để đời. Chuyện này cũng là một đề tài cần viết dài. Tôi sẽ viết vài bài riêng trả lời vài câu hỏi tôi không trả lời được trong bài phỏng vấn này. Khi có bài, tôi sẽ gửi gio-o trước. 

LTH:  Trong việc thông dịch cho người Mỹ, có lúc nào bản dịch của ông bị người Mỹ sửa không?

HHT: Tôi toàn làm việc dịch bài tiếng Anh sang tiếng Việt. Các Sở Mỹ có ban chuyên viên dịch bài tiếng Việt sang tiếng Anh. Tôi ở trong ban làm Tạp Chí Triển Vọng tiếng Việt. Có tài liệu tiếng Việt nào cần dịch sang tiếng Anh, tôi đưa sang Ban Dịch.

LTH:  Thời điểm trước ngày 30 tháng 4 năm 1975  ông có cơ hội di tản sang Hoa Kỳ?   Tại sao ông không di tản ?

HHT: Tôi chạy không kịp. Chiều ngày 29 Tháng Tư 1975, vợ con tôi có tên trong danh sách nhân viên USIS lên Tân Sơn Nhứt chờ phi cơ đón đi, tôi và một số nhân viên Việt phải ở lại làm việc sở. Lúc 6 giờ tối ngày 28 phi trường Tân Sơn Nhứt bị pháo kích. Cuộc di tản bằng phi cơ ngừng. Những phi cơ Mỹ từ Guam bay sang nửa chừng bay về. Ðêm 28 Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu ra lệnh trên đài phát thanh: “Yêu cầu tất cả nhân viên Mỹ ra khỏi VN trong 24 giờ.” Nghe tin ấy tôi nói với vợ tôi: “Mình đi không được rồi , em ơi. Bọn Mỹ còn ở đây, may ra nó còn đưa mình đi. Nay nó bị đuổi, mình hết đường.”

LTH:  Thời gian ở tù của ông. Ông phải làm những việc gì  để giữ được ông vẫn là ông?

HHT: Tôi chẳng làm gì cả. Như anh em tù, tôi chịu khổ như anh em.

LTH:  Họ có bắt ông kê khai những công việc của ông đã làm với chế độ Miền Nam trước 1975 nhiều không?

HHT: Tôi có làm gì trong chính quyền VNCH đâu. Họ có bắt tôi khai công việc tôi làm ở USIS. Chẳng có gì tôi phải dấu hay khó khai.

LTH:  Tại sao Việt Cọng gọi ông là “Biệt Kích Văn Hoá Nguy Hiểm” vậy?

HHT: Chắc tại vì anh em chúng tôi viết và gửi ra nước ngoài một số bài diễn tả cuộc sống khổ cực của người dân Quốc Gia VNCH trong gông cùm của bọn Bắc Việt Cộng.

LTH:  Lúc ở tù ông bị đối xử như thế nào ?

HHT: Như 20 triệu công dân Quốc Gia VNCH bị bọn Bắc Cộng giam tù. Không có gì khác.

LTH:  Ông làm thơ hay viết ở trong tù như thế nào ? Ông dùng cách nào để giữ lại ?

HHT: Như mọi người tù làm Thơ trong Tù. Ban đêm làm Thơ, ghi nhớ trong óc. Ghi nhớ thật kỹ. Làm 4 hay 6 câu, ngừng lại ghi nhớ mấy câu đó. Nhớ kỹ rồi làm nhẩm tiếp. Ðêm nào cũng ôn lại. Tôi làm những bài Tại Ngục Vịnh Kiều trong năm 1988 tôi ở trong Nhà Tù Chí Hoà. Có những bài dài 100 câu lục bát mà tôi nhớ hết. Năm 1989 tôi lên Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, Xuân Lộc, có giấy bút tôi ghi những bài thơ của tôi xuống giấy – tất nhiên cũng phải ghi lén, mắt trước, mắt sau – khi vợ tôi lên trại thăm tôi, tôi đưa tập thơ cho vợ tôi mang về. Thế là tôi quên những lời Thơ ấy. Tôi gửi được những bài Thơ trong Tù của tôi sang Mỹ. Năm 1995, ở Kỳ Hoa,  tôi viết lời bình loạn những bài thơ ấy, làm thành tập Tại Ngục Vịnh Kiều, Nhà Làng Văn Canada xuất bản.

LTH:  Lúc ở trong tù ông tuyệt vọng  những điều gi? Ông tuyệt vọng điều gì nhất ?

HHT: Chắc tôi như anh em cùng tù. Chẳng có hy vọng gì nên  cũng chẳng có gì để tuyệt vọng. Tất nhiên là mong sống để có ngày trở về với vợ con, với mái nhà xưa, nhưng nếu có chết trong tù cũng là chuyện thường.

LTH:  Sau 1975 ông có dịp nào tiếp xúc với Văn Nghệ Sĩ Miền Bắc ? Có những chuyện nào hay những nhân vật nào đáng kể ?

HHT: Tôi không thích gặp bất cứ người làm văn nghệ miền Bắc nào. Tôi chỉ có cảm tình, và trọng một người : Nguyễn Chí Thiện.

LTH:  Ông nghĩ một nhà văn nên tham dự những vấn đề chính trị hay xã hội đến đâu?

HHT: Tôi nghĩ “Việc của Nhà Văn là Viết.”

LTH:  Giới nhà văn, nhà thơ, ca nhạc sĩ của Miền Nam  thời kỳ 1955- 1975 được thoải mái tự do viết, tự do ăn chơi, nên ít chu toàn bổn phận công dân của  Miền Nam Việt Nam Cọng Hoà ? Ðó cũng là 1 trong những lý do làm cho Miền Nam Việt Nam Cọng Hoà sụp đổ. Trong khi ở Miền Bắc Cọng Sản 1945-1975 thì giới sáng tác bị đóng khuôn thành Ðồng Chí Cọng Sản cả. Họ bị tước đoạt quyền sáng tác, chỉ sáng tác để phụng sự bổn phận công dân của Miền Bắc Việt Cọng Chủ Nghĩa, nên Miền Bắc Việt Cọng Chủ Nghĩa đã đánh chiếm được Miền Nam Tự Do Chủ Nghĩa. Nếu cho ông làm lại, và làm trưởng ban Chiến Tranh Chính Trị Miền Nam Tự Do Chủ Nghĩa, ông sẽ làm lại như thế nào ?

HHT: Không có chuyện “Nếu..” như thế. Làm sao người lảng xẹt về mọi mặt như tôi mà làm công tác Chiến Tranh Chính Trị được.

LTH:  Nói về Trịnh Công Sơn, một đỉnh điểm điển hình cho một công dân sáng tác đóng góp vào việc làm mất Miền Nam vào tay Miền Bắc. Tôi nghe một cuộc phỏng vấn trên một đài truyền hình trên net, bà Ðặng Tuyết Mai vợ phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ kể lại bà cho mời ông Trịnh Công Sơn vào  hát nhạc tình ca và bắt tay với nhau khen nhau này nọ trong dinh thự ông Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ. Rồi chính ông Trịnh Công Sơn ra ngoài làm nhạc Phản Chiến nhiều hơn ai hết. Thời ấy mấy ai dám làm nhạc Phản Chiến đĩnh đạc và được sống sốt như ông Trịnh Cộng Sơn. Phản Chiến là phong trào Quốc Tế. Tôi nghe nói có lúc chính quyền Miền Nam đòi bắt ông Trịnh Công Sơn, nhưng Người Mỹ không cho. Rồi tôi lại nghe ông Trịnh Công Sơn theo VC với những người thân và bạn thân của Nhóm Huế của ổng theo fò VC  tối đa, đến độ VC về Sài Gòn năm 1975 là Trịnh Công Sơn nhào ra hát bài Nối Vòng Tay Lớn trên Ðài Phát Thanh Sài Gòn. Tôi cũng mê nhạc Trịnh Công Sơn, mê chết đi được. Nhưng thú thật, ở một cương vị cá nhân bị mất mát quá nhiều vì chiến tranh, tôi cũng phải nhìn lại cuộc chiến với suy tư để tự đi tìm cho mình một lời giải thích.  Tôi muốn hỏi ông một câu ông nghĩ sao về trường hợp của Trịnh Công Sơn?

HHT:  Tôi khinh anh ta.

LTH:  Ông ở lại Việt Nam sau khi người Việt Cộïng Miền Bắc nhuộm Cộïng Sản hết cả nước Việt Nam từ 1975 cho đến năm nay 2011, theo ông sự tàn phá nào khủng khiếp nhất mà người Việt Cộng và Hồ Chí Minh đã mang đến cho xã hội Việt Nam từ năm 1945 cho đến nay.  Di sản tồi tệ nào nhất mà chủ nghĩa Việt Cộng đã để lại ở Việt Nam ?

HHT: Tôi xin không trả lời câu hỏi này.  Tôi đã viết về tình trạng ấy trong nhiều bài Viết ở Rừng Phong.

LTH:  Ông là người đầu tiên đặt lại vấn đề giá trị và tư cách của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Ðộng lực nào ?

HHT: Chỉ vì Sự Thật.

LTH:  Ông  nghĩ gì về những nhóm nhập nhằng nửa chính trị nửa văn chương Việt Nam như Nhân Văn Giai Phẩm, Sáng Tạo, Talawas đều là những trò chơi political warfare của Mỹ hoặc của các thế lực quốc tế khác trên các nhà văn Việt Nam ?

HHT: Tôi chẳng bao giờ bận trí về những chuyện được hỏi trên đây

LTH:  Cùng một thời có một người gốc Bắc Di Cư nổi tiếng là nhờ những phóng sự có tính trào phúng là Phan Nghị. Sau khi được cử sang dự hoà đàm Paris, sau đó trở về Việt Nam thì không chống cọng nữa, và kêu gọi hoà giải. Ông so sánh lại thì cũng là một người lạc quan thì đi ngược lại kiểu của ông . Ông nghĩ tại sao lại có sự khác biệt như vậy?

HHT: Làm gì có chuyện Phan Nghị “kêu gọi hòa giải?”

LTH:  Giai đoạn tù đày ? Ông ở tù bao nhiêu năm ?

HHT: Tôi bị bắt đi tù 2 lần, Lần 1 tù 24 tháng, kéo dài trong 3 năm 1976, 1977, 1978. Lần tù thứ hai 6 năm, từ 1984 đến 1989.

LTH:  Lúc ở trong tù ông nghĩ gì về người Mỹ ?

HHT: Chán ngấy.

LTH:  Họ có tìm cách cứu ông ?

HHT: Không. Tôi là cái thá gì mà họ lo cứu tôi.

LTH:  Ông hiểu gì về nước Mỹ.

HHT: Lơ mơ như nhiều người Việt cùng tuổi tôi.

LTH:  Ông hiểu gì về người Mỹ ?

HHT: Rất lơ tơ mơ.

LTH: Người Mỹ đã bỏ rơi Miền Nam. Ông có oán hận họ không?

HHT: Không.

LTH:  Hồi cuối tháng 10 năm 2010, trong một cuộc hội thảo tại bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ở DC, cựu bộ trưởng Ngoai Giao Hoa Kỳ Henry Kissinger lần đầu tiên thú nhận công khai rằng Việt Nam Cọng Hoà bị mất là do Hoa Kỳ bỏ rơi. Ông có oán hận gì người Mỹ không ?

HHT: Không.

LTH:  Ông nghĩ gì về vai trò của Hoa Kỳ tại Việt Nam trong tương lai?

HHT: Tôi chẳng nghĩ gì cả.

LTH:  Tại sao cuối đời ông mới làm thơ ?  Bài thơ sáng tác nào của ông mà ông thích nhất?

HHT: Tôi làm thơ từ năm tôi 17 tuổi. Sau năm 20 tuổi, tôi không làm thơ vì tôi không phải là thi sĩ. 30 tuổi tôi bận làm, đọc, viết, ăn chơi, thì giờ, tâm trí đâu mà tôi làm thơ. Lại thêm cuộc sống của tôi phơi phới, có gì buồn sầu, đau thương đâu mà tôi thơ với thẩn. Sau 1975 như 30 triệu người VNCH làm thơ, tôi làm thơ. Vật bất kỳ bình tắc minh. Vật bình làm sao vật minh. Còn Thơ tôi bài nào Hay thì lúc tôi thấy bài này hay, lúc tôi thấy bài kia hay. Thấy hay theo tâm trạng của tôi lúc ấy.

LTH:  Alice? Tại sao ông lại cho Alice đi vào thơ văn, một fictional character từ chính tên của người vợ ông ? Tại sao không là một tên nào khác?

HHT: Bài Thơ nào tôi làm riêng cho vợ tôi, tôi để tên nàng vào bài.

LTH:  Bây giờ ở trên blog www.hoanghaithuy.com ông chống Cộng và chống nhiều thứ kịch liệt ? Ông nghĩ gì khi làm những chuyện như thế  ở thời điểm này của ông? Ðể làm gì ?

HHT: Tôi làm những việc tôi làm vì tôi thấy tôi có bổn phận làm những việc đó.

 LTH:  Một ngày của ông hiện nay sinh hoạt như thế nào ?

HHT: Như một ông già có tật “nghiện computer.” Tôi thấy tôi nghiện computer như người nghiện thuốc phiện: Người nghiện hút cả ngày quanh quẩn bên bàn đèn, người nghiện conputer cả ngày quanh quẩn trước dàn computer. Tôi sẽ viết một bài về hai cái Nghiện này.

LTH:  Ông xử dụng computer vào những việc nào ? Ông có xem youtube thường không ? Ông có gia nhập Facebook  không ?

HHT: Tôi chỉ viết và tìm đề tài để viết. Tôi không xem youtube, Facebook lại càng không có tôi.

LTH:  Ông nghĩ gì về vai trò của internet và sáng tác ?

HHT: Người thích viết như tôi mà viết trên Internet là Nhất, Sướng Nhất. Ông Tầu Kim Thánh Thán không có cái lạc thú này. Lại hưá tôi sẽ viết một bài về Nghiện Computer và Sướng Viết Computer. Cũng xin kính báo với quí vị đọc những dòng này: Tôi hưá nhiều, tôi thường hưá loạn cào cào  nhưng tôi là Hội Viên Hội Hứa Lèo Quốc Tế, cho nên đôi khi tôi có bổn phận làm theo tôn chỉ của Hội. 

LTH:  Làm cách nào để vẫn yêu đời và vẫn viết dào dạt khi người ta qua tuổi 70 ?

HHT: Trời cho, Chuá cho. Làm gì có cách nào.

LTH:  Ông có nghĩ là nhờ bản chất lạc quan về cuộc đời mà ông sống sót qua được những biến đổi lịch sử?

HHT: Tôi có lạc quan hay can đảm gì đâu. Tôi bản tính yếu sìu – Tử vi là Âm Nam: Ðàn ông mà tính nết như đàn bà – tôi không cương quyết, tôi dễ thay đổi quyết định, tôi không lo xa,  khi có việc rắc rối là cuống lên, sợ.  Tôi có tật “Cả nể.” Không thích làm việc đó mà nể người ép vẫn cứ làm. Làm rồi bực tức. Tôi mềm như bún thiu, như cơm vữa.

Cám ơn gio-o và bà Lê Thị Huệ

LTH: Cám ơn nhà văn Hoàng Hải Thủy

Lê Thị Huệ thực hiện

© gio-o.com 2011

Advertisements

20 Responses

  1. ” LTH: Lúc ở tù ông bị đối xử như thế nào ?

    HHT: Như 20 triệu công dân Quốc Gia VNCH bị bọn Bắc Cộng giam tù. Không có gì khác.”
    Chao ôi, cãm khái làm sao ! Con chúc bác sức khỏe
    ( chử bác không viết hoa, nhưng viết bằng sự tôn kính, mến yêu chân tình )

  2. Tôi Khinh Anh Ta
    . thụyvi

    Tôi gửi đến quý vị nội dung lời phỏng vấn của bà Lê thị Huệ và câu trả lời rất độc đáo của ông Hoàng Hải Thủy về Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đăng trên GIÓ O trang đặc biệt Tết Tân Mảo ( * )
    “ LTH: Nói về Trịnh Công Sơn, một đỉnh điểm điển hình cho một công dân sáng tác đóng góp vào việc làm mất Miền Nam vào tay Miền Bắc. Tôi nghe một cuộc phỏng vấn trên một đài truyền hình trên net, bà Đặng Tuyết Mai vợ phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ kể lại bà cho mời ông Trịnh Công Sơn vào hát nhạc tình ca và bắt tay với nhau khen nhau này nọ trong dinh thự ông Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ. Rồi chính ông Trịnh Công Sơn ra ngoài làm nhạc Phản Chiến nhiều hơn ai hết. Thời ấy mấy ai dám làm nhạc Phản Chiến đĩnh đạc và được sống sót như ông Trịnh Cộng Sơn. Phản Chiến là phong trào Quốc Tế. Tôi nghe nói có lúc chính quyền Miền Nam đòi bắt ông Trịnh Công Sơn, nhưng Người Mỹ không cho. Rồi tôi lại nghe ông Trịnh Công Sơn theo VC với những người thân và bạn thân của Nhóm Huế của ổng theo fò VC tối đa, đến độ VC về Sài Gòn năm 1975 là Trịnh Công Sơn nhào ra hát bài Nối Vòng Tay Lớn trên Đài Phát Thanh Sài Gòn. Tôi cũng mê nhạc Trịnh Công Sơn, mê chết đi được. Nhưng thú thật, ở một cương vị cá nhân bị mất mát quá nhiều vì chiến tranh, tôi cũng phải nhìn lại cuộc chiến với suy tư để tự đi tìm cho mình một lời giải thích. Tôi muốn hỏi ông một câu ông nghĩ sao về trường hợp của Trịnh Công Sơn?
    HHT: Tôi khinh anh ta.
    ( ngưng trích )
    Tôi rất khoái câu trả lời của ông Hoàng Hải Thủy. Tuyệt!
    Mấy mươi năm trôi qua. Lịch sử đã chứng minh chính thể Việt Nam Cộng Hoà là một chính thể Dân chủ. Nếu không vậy, sao ông Du Tử Lê đã bộc bạch trên một bài viết đăng trên tờ Người Việt:
    “ Và, trong chừng mực nào đó, nếu có cơ hội nhìn lại, tôi nghĩ, ông không thể phủ nhận rằng, miền Nam đã cho ông, cho các bạn ông, cho chúng ta, những người cầm bút, số tự do đủ, để được sống như một nhà văn, với những suy nghĩ, cảm nhận, hành động…Nhưng phải chăng, thường khi, chúng ta đã lạm dụng nó, một cách vô trách nhiệm ..”
    ( ngưng trích )
    Mấy chục năm rồi, trải qua bao nhiêu kinh nghiệm nhục nhã, cả tin, ngây ngô đầy xương máu, ấy vậy mà hiện nay vẫn có số người vô trách nhiệm với tình cảnh đất nước đang phèn la chuyện 300 lá thư tình ruồi bu mà ông Trịnh Công Sơn viết trong 4 năm nhờ… trốn lính. ( Trong 4 năm có biết bao nhiêu thanh niên ở thế hệ ông Trịnh Công Sơn phải hy sinh dầm sương giãi gió, tan da nát thịt, bỏ mạng ngoài chiến trường để bảo vệ đất nước chống lại hoạ CS, và đau lòng thay là bảo vệ luôn ông ta – để ông ta được an nhàn ngồi nhà viết nên những 300 lá thư tình chài mồi gái và cả tập nhạc phản chiến đâm sau lưng những người lính )
    Câu “ Tôi khinh anh ta” của ông Hoàng Hải Thủy nói về Trịnh Công Sơn đúng quá.
    Mượn câu này, tôi nói thêm, tôi khinh luôn một số đám cầm bút tự bó cái mõm của mình. Tôi khinh luôn một số đám tỵ nạn đánh mất lòng tự trọng, tự làm mình hèn, tự làm mình ngu.
    thụyvi
    ( Hầm Nắng, ngày Hạ Nêu )
    (*) xin phép chủ biên Gió O cho tôi được trích.

  3. xin được chia sẻ với CTHĐ một cuộc phỏng vấn khác , lời lẽ không chỉ là bằng máu và nước mắt mà bằng cả mạng sống vừa xẩy ra ở Ai cập và chắc chắn sẽ là ở Việt nam nay mai thôi http://boxitvn.wordpress.com/2011/02/12/ghonim-ti-s%e1%ba%b5n-sng-hy-sinh-cho-t%e1%bb%95-qu%e1%bb%91c/

  4. DÒNG THƠ KHAI BÚT GỞI MẸ VIỆT NAM
    Hơn ba mươi năm, hỡi Mẹ
    Tha hương tình đã lạnh lùng
    Giờ đây lòng thêm đau xé
    Nhìn người trở mặt, quay lưng !
    Nhìn người nhẫn tâm phản bội
    Quê hương, tổ quốc, giống dòng
    Phản cả máu xương đồng đội
    Để về gọi giặc bằng ông !
    Để về cúi đầu luồn giặc
    Mơ tìm cái bóng phù vinh
    Trước kẻ thay đen đổi trắng
    Mẹ ơi, sông núi bất bình !
    Mẹ ơi, biển Đông nổi sóng
    Giận phường gía áo, túi cơm
    Nghĩ câu “thất phu hữu trách”
    Thương ai mài kiếm rửa hờn !
    Gía như vô danh tiểu tốt
    Thì thôi, phản trắc cũng là
    Nhưng đã một thời bổng lộc
    Ngôi cao, quyền trọng quốc gia
    Mà làm những điều vô sỉ
    Quên ngày hờn tủi Quốc vong
    Quên bao đồng bào, chiến sĩ
    Kẻ tù, người chết biển Đông !
    Quên ngày bỏ dân, trốn chạy
    Quên mình tị nạn xứ người
    Để về cầu thân với giặc
    Thì coi không được, Mẹ ơi !!!
    Mẹ ơi, con thương mẹ qúa
    Bao năm hồn mẹ héo gầy
    Mong con về từ muôn ngả
    Dựng cờ chính nghĩa vàng bay…
    Hơn ba mươi năm mẹ đợi
    Con yêu vẫn chốn mịt mù
    Quê hương vẫn còn tăm tối
    Và đời… bao kẻ… hình như….

    Mẹ ơi, bài thơ khai bút
    Con không muốn nói chuyện buồn
    Nhưng nỗi sầu cao ngun ngút
    Bút trào mực lệ đau thương !!!
    Ngô Minh Hằng

    • Hay, hay quá bác Thằng Hề ơi! Cám ơn bác chia sẻ bài thơ này với mọi người. Nói đúng sao là đúng.

  5. Thua ong Hoang Hai Thuy,
    Nga`y xua B’ao Ngon Luan c’o Pho’ng Su “Yeu nhau di, chieu hom t’oi ro`i” co phai cua ong khong ah ?
    Tr’i nh’o cua toi ke’m nen ma’y muoi nam nay toi cha’c ma’c . Ra’t cam on ne’o Ong cho bi’et’
    Kinhch’uc ong Van An
    Kinh

    • Thua ban TimNguyen. Toi khong viet “Yeu nhau di..” Toi cung khong nho co truyen ten nhu the tren Ngon Luan ngay xua. huc ong vui manh. HHT

  6. “Tôi chỉ có cảm tình, và trọng một người : Nguyễn Chí Thiện.”

    !!!!!

    Vẹm lé chí thiện hay chí phèo là thằng nhận vơ mình là tác giả của thi phẩm vô đề nổi tiếng của một tác giả vô danh. Hắn đã làm dấy lên nhiều niềm nghi ngờ trong cộng đồng người Việt tỵ nạn khắp nơi từ ngày hắn lú đầu xuất hiện ở Hải ngoại. Thể xác hắn hoàn toàn khỏe mạnh không có một chút dấu vết nào của cuộc đời lao tù, bệnh hoạn. Mỗi lần hắn kể về tiểu sử bản thân mình người ta đều thấy cái tính cách bừa bãi, láo lếu vì luôn luôn tiền hậu bất nhất. Ngay cả cái năm sinh của mình mà hắn cũng khai mấy lần khác nhau! Chưa kể vô số những việc vô cùng phi lý khác. Muốn biết rõ thì chỉ việc serf net với cái tên cúng cơm nct của hắn thì lòi ra cả đống…

    Ngay từ buổi đầu xuất hiện ở hải ngoại nhà thơ” nổi tiếng này đã tuyên bố chặn trước rằng thì là từ nay sẽ quyết định không mần thơ nữa mờ chuyển qua viết văn thôi! Nhưng rồi dần dà chắc thấy mình là thi sĩ nổi tiếng với thi phẩm để đời như thế mà không ra mắt thêm cho thiên hạ được một bãi nào nữa thì cũng hơi kỳ nên thi sĩ cũng ráng rặn vài ba bãi chỗ này chỗ nọ. Hế hê, “chất lượng” các bài thơ hay bãi thơ đó của nhà thơ nam nguyễn chí thiện thì cũng ngang ngửa với bài thơ gì mà nghe tí tách trong bồn cầu của nhà thơ nữ ng.thị hoàng bắc.

    Túm lại, nguyễn ch. thiện đã lộ hết chân tướng của một thằng già vc bắc cầy đội lốt “thi sĩ”, mạo nhận mình là tác giả của thi phẩm “vô đề” (tác giả thật sự của tập thơ này không hay chưa đặt tựa đề cho tác phẩm của mình), một thằng bịp hạ cấp hay một thằng cán ngố non kém nghiệp vụ, thiếu bản lãnh. Trước kia thì thiện nhà ta rất siêng lộ mặt trong các sinh hoạt tổ chức của cộng đồng đó đây nhưng sau cuộc “họp báo” mà chính thiện bày ra cách đây vài năm có bà Hoàng Dược Thảo, chủ báo Sài Gòn nhỏ tới đối chất (diễn biến sự việc thì chắc nhiều người đã rõ, miễn kể thêm cho uổng thời giờ) thì thiện lặn hơi kỹ, bây giờ ít ai thấy được thằng vẹm láo này ở đâu nữa! Thiện (hay tổ chức của hắn) cũng còn biết khôn, biết rằng càng lì thì càng lớn chuyện thì chỉ có bất lợi. Con bài đã cháy rồi thì ỉm luôn là hay nhất, để thời gian làm êm dịu đi rồi biết đâu ngày nào đó lại có cơ hội.

    Kim Âu Hà Văn Sơn có thời gian trả nhuân bút cho các bài viết của Hoàng Hải Thủy nhưng rồi ông ta thấy nhà văn dzung dzăng dzung dzẻ hơi kỹ với “thi sĩ” nguyễn chí thiện nên mới bực mình thể hiện lập trường, không nhận sự cộng tác của Hoàng Hải Thủy nữa. Buồn 5 phút cho nhà văn.

    Nhà văn Hoàng Hải Thủy ơi hỡi, tỉnh mộng hay tỉnh ngủ đi, đừng làm người ái mộ mình phải chau mày. Hay là bữa nào rảnh nhà văn viết một bài nào kỹ kỹ về người mà mình có cảm tình và trọng đó coi chơi. Chắc chắn những người ái mộ Hoàng Hải Thủy sẽ rất thích thú tìm đọc

  7. Tôi chắc không bao giờ Hoàng huynh trả lời cái comment này. ” Người khôn ăn nói nhẹ nhàng,
    Thằng say, mất dạy, la làng…cũng không có ai thèm nghe làm chi cho mệt!”. SERT NET là cái gì? Muốn nói SURF NET phải không? Mệt !!!

    • Xin phép Bác Phan Sinh cho em họa lại 2 câu thơ :

      Người khôn ăn nói nhẹ nhàng
      Thằng ngu mất dậy la làng…vẫn…(còn) ngu.

      • T Pham có phải cô nàng?
        Thêm vào hai chữ, nhẹ nhàng, đủ “phê” !..
        Còn tôi, bảy bó, lề mề,
        Viết ra mười chữ, còn chưa hả lòng !…

  8. @ bạn TVK ,

    Trích : Nhà văn Hoàng Hải Thủy ơi hỡi, tỉnh mộng hay tỉnh ngủ đi, đừng làm người ái mộ mình phải chau mày. Hay là bữa nào rảnh nhà văn viết một bài nào kỹ kỹ về người mà mình có cảm tình và trọng đó coi chơi. Chắc chắn những người ái mộ Hoàng Hải Thủy sẽ rất thích thú tìm đọc. ..Ngưng trích.

    Được lời như cởi tấm lòng. Xin cảm ơn bạn đã nói hộ cho chúng tôi ,những người luôn ái mộ nhà văn.

  9. Trich tu :

    Tin tiếp theo về “Tù nhân thế kỷ” Trần Văn Thiêng được tự do

    ………………………………………………..

    Thưa qúy vị, sau khi những “người tù thế kỷ” như ông Trần Văn Thiêng, và trước đó là các ông Trương Văn Sương, Nguyễn Anh Hảo…được rời khỏi cảnh đoạ đày, thì câu hỏi được nêu lên là thân phận của những tù nhân chính trị bất khuất, lâu năm khác, nhất là cựu đại uý Nguyễn Hữu Cầu, sẽ ra sao?

    Đó là chưa kể còn biết bao ngừơi tù chính trị vô danh khác mà công luận cho là đang bị giam đâu đó trong hơn 80 trại tù lớn nhỏ rải rác trên khắp đất nước Việt Nam.

    Thanh Quang, phóng viên RFA

    • Chúng ta không thể quên những người đã và đang còn trong tù cải tạo và những người tù lương tâm bị giam vì lên tiếng chống chính quyền. Để cụ thể hóa lời nói và ý chí của chúng ta, chúng ta nên kêu gọi hỗ trợ những tù nhân đó bằng cách ủng hộ cho quỹ QTNLT (Quỹ tù nhân lương tâm) tại http://www.tnlt.net/
      các anh em tại QTNLT bên Úc luôn chuyển tiền về VN để giúp những người bị tù cs như cựu đại úy Nguyễn Hữu Cầu và gia đình ông, cha Lý v.v.
      Cá nhân tôi vừa được biết đến quỹ này và đã gửi tiền và cổ động bạn bè bên Pháp này.
      Xin mọi người tìm đến trang mạng đó để tìm hiểu và giúp đỡ…Cám ơn thật nhiều.

  10. Tạ Tuyên says:
    12/02/2011 at 09:08

    Đây là một trong những kết qủa của 100 năm trồng người của HCM, như vậy :

    HCM = Hại Cha Mình,
    HCM = Hại Chính Mình
    HCM = Hại Con Mình
    HCM = Hại Cháu Mình
    HCM = Hại Chắt Mình
    HCM = Hại Chít Mình

    Nguồn : http://www.danchimviet.info/archives/27674

  11. BỐ TÔI VÀ NGƯỜI TÙ NGUYỄN CHÍ THIỆN

    Triều Nghi

    04 December 2010 02:10 PM

    http://baotoquoc.maxforum.org/2010/12/04/bo-toi-va-nguoi-tu-nguyen-chi-thien/

    Nhân đây, cũng xin cảm ơn nhà văn Phan Nhật Nam đã có nhã ý nhắc tới gia đình chúng tôi trong bài viết về ông Nguyễn Chí Thiện, mặc dù giữa chúng ta chưa hề quen biết.

    Triều Nghi

    * * *

    Vận nước nổi trôi, dòng đời nào khác chi giông bão cùng với nghiệt ngã của chiến tranh, những bất hạnh dồn dập đến với gia đình chúng tôi.

    1945, cậu em trai tôi chào đời vào năm đói Ất Dậu. Bố Vũ Thế Hùng bị Việt Minh bắt. Mẹ tôi, nào khác hạt bụi giữa cuồng phong, bỗng một sớm một chiều chấp nhận lầm than, tảo tần, buôn thúng bán bưng, vất vả đi theo nuôi bố qua bao nhiêu trại tù. Sau này bố tôi tâm sự “không có mẹ thì bố mất xác đã lâu, còn đâu tới ngày hôm nay mà gặp các con nữa”.

    Không liên hệ gia đình, không là bạn tù, có lẽ mẹ tôi là người biết về Nguyễn Chí Thiện sớm nhất là vì vậy.

    Ba anh em chúng tôi lớn lên bằng tài chánh eo hẹp, lần lượt cô dì này đến chú bác khác cưu mang. Ôi, những ngày vàng son thuở ấy, một “giấc Nam Kha khá bất bình…”.Năm người trong gia đình chúng tôi, mỗi người một ngả, thậm chí hơn cả nửa thế kỷ rồi mà cũng hiếm khi xum họp dưới một mái nhà kể từ khi “đất bằng dậy sóng” 1945. Ông anh huynh trưởng của tôi, năm 5 tuổi đã nhập học trường Dòng, anh lớn đi theo tiếng Chúa gọi, nay trở thành Linh mục Mathieu Vũ Khởi Phụng của biến cố Giáo Xứ Thái Hà, Hà Nội, mà gần đây báo chí đã tốn khá nhiều giấy mực viết về anh.

    Ngày em đi, anh niềm vui Chủng viện,
    Buổi em về Linh mục đã phong sương !!

    Nỗi đau còn hằn mãi trong tâm tưởng, tôi đâu ngờ rằng cậu em trai duy nhất của tôi, một ngày tháng Tư đen 1975, lại nối gót bố 30 năm xưa cùng với Sàigòn hấp hối, em tôi trở thành người tù cải tạo với gần 8 năm dài bóc lịch !

    Tôi ư ? Một cánh bèo trôi dạt mãi trên sông, hay phận mình là áng mây phiêu bạt, để rồi, rời quê hương thật sớm, bỏ lại cậu em trai dãi nắng dầm sương trong quân ngũ, bỏ lại bố mẹ già ở miền Bắc xa xôi, tôi đâu còn nhớ mặt, ngày ly tan tôi mới hai tuổi đầu. Bấy giờ một mình vượt Thái Bình Dương :

    Đất Mỹ,
    Trời Âu xa lắm
    Nơi rừng sâu
    Người cha rầu rầu
    Thường đem ảnh con mình ra ngắm

    Đó là những dòng thơ Nguyễn Chí Thiện diễn tả về tôi khi thấy bố già ngắm hình đứa con gái. Anh làm quen với tên T.N. từ đấy, bởi đó là niềm vui của bố và của một anh tù thuở “mắt trũng chân phù” trong trại tù Phong Quang.

    Đất Mỹ, trời Âu xa lắm, nổi trôi mãi chẳng ngừng. Đây những ngày xuân xa xứ, hồn tả tơi tựa những cánh hoa đào rơi lả chả bên dòng Potomac đẫm rong rêu ! Đây trời Arlington buốt giá, đôi bờ tuyết phủ. Từ mùa hạ Chicago nắng cháy đỏ da, tôi trôi dạt về chiều El Paso mưa buồn xót mắt. Cứ thế tôi đã đánh mất bao nhiêu mùa xuân trong đời, rồi tôi dừng lại đây với hơn 18 mùa sương phủ trên chiếc cầu lạnh giá Cựu Kim Sơn. Để rồi “xin nhận nơi này làm quê hương”. Một ngày tỉnh mộng nghe tim mình ray rứt thương về mảnh đất hình chữ S. Mùa xuân 1992, tôi trở về cố quận.

    Lòng như cơn bão, giữa rừng người đứng ở phi trường Tân Sơn Nhất kia, có bố mẹ già còm cõi mà gần nửa thế kỷ tôi mới được tái ngộ. Có ông anh trịnh trọng trong bộ áo Dòng, có cậu em trai gầy gò răng rụng, với mái tóc bạc màu tù cải tạo.

    Bố đón tôi bằng dòng nước mắt lăn dài trên khuôn mặt hom hem, bàn tay gầy guộc đặt trên vai tôi. Bố hỏi “Con có nghe câu thơ này chưa” ? Rồi bố đọc chậm rãi :

    Thân không trời đất mà mưa gió
    Lòng chẳng gươm đao cũng chiến trường

    Thế đó ! Là phút giây hội ngộ của gia đình chúng tôi lần đầu tiên trong đời, đủ được 5 người.

    Tôi xa Hà Nội không phải “năm em mười tám khi vừa biết yêu” mà là khi cô bé 11 tuổi phải rời trường Saint Paul, nay rất gần Tòa Khâm Sứ. Tuổi thơ tôi di cư vào Nam với bao nỗi nhọc nhằn. Bây giờ Hà Nội xưa của tôi hiện ra trước mắt, sao bỗng dưng tôi nghe vị mặn ở bờ môi. Một Hà Nội đưa tôi vào lạc lõng, một Hà Nội của Trịnh Công Sơn với cây cơm nguội vàng và hồn tôi ngỡ ngàng xa lạ. Tôi đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác khi đặt chân lên thềm nhà của bố mẹ. Căn nhà nhỏ mốc meo rêu với mùi ẩm mốc khó chịu. Tất cả hiện ra cảnh nghèo khó tới rợn người. Thế mà bố mẹ tôi hân hoan ra mặt. Bố cười bảo tôi :

    “Con ở ngoại quốc về chắc thấy chỗ này ghê rợn lắm. Từ ở tù ra gần cả chục năm rồi, bố mẹ sống đạm bạc đã quen, nhà thờ Hàm Long ngay đầu phố, tiện lắm. Bố muốn con hiểu rằng, căn nhà nghèo khó này đã từng tiếp đón những người bạn trí thức tuyệt luân, lại đầy nhân ái và tình người. Bố mẹ yêu những người ấy như ruột thịt. Con sẽ lần lượt gặp họ, ai cũng muốn gặp con đấy, vì bố đã nói nhiều về con trong những năm tháng tù đày. Này nhé, nhiều tên tuổi lừng danh con nên kính phục -Phùng Cung,Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Chí Thiện và còn nhiều nữa trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, con có nghe tên họ chưa” ?

    * Nghe thì nghe nhiều rồi đó, nhưng chả bao giờ tôi lại nghĩ rằng, mình may mắn gặp được những nhân tài này. Rồi bố giới thiệu : Nguyễn Chí Thiện, người bạn tù lâu năm, người bạn vong niên của bố.

    Tôi quan sát anh, định cất tiếng chào:

    – “Thưa chú”…

    nhưng anh gạt đi

    -”Gọi bằng anh nhé. Chị quên là tôi gọi bác là bác kia mà, tôi không lớn hơn chị lắm đâu”.

    Tôi ngồi lắng nghe bố đọc thơ anh làu làu, rồi hai người say sưa luận bàn thơ phú. Tôi không quen với thể thơ của Nguyễn Chí Thiện, nên im lặng nghe bố kể :

    – “Con chưa biết nó đâu, dáng dấp lừng khừng là thế, lại gầy ốm tong teo như cây sậy, mà can đảm không lường, bố phục nó, dám một mình vào sứ quán Anh bất chấp nguy hiểm, miễn sao thơ nó được lọt ra nước ngoài. Còn ở trong tù mà nó dám làm thơ có thể chết người con ạ. Trong tù, đứa nào cũng đói rã ruột, thế mà đứa nào cũng tử tế với bố, nhường từng miếng khoai sùng, sắn sượng cho bố vì thấy bố già nua. Chúng nó là những anh hùng bất chấp gian nan, bố phục lắm”.

    Rồi bố cười :

    – T.N. là đề tài cho Thiện nó làm thơ đấy.

    Tôi bắt đầu có chút cảm tình với anh, bỗng anh ngập ngừng hỏi tôi :

    – “Muốn nhờ chị một điều, không biết chị có nhận lời không” ?

    Tôi e ngại :

    – “Anh cứ nói”.

    – “Chị có thể đem tập thơ của tôi ra ngoại quốc được không ? Ít bài thôi”.

    Tôi chưa biết trả lời ra sao thì anh lại tiếp :

    – “Gặp bác và chị thế này, ngoài kia khối con mắt dòm ngó đấy, nhưng tôi ở tù quen rồi, nên cóc sợ”.

    Câu nói của anh làm tôi hoảng vía, bởi năm 1992 nào phải như bây giờ, bất trắc nào cũng có thể xảy ra, nên tôi thẳng thắn từ chối :

    – “Thôi anh ạ, đừng buồn nhé. TN. không dám đem đâu. Xin cho em hai chữ bình an để trở về Mỹ trót lọt”.
    Một thoáng thất vọng trong mắt anh : “Thôi, thế này, Trần Nhu chắc là có tập thơ của tôi đấy, chị hỏi hộ ông ấy nhận được chưa” ?
    – “Vâng, chuyện đó thì được”.

    Người kế tiếp tôi gặp là Phùng Cung, tôi đọc được chút gì trìu mến cho tôi nơi anh. Bằng một mẩu giấy màu vàng nhàu nát, anh ứng khẩu rồi viết luôn:

    Bé Triều Nghi, bé Triều Nghi,
    Mắt cười, đọng vẻ phân kỳ ngày xưa.

    Mẩu giấy đó tôi còn giữ mãi.

    Người bạn kế tiếp của bố là Nguyễn Hữu Đang. Ông không làm thơ tặng tôi, chỉ bắt tay tôi, trịnh trọng chào : “hân hạnh được gặp bóng hồng dương thế”, rồi ông nằm dài trên tấm phản, chửi đổng chế độ.

    Ngày từ biệt bố mẹ trở lại Mỹ, bố nhắn với theo :

    – “Nguyễn Chí Thiện khá lắm. Thằng ấy khí khái anh hùng, con giúp được gì cho nó thì làm, nó hết lòng với bố trong tù đấy”.

    Trở về Mỹ, cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại bắt đầu quyên góp để yểm trợ cho anh và tôi thường xuyên có mặt. Thời gian thấm thoắt, có lẽ thơ anh bắt đầu có tiếng vang bên trời Âu. Năm anh đến bến bờ tự do, cộng đồng Việt khắp nơi đón rước anh, tên anh nổi như cồn qua hàng loạt bài diễn văn. Tôi mừng thầm.

    Nguyễn Chí Thiện nay đã nổi tiếng, và tôi tự nhủ : Chắc anh đã quên tôi. Thật cảm động, tôi nghĩ lầm về anh, cú điện thoại đầu tiên vồn vã :

    – “T.N. đấy ạ, Thiện đây ! Nhờ thưa với bác, Thiện tới Mỹ bằng an nhé” !

    Một niềm vui lớn lao cho tôi khi thấy anh toại nguyện. Tôi cười, mừng anh, đồng thời nhắn rằng, T.N. sẽ không có mặt trong những buổi diễn thuyết của anh, bởi tôi không thích đám đông và không làm chính trị. Từ đó, mỗi lần về Bắc Cali, dù không gặp nhau thì vẫn là những lời thăm hỏi chí tình.

    Nguyễn Chí Thiện, mỗi lần gặp anh là tôi mường tượng ra lần đầu hội ngộ với anh, với bố già trong căn nhà nghèo khó ở Hà Nội, và tôi đã từng khuyên anh “cẩn thận nhé. Nay anh làm dâu trăm họ rồi đấy”, vào năm 95 khi vừa đặt chân trên đất Mỹ.

    Nay thì câu nói ấy đã hiệu nghiệm. Ở một nơi tự do ngôn luận, tự do báo chí trên mảnh đất quá nhiều tự do này. Tôi biết rằng anh đang gặp dữ nhiều, lành ít. Tôi từ chối không đọc những bài báo nói không trúng về anh. Hôm qua, tình cờ gặp một nhà thơ cao tuổi, bác Hà Thượng Nhân, bác bảo:

    – “Sao cô không lên tiếng cho Nguyễn Chí Thiện”.

    Tôi thiết nghĩ, tôi lên tiếng là đã quá thừa, bởi nhà văn Phan Nhật Nam, giáo sư Jean Leaby đã viết quá đầy đủ về anh rồi. Sự thật vẫn là sự thật. Anh Thiện ơi, càng cao danh vọng càng dày gian nan ! Thôi thì, đó cũng là định luật sống.

    Viết những dòng này cho anh, bố già nay đã miên viễn, Nguyễn Hữu Đang cũng vô thường, mà Phùng Cung thì đã “hạt bụi nào hóa kiếp thân anh”. Chỉ còn lại một Nguyễn Chí Thiện ở tuổi hoàng hôn, thế mà cây muốn lặng sao gió không ngừng. T.N. nhớ mãi lời bố khi giới thiệu anh “Thằng ấy khí khái, anh hùng, con có dịp hãy đọc thơ nó, bố phục nó lắm”.

    Đấy, lời một người bạn tù nằm xuống chắc đã làm anh vui. Viết những dòng này gửi tới anh khi ngọn gió đầu đông đón chào mùa xuân trên đất Mỹ, tôi thấy thương bố V.T.H. vô cùng, thương những người chiến sĩ chiến đấu bằng ngòi bút cho lý tưởng tự do, trong đó có anh Nguyễn Chí Thiện.

    Ta đau trời Phong Quang
    Ta giận tràn Vĩnh Phú
    Oán hờn một thuở Lao Kai
    Từ ta lưu lạc dấu giày
    Lời thơ phẫn nộ vẫn say sắc thù
    Thương ai ngưỡng cửa ngục tù
    Xác thân nghiệt ngã đời hư ảo đời

    Những dòng thơ này xuất phát tự đáy lòng tôi gửi tới bố V.T.H. và các anh cùng chung chí hướng. Tôi nợ anh một lời tạ lỗi năm nào đã không dám đưa thơ anh đi. Tôi nợ anh bao ân tình cho miếng khoai mẩu sắn anh nhường cho bố tôi dạo ấy. Mùa xuân này xin anh nhận nơi tôi một đóa hồng cho người tôi ngưỡng mộ : nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, người bạn vong niên của bố tôi mà sinh thời, bố từng thán phục và mến thương.

    TRIỀU NGHI

    Và sau đây là bài thơ Nguyễn Chí Thiện viết tại trại tù Phong Quang : Bóng Hồng Dương Thế :

    BÓNG HỒNG DƯƠNG THẾ

    (Tặng Triều Nghi)

    Có người thiếu nữ mắt bồ câu
    Lưu lạc, ly hương từ độ xuân thì
    Đất Mỹ, trời Âu xa lắm

    Nơi rừng sâu
    Người cha rầu rầu
    Thường đem ảnh con mình ra ngắm
    Đêm tù
    Âm khí âm u
    Những chàng trai mắt trũng chân phù
    Thơ thẩn cầm nàng trong tay
    Cầm cả mùa xuân hạnh phúc
    Bóng hồng dương thế xa bay.
    NGUYỄN CHÍ THIỆN

  12. Chuc bac khoe manh,yeu doi,de chien dau’ cho nhung@ nguo?I co-n o? La.i

  13. Mấy ông mấy bà ơi! Đau lòng lắm!

    Chỗ xe cháy và ông Sơn tự thiêu (?) cách nhau một đoạn chừng 2,5 mét. Ông Sơn tự thiêu ngay trước UBND tp. Đà nẵng. Xin mời đọc bản tin cũng có Utube nữa.

    http://danlambao1.wordpress.com/2011/02/18/tai-n%e1%ba%a1n-hay-t%e1%bb%b1-thieu-tr%c6%b0%e1%bb%9bc-tr%e1%bb%a5-s%e1%bb%9f-ubnd-tp-da-n%e1%ba%b5ng/#more-40866

    Dân Việt Nam bây giờ là DÂN OAN nhiều lắm.

  14. Một website hay :

    http://www.ngangiotleroi.com

    Kính mời.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: