• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Ai Bảo Việt Kiều Là Khổ?

Bữa ăn đầu năm Mèo trong nhà ông Nhà Văn Văn Quang. Lời ghi về các nhân vật trong ảnh ở trong bài.

Trước khi đi vào chuyện “Ai bảo Việt Kiều là Khổ?, mời  quí vị đọc – hay đọc lại nếu 60, 70 năm xưa quí vị đã đọc bài này – bài “Ai bảo chăn trâu là khổ?” trong QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ. Tên của bài là “Chăn trâu” nhưng với những Khứa Lão năm nay – 2011 – tuổi đời Bẩy Bó, Tám Bó, bài này được gọi là bài “Ai bảo chăn trâu là khổ?”

Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Bài 31. Chăn Trâu

Ai bảo chăn trâu là khổ?

– Không, chăn trâu  sướng lắm chứ! Ðầu tôi đội nón mê như lọng che. Tay cầm cành tre như roi ngựa. Ngất nghểu ngồi trên mình trâu, tai nghe chim hót trong chòm cây, mắt trông bướm lượn trên đám cỏ. Trong khoảng trời xanh, lá biếc, tôi với con trâu thảnh thơi vui thú, tưởng không còn gì sung sướng cho bằng.

Giải nghĩa: nón mê: nón rách; ngất nghểu: có ý nói ngồi trên mình trâu lấy làm đắc ý.

Làm văn: Trả lời những câu hỏi sau đây: Ta thường chăn trâu ở đâu? – Ta chăn trâu để làm gì? – Ði chăn trâu có gì là thú vị?

o O o


Tôi – CTHÐ – đọc bài Chăn Trâu QVGKT trên đây năm tôi 10 tuổi, khoảng năm 1941, 1942. Vào những năm 1960, khi tôi 30 tuổi, nhớ lại bài tập đọc năm xưa, tôi suy loạn  tác giả bài “Chăn trâu” này là một công tử tỉnh thành, mùa hạ nghỉ học về quê chơi, đi chăn trâu, chăn bò chơi, nên thấy việc chăn trâu là thích thú, nên thơ. Ông tác giả bài “Chăn Trâu” này như ông Tầu Kim Thánh Thán, ngày hè ra đồng xem người ta tát nước – nước bạc văng lên từng đợt – thấy :

Ngày hè ra đồng xem người tát nước, chẳng phải là khoái ru?”

Người đứng xem người khác tát nước thì thấy khoái – khoái ra rít – nhưng người làm việc tát nước duới nắng hè cháy da thì không khoái ru chút nào. Chuyện ấy em nhỏ lên ba cũng biết, ta chẳng cần biện loạn chi  nhiều.

Như tôi, những năm 1940 hay 1941, một mùa hè tôi được về sống cả tháng ở làng quê tôi. Nhà tôi có con bò, một chú nhỏ trạc tuổi tôi được bà nội tôi mướn ngày ngày dắt bò ra đồng cho bò ăn cỏ. Tôi theo chú bạn quê ra đồng chăn bò. Làng tôi ở phủ Gia Lâm, giữa sông Ðuống và Ðường Số 5 Hà Nội-Hải Phòng, làng không giầu, không nghèo, làng tôi như cả ngàn làng quê khác trong vùng đất gọi văn huê là lưu vực sông Hồng Hà, làng tôi ít đất; vì ít đất nên làng tôi không có bãi cỏ cho bò gặm cỏ, làng tôi chỉ có bãi tha ma là nơi có chút cỏ cằn cho mấy con bò gầy gặm. Bãi tha ma nhỏ, bò gặm cỏ đến nỗi cỏ cùn mòn không sao mọc lên được. Tôi ra đấy chơi nửa ngày đã chán ngấy, vì không có gì để chơi ở cái bãi tha ma cỏ cằn ấy. Chỉ một lần cưỡi bò ra đồng, rồi cưỡi bò về nhà, chú chăn bò dắt bò cho tôi cưỡi, đũng quần tôi vàng vàng hôi mùi lông bò cộng mùi da bò rất khó ngửi.

Năm 1979 tôi nằm phơi rốn trong Phòng 7 Khu C 1, Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu. Có em tù trẻ kết thân với tôi, nhận tôi là Bố Già. Nó  lấy cơm canh, rửa bát cho tôi, cạo gió, đấm bóp cho tôi những tối tôi bị cúm. Nó ít tuổi hơn con trai lớn của tôi. Bố nó là Việt Minh tập kết ra Bắc năm 1954, lấy mẹ nó người Bắc, đẻ ra nó ở ngoài Bắc. Quê bố nó  ở Trà Vinh nên đặt tên nó là Nguyễn Trà Vinh.

Theo bố mẹ vào Nam, Vinh được vào ngành công an. Những buổi tối bố rởm, con rởm nằm tềnh tang bên nhau trên bệ xi-măng nhà tù, nó kể tôi nghe vài chuyện ngày xưa còn bé của nó ở Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghiã:

“Bọn con mấy thằng để ý, buổi tối có anh chị đưa nhau vào bụi cây, bờ sông là bọn con rình. Vừa đúng lúc anh chị làm nhau là một thằng trong bọn con bò tới, chớp cái quần của chị, rồi chạy. Thường chị ả là cô giáo, công nhân viên chức, bị mất quần chỉ có nước khóc. Anh chàng phải đi tìm bọn con, xin chuộc quần bằng tiền. Chúng con lấy tiền ăn quà vặt thôi, mấy anh chị này làm gì có nhiều tiền.”

“Chúng nó đểu lắm, bố ơi. Trong khu nhà con có lò làm bánh mì. Bánh làm xong để lên cái bàn trong cái phòng có cửa sổ mở ra vườn sau. Có thằng trong bọn con nghĩ ra cách lấy trộm bánh, đứng ngoài vườn dùng cành tre thò qua cửa sổ vào xiên cái bánh, kéo ra. Thằng nọ bảo thằng kia. Lại tham, xiên trộm bánh của nó quá nhiều. Nó biết, nó rình bắt trọn tụi con mấy thằng. Nó bắt bố mẹ bọn con phải nộp tiền đền số bánh bọn con lấy trộm. Bọn con lấy 100, nó nói nó mất 200, 300. Chúng nó đòi bao nhiêu, bố mẹ bọn con phải chung tiền trả hết.”

“Con làm công an, bận đồ vàng, chỉ không có súng lục. Thằng bạn con cũng là công an, bận quần áo dân, đem cái xe đạp của con đến bán cho bọn mua xe vỉa hè, thường là bán ở đầu đường Gia Long. Xe bán không giấy tờ gì cả. Thằng bạn con lấy tiền đi rồi, con đến, chỉ cái xe, nói xe này của tôi, mới bị lấy mất ở… Thấy con bận đồ vàng công an, bọn mua xe chịu trả xe ngay: “Xe của anh, anh lấy đi.” Con làm được vài vụ như thế, bọn mua xe chúng nó biết. Hai thằng chúng nó đi theo con đến chỗ đường vắng, chúng nó chặn con lại, chém con. May mà con chạy thoát. Chắc chúng nó chỉ muốn dọạ con, không dám chém thật, vì con là công an.”

Về chuyện “Chăn trâu sướng lắm chứ!” tên con rởm trong tù của tôi kể:

“Bố chẳng biết gì về chuyện chăn trâu cả. Chăn trâu là khổ nhất trần đời. Mùa rét, mưa dầm, gió lạnh, thằng nhỏ chăn trâu chỉ có cái áo tơi lá mặc ngoài, suốt ngày ngoài đồng, bụng đói, thân rét, khát cũng không có nước mà uống. Còn chuyện bắt vịt của người ta mà ăn Bố nói thì lại càng buồn cười. Ðồng quê miền Bắc không có nhiều vịt như ở miền Nam, xong cũng có những đàn vịt thả cho đi kiếm ăn ngoài đồng. Mình bắt vịt của người ta không khó, đào mấy cái hố, đàn vịt đi qua, con nào sa xuống hố là không lên được. Người chăn vịt đâu có biết. Mình bắt được vịt nhưng làm sao mà làm thịt nó? Thịt vịt nấu không chín, tanh lắm.”

Tên con rởm trong tù của tôi nói về chuyện nó bị bắt:

“Bọn con mấy thằng công an định cướp một cái tầu sắt để vượt biên.  Mới lấy được vài người khách thì bị lộ.”

o O o

Quí vị vừa đọc chuyện “Chăn trâu suớng hay khổ,” nay mời quí vị sang chuyện chính của bài Viết ở Rừng Phong hôm nay, bài “Ai bảo Việt Kiều là khổ?”

Nhà Văn Văn Quang bên Ao Sen trong trang viện Lộc Ninh.

Trong bài này – Viết ở Rừng Phong Tháng 10, năm 2009 – quí vị thấy ảnh ông Nhà Văn Văn Quang, tác giả loạt bài “Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự,” ngồi trong Ao Sen của ông trong trang viện của ông ở Lộc Ninh. Tôi gọi nhà ông là Trang Viện vì nhà có vườn, có cây ăn trái, có giếng nước, có ao sen, có máy phát điện. Ông Văn Quang mua khu nhà đất này khoảng năm 2005, khu này ở gần nhà bà Nhà Văn Thụy Vũ. Ông bỏ tiền ra hiện đại hoá nhà này. Nhà có đủ tiện nghi: điện nước, quạt trần, bếp gaz, tủ lạnh, máy lạnh, máy đun nước nóng để tắm, máy bơm nước từ giếng lên, tô-lô-phôn, computer, không thiếu thứ gì. Nhiều ông bạn ông từ Mỹ về, lên thăm trang viện Lộc Ninh của ông, đưa ra nhận xét ông không đi HO sang Mỹ, ông ở lại trong nước là phải, là hay, đời sống của ông ở Sài Gòn đàng hoàng hơn đời sống của những ông bạn sĩ quan, bạn thợ viết của ông ở Mỹ rất nhiều. Sống ở Sài Gòn, ông viết bài gửi sang Mỹ, Úc qua Internet, bài gửi đi nhanh, tiện dụng, báo Việt lấy bài đăng ngay, khỏi sắp chữ, không phải đánh máy lại mất công. Nhiều báo Việt và người Việt ở nước ngoài đăng, đọc  những bài viết về chuyện Sài Gòn và người Sài Gòn của ông Văn Quang.

Ông Văn Quang rất thích trang viện Lộc Ninh của ông nhưng năm 2008 ông phải bán nó vì ông còn một căn nhà ở Cư Xá Nguyễn Thiện Thuật, Sài Gòn. Ông bà lên trang viện sống nhiều lắm là hai, ba tháng lại phải về Sài Gòn sống vài tháng. Trong những tháng về Sài Gòn ấy ông phải muớn người giữ trang viện Lộc Ninh của ông. Người được mướn chỉ giữ nhà thôi, cây trái trong vườn không được chăm sóc. Ông bà có tuổi rồi, đi lại phiền toái dù nay từ Lộc Ninh về Sài Gòn mất có 4 giờ đồng hồ ngồi xe đò 12 chỗ có máy lạnh. Trang viện ra giá 70.000 USD – U Ét Ðê, nôm na là Ðô-la Mỹ – một Việt Kiều ở Úc về chi 70.000 USD mua liền một khi, không trả giá.

Giữa năm 2009, bọn Công An Thành Hồ đến nhà ông Văn Quang ở Cư Xá Nguyễn Thiện Thuật, lấy đi dàn máy computer, phone bàn, phone cell của ông. Chúng không bắt giam ông, chúng chỉ gọi ông đến Công An Quận – không phải Sở – khai về những bài ông viết ra gửi ra nước ngoài. 300 bài Lẩm Cẩm trữ trong máy của ông bị mất. Từ đó loạt bài “Lẩm Cẩm Sài Gòn..” ngừng ngang. Ông nhắn ra nước ngoài cho các bạn ông:

Tôi được người ta dùng Lễ đối xử, tôi muốn dùng Lễ đáp lại..”

Tôi nghĩ ý ông muốn nói bọn Công An tịch thu máy viết của ông, cấm ông viết, chúng không nói ra nhưng em nhỏ lên ba nghe chuyện cũng biết chúng sẽ bắt ông nếu ông cứ viết ra nước ngoài như ông từng viết trong mấy năm. Nhưng chúng không bắt giam ông, không nói nặng, không đe doạ ông, chúng không tịch thu tiền đô của ông, ông muốn các bạn ông ở nước ngoài đừng làm ồn ào vụ ông.

Các ông bạn ông ở Mỹ, Úc tôn trọng ý ông, tất cả Im Re.

World Cup đến, tôi nhớ ông Văn Quang. Ông rất mê đá banh. Ông kể những năm vất vả trong những trại tù khổ sai đất Bắc Cộng khỉ ho, cò gáy, chuột rừng ăn xác tù, tù ăn thằn lằn, rắn mối, chuột, cào cào, châu chấu. ông và các ông bạn sĩ quan mê đá banh vẫn có cách theo dõi được những trận đấu Euro, World Cup ở những vùng trời bên kia trái đất. Ông kể năm 1988 ông về Sài Gòn, căn phòng ông mướn ở đường Sư Vạn Hạnh năm ấy không có TiVi, ông ra quán cà phê gần nhà xem World Cup trên máy của quán. Nhà ông ở có lệ sau 12 giờ đêm là khoá cửa sắt. Nội bất xuất, ngoại bất nhập. Nôm na là sau 12 giờ đêm nhà không ai ra vô. Xem xong trận đấu lúc 2, 3 giờ sáng, ông ngồi lơ mơ ở quán chờ sáng bạch mới về nhà.

Ông Văn Quang không được viết gì về World Cup năm nay, tôi chắc nỗi buồn bực vì không được viết của ông không giảm theo ngày tháng.

Ngày 12 Tháng 6, 2010, từ Sài Gòn, ông Văn Quang gửi bản tin ngắn dưới đây qua Internet. Ðây là bản tin thứ nhất của tác giả Lẩm Cẩm từ ngày ông bị cấm viết:

“Xin tặng quý vị bản theo dõi World Cup rất tiện lợi. Quý vị ở Mẽo chỉ việc thay giờ phía trên cùng. Mỗi khi xem xong trận nào quý vị ghi kết quả vào, bảng sẽ tự động cập nhật để theo dõi xem đội nào nhất nhì, biết ngay đường vào vòng trong.

Bản này tôi lập theo giờ VN và 4 trận hôm 11/6 và 12/6. Vị nào mê đá banh thì làm chơi.

Hai Bàn Cờ.”

CTHÐ: Bà Trần Khải Thanh Thủy bị bắt giam, ông Văn Quang bị cấm viết.

Tôi ấm ức mà tôi không làm gì được

CTHÐ. Rừng Phong, Kỳ Hoa. Ngày 7 Tháng Ba 2011.

Từ sau ngày bị cấm viết ra nước ngoài, ông Nhà Văn Văn Quang không liên lạc gì với tôi như trước nữa. Phone không, I-Meo cũng không. Tôi vừa nhận ké được tấm ảnh của ông  Văn Quang gửi đi từ Sài Gòn, nên hôm nay tôi viết bài này.

Ðây là lời Nhà Văn Văn Quang ghi về tấm ảnh:

March 4, 2011.

“Bữa ăn đầu tiên ở nhà tao từ ngày tao bị làm phiền – (Tháng 6 năm 2009) – đến nay. Tao mới nhờ người biết nhiều về computer mua dùm tao một cái máy printing  có cả scan và copy, khoảng 100 USD. Máy chạy rất tốt và tiện dụng. Tao mời mấy người  tao thường gặp trong tiệm cà-phê đến nhà tao thưởng thức mấy món ăn “gia truyền” của tao.

Từ trái sang phải là Hoàng Khởi Phong – (ở Mẽo về SG sống với con) – Nguyễn Quốc Thái, Quốc Anh – (anh bạn trẻ chuyên viên computer) – Vũ Dũng – (người dịch nhiều sách từ trước 75) – và Nguyễn Khắc Nhân – (cũng ở Mỹ, vợ chết, về SG thuê một căn chung cư gần nhà tao, ở với một em thơm như mít.) HBC.”

o O o

CTHàÐông: HBC là Hai Bàn Cờ, tên Nhà Văn Văn Quang tự nhận. Trong ảnh: người ngồi góc trái của ảnh là Nhà Văn Văn Quang.

Tôi có hân hạnh được quen biết, được nghe nói đến vài ông trong số các ông văn nghệ sĩ trong ảnh. Ông Hoàng Khởi Phong là nhà văn, nhà báo nổi tiếng ở Cali. Ông chạy thoát  truớc Ngày 30 Tháng Tư 1975 nên ông không phải sống qua một ngày tù tội nào trong gông cùm Bắc Cộng, ông tỏ ra ghét nghe ai kể lể về những chuyện người miền Nam bị bọn Bắc Cộng bỏ tù ở quê nhà. Ông không ưa thấy những hồi ký Tù Ðày được xuất bản hay đăng trên những tờ báo Việt ở Mỹ. Mấy năm trước, khi ông Hoạ sĩ Ðằng Giao đem tranh sang bán ở Mỹ, ông HK Phong là nhân viên Nhật báo Người Việt, ông làm cuộc phỏng vấn Hoạ sĩ Ðằng Giao. Vào bài, ông viết ngay:

“Tôi chán nghe những chuyện tù đày của mấy anh rồi. Anh đừng kể chuyện anh bị tù, tôi không nghe đâu.”

Chắc vì muốn có bài giới thiệu trên báo Người Việt, Hoạ sĩ Ðằng Giao nói ngay:

Tôi chỉ kể với anh về việc làm tranh  của tôi thôi.”

Nguyễn Quốc Thái là nhân viên Công Ty Xuất bản-Phát Hành Sách Báo Phương Nam. Nghe nói Phương Nam là Công Ty của Nhà Nước, rất lớn, nhiều phương tiện, nhất là nhiều tiền. Ông Nguyễn Quốc Thái nhiều lần sang Pháp, sang Mỹ vì công việc của Phương Nam.

Ký giả Nguyễn Khắc Nhân chạy được sang Mỹ trước Ngày 30 Tháng Tư 1975. Ông là một trong số mấy ông văn nghệ sĩ Sài Gòn sớm nhất từ Kỳ Hoa về Sài Gòn sau ngày bọn Bắc Cộng phải mở cửa đón khách Việt Kiều mang đô-la về nước. Ông NK Nhân về Sài Gòn lần đầu năm 1990, hay 1991. Năm 1990 tôi vừa từ nhà tù trở về mái nhà xưa. Hoạ sĩ Ðằng Giao chở ông NK Nhân trên Honda ghé nhà tôi cho ông thăm tôi. Ông cho tôi 50 đô. Khi chia tay, ông nói:

“Nhân sẽ về Sài Gòn làm báo.”

Tôi hiểu ý ông muốn nói là “bọn Bắc Cộng sẽ bị mất quyền đảng trị, sẽ phải trả tự do cho nhân dân như ở các nước Ba-lan, Tiệp, Hung.” Khi ấy ông sẽ về Sài Gòn làm báo tư nhân tự do. Năm 1995 tôi gặp lại ông NK Nhân ở Cali, ông làm tờ báo Người Việt San Diego.

Những ngày nhứ lá, tháng như mây…1990 rồi 1995, rồi 2011..Với tôi, ông Ký giả Nguyễn Khắc Nhân là người làm được như lời ông nói. Làm được một nửa cũng là làm được. Năm 1990 trong Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, ký giả Nguyễn Khắc Nhân nói ông sẽ về Sài Gòn; năm 2011 ông đã về sống ở Sài Gòn.

Dường như – tôi viết với sự không dzè dzặt thường lệ – Ông Ký giả Lê Văn Vũ Bắc Tiến là ông “cựu ký giả Sài Gòn thứ nhất” bỏ Kỳ Hoa để về sống và chết ở Sài Gòn, tiếp đó là các ông Tạ Tỵ, Mặc Thu, Khai Trí từ Mỹ về Sài Gòn, ông Thái Tuấn từ Pháp về Sài Gòn. Bốn ông này về nước sống những ngày cuối đời trong êm ả, không gây điều tiếng gì. Chắc còn nhiều ông Việt Kiều bỏ Mỹ về nước để chết ở quê hương mà tôi không được biết.

“Ai bảo Việt Kiều là khổ?” Không thể nói những ông Việt Kiều ở Mỹ về nước sống là khổ được. Xong cũng không thể nói: “Không, Việt Kiều về nước sống sướng lắm chứ.” Phải viết trong số những ông Việt Kiều ở Mỹ về nước sống thơ thới không có những ông HO. Tức không có những ông người Việt bị bọn Bắc Cộng liệt vào loại “ngụy quân, ngụy quyền” và bị chúng bắt đi tù khổ sai trên 3 năm. Những Ông Tù Ngụy này được chính quyền Mỹ nhận là những người “tị nạn chính trị – political refugee,” và đón sang Mỹ. Khi qua 65 tuổi các ông HO được trợ cấp hàng tháng khoản tiền gọi tắt là SSI. Cũng đủ sống thôi nhưng SSI của các ông HO sẽ mất nếu các ông ra khỏi nước Mỹ. Các ông Việt chạy được sang Mỹ sớm, có đi làm, có lương hưu, dù các ông sống ở đâu trên thế giới tiền lương hưu của các ông – gọi tắt là SSA – cũng được gửi đến cho các ông. Các ông Việt HO ở Mỹ có quyền về VN trong 21 ngày. Quá hạn ấy SSI của các ông bị mất, nhưng trở về Mỹ, các ông xin lại, Sở Xã Hội lại cấp SSI cho các ông. Các ông HO chán cuộc sống tha hương ở Kỳ Hoa có thể bỏ Kỳ Hoa về sống luôn ở Sài Gòn với điều kiện con các ông ở Kỳ Hoa mỗi tháng gửi cho các ông 300 USD. Có 300 USD một tháng, ông Việt Kiều HO bỏ Mỹ nào cũng có thể sống ở Sài Gòn như ông Nguyễn Khắc Nhân.

Người Mỹ gốc Việt, người Mỹ gốc Mỹ, có quyền không sống ở Mỹ mà vẫn là công dân Mỹ với điều kiện cứ 5 năm họ phải về Mỹ sống vài tháng. Những ông Việt HO có quốc tịch Mỹ có thể về Sài Gòn sống vài năm, khi  chán Sài Gòn các ông lại về Mỹ.

Các ông Việt Tù từ Sài Gòn đi sang Mỹ, trở thành Việt Kiều HO các ông từ Mỹ đi về Sài Gòn, rồi các ông từ Sài Gòn đi về Mỹ. Những ông Việt Kiều HO hay Không HO có “một lần đi, có năm, bẩy lần về.”

Những ông Việt Kiều như ông Hoàng Khởi Phong, ông Nguyễn Khắc Nhân là những ông Việt Kiều “đẻ bọc điều.”

Viết đến đây tôi mất hứng. Xin tạm chấm dzứt Chương Trình Văn Nghệ Tạp Lục của Ban Tùm Lum.

Advertisements

13 Responses

  1. ” Ai bảo chăn trâu là khổ” của thời còn nhỏ có ý nghĩa an bình, yên phận, hàm một chút tư tưởng hạnh phúc trong đó. Thời Pháp thuộc, ông nào chọn bài này hẳn muốn gieo vào đầu óc trẻ con Việt Nam cái tư tưởng ” chăn trâu là đệ nhất sướng” ( sau chọi trâu, đá gà, ..). Nông dân thuở đó chắc chưa biết xóc đĩa, cô đầu, cờ bịch hay hít -tô-phe! Và như vậy thì không có tư tưỏng chống ngoại xâm, ” Pháp-lang-sa vạn tuế”…

    “Ai bảo Việt Kiều là khổ” của Hoàng Huynh thì có hàm ý miệt thị, chê trách, từ những ông may mắn chạy thoát trước 30/4 nay lại trở về thăm (!) quê hương, hái đào, bẻ mận, đến một ông bạn già yên phận HBC ( Hai Bàn Cờ/ Hai Ba Cân(t)-tiếng Mỹ có xì ỏ sau cuối…). So sánh giữa Một Lằn Hát Ka Gió với ông Thuyền Trưởng Ba Lằn thì ông TT Ba L. còn khá hơn nhiều lắm, được hưởng quyền giảm khinh, miễn tố. Còn ông già bên phải tấm hình ( đẻ bọc điều 2e), xin đọc câu cuối trong bài ” Dắt trâu ra đồng cho nó ăn cỏ” thành ” Trâu già về quê hương ăn cỏ non”… Viết đến đây đệ cũng bị ” mất hứng”, xin cám ơn Hoàng huynh và quý vị bạn văn 4 phương…

  2. Kính mời quý Ông, Bà đọc bản tin sau đây cũng nói tới Việt kiều vậy.

    “Phát huy sáng kiến”: Lao động Việt Nam ăn thịt chó sa mạc Libya

    Để sống sót trên sa mạc Libya, nhiều lao động Việt Nam phải chiến đấu với trộm cướp và bắt chó sa mạc làm thịt ăn…

    Trên đường chạy loạn qua sa mạc, để vượt biên giới Libya đến sân bay Djerba (Tunisia) nhóm lao động Việt Nam hò nhau vây bắt nhiều chó hoang làm thức ăn. Những chú chó lang thang vốn không thể chạy nhanh trên cát bị dân lao động bố trí chặn các ngả và cầm gạch đá ném chết.

    Người tị nạn ở biên giới Tunisia – Libya.

    Trong khi nhiều nhóm lao động khác đói ăn, thì những công nhân người Việt này xì xụp mì tôm với xáo thịt chó. Những chú chó bắt được trong hành trình chạy loạn còn được luộc chín và tích trữ cho tới khi về sân bay Djerba.

    (Theo baodatviet.com, cập nhật lúc 10 PM, 16/03/2011)

    Cháu công nhận, cộng sản huấn luyện dân ta giỏi ghê.

  3. Cam on HoangCongTu qua bai viet nay cung nhu bai viet truoc day https://hoanghaithuy.wordpress.com/2008/01/16/chay-tron-to-quoc/
    de thay ro duoc bon chay tron to quoc

  4. Em đề nghị bác thằng hề bớt bớt bê nguyên bài từ nơi khác về được không ạ? Ý kiến ý cò của bác thì mọi người rất là hoan nghênh nhưng mà bài nào ở chỗ khác dài quá thì bác cứ để link lại là đủ.

    Em xin hết.

    • Cám ơn bacthan đã nói hộ.

    • Dạ thưa bác bacthan.

      Thưa bác, nếu bác không ưng ý những việc con làm trong thời gian qua, con xin chấm dứt .

      Thiệt tâm con chỉ muốn quý bác ở trong diễn đàn vui thôi, con còn nhỏ không dám nói leo gì hết.

      Hôm qua con đã reply rồi, nhưng đến trưa nay con không thấy nên con viết lại.

      Con kính chào bác.

  5. Em thấy tức cười ở chỗ ông Nguyễn Khắc Nhân nhìn già như ông ngoại của Gandhi thế kia mà cũng dzớt được một em thơm như mít thì đúng là chuyện quá ư thiên đường.

    Tự nhiên em thấy yêu đời và tự tin làm sao.

    • Không biết là ở thiên đường hay địa ngục đấy bác Bacthan ơi…

      Khi tuổi đời đã bắt đầu xế bóng , bút đã hết mực rồi thì dù cho có Hằng Nga hay tiên nữ nằm kề thì cũng nhìn thoáng qua, ngậm ngùi nhớ những ngày xưa vang bóng rồi…quay mặt vào tường…để ngủ tiếp.

      • Bác bảo thế chứ thật ra chẳng phải ai cũng thế đâu. Cứ nhìn khứa lão Phạm Duy thì biết !

  6. Trong lịch sử VN có hai vị xuất thân từ “nghề“ chăn trâu mà sau này lập nên nghiệp lớn, lưu danh thiên cổ.

    Người thứ nhất là Đinh Bộ Lĩnh, con nhà dòng dõi nhưng bố mất sớm, theo mẹ về quê, chăn trâu kiếm sống qua ngày, nuôi chí lớn. Sau theo phò sứ quân Trần Minh Công, dẹp xong loạn 12 sứ quân, lên ngôi vua, vương hiệu Đinh Tiên Hoàng.

    Người thứ hai là ông Đào Duy Từ (ĐDT) thủa nhỏ rất thông minh và học giỏi nhưng chẳng có mảnh bằng nào lận lưng vì một lý do rất đơn giản là bị cấm thi … suốt đời. Không phải vì gian lận thi cử chi cả, mà chỉ vì có bố mẹ làm đào kép cải lương, thời bấy giờ bị xem là xướng ca vô loài, thân phận gốc gác hèn kém. Uất ức, ĐDT vượt biên từ đàng ngoài (chúa Trịnh) vào đàng trong (chúa Nguyễn). Không hộ chiếu, chứng minh nhân dân cũng không nốt, ĐDT phải xin vào làm thuê ở một nhà phú hào, sáng dắt trâu ra đồng, tối mở sách học thêm chữ “Trung”. Sau khi “dùi” thủng vài chục bộ kinh và “mài” mòn vài trăm cuốn sử, ĐDT được một vị quan lớn trong triều mến tài tiến cử lên chúa Sãi, giúp chúa Nguyễn thắng quân Trịnh nhiều trận lớn, lập nhiều công trạng, hiện còn một di tích là “lũy Thầy” ở tỉnh Quảng Bình.

    Trong lịch sử lưu vong VN cũng có hai vị, xuất thân là Việt kiều, sau đó vì chẳng làm nên trò trống gì ở hải ngoại, bèn hèn hạ xin xỏ tà quyền về cố quốc, lưu (xú) danh muôn thưở. Một vị là Phạm Duy Vật, còn vị kia là Nguyễn Con Cầy.

    Phạm Duy Vật, trước khi đổi tên, có làm được một số bài nhạc nghe rất khá, trong đó có bài Bà Mẹ Quê và Em Bé Quê (cũng là bài “Ai Bảo Chăn Trâu Là Khổ”) rất được tán thưởng. Sau khi về nước, Phạm Duy Vật tức cảnh sinh tình sáng tác thêm bản Anh Việt Kiều (Về) Quê cho đủ bộ ba với hai bài Bà Mẹ Quê và Em Bé Quê. Bản Anh Việt Kiều (Về) Quê này dĩ nhiên là được làm ra theo đơn đặt hàng và để tặng riêng cho Việt kiều, chỉ có lời ca hơi khác với bản Em Bé Quê, còn nhạc thì y chang, cứ hát theo điệu nhạc bản Em Bé Quê là trúng phóc. Nghe một số Việt kiều về nước kể lại thì bản Anh Việt Kiều (Về) Quê này đã được nhiều việt kiều và việt kiều dzởm Hoàng Khởi Phong nghêu ngao hát suốt ngày ở mấy quán bia ôm.

    Ai bảo Việt kiều là khổ
    Việt kiều sướng lắm chứ
    Ngồi bên em, tay khều vai em
    Và chân ngoéo chân em
    Dzô hết đêm nay là ngưng
    Rồi ngày mai … dzô tiếp
    Ước mong sao em sỉn cho nhanh
    Anh sẽ mọc râu xanh!!

  7. Thân chào Đại Sư Ca CTHĐ và các bạn.
    Lâu rồi,tôi không có ý kiến ý cò gì,nhưng vẫn đọc các bạn hàng ngày …
    Hôm nay lời bài hát “…Việt kiều khổ” của bác Nam Phục làm tôi “buồn” cười quá.Nếu bác thuộc cả bài làm ơn…gõ chia xẽ với anh em….Thank !
    Kính chúc Đại Sư Ca CTHĐ cùng quý quyến vạn an.
    ……

  8. Chào bác Dũng Nguyễn,

    Tôi có chuyển lời nhắn của bác, nhờ đồng bào trong nước chép nốt phần cuối lời ca bài Anh Kiều Quê của nhạc sĩ Duy Vật gửi sang cho bác. Nhưng họ cho biết từ ngày xuôi Thuyền Viễn Xứ quy cố hương, nguồn cảm hứng của nhạc sĩ dường như đã tịt ngòi, nhạc sĩ chẳng sáng tác được bản nhạc nào ra hồn, nếu có cũng chỉ là thêm bớt lời ca trên những bản nhạc cũ, để vừa hát vừa riễu thôi!!

    Nghe đồng bào kể thêm, trong mấy năm đầu sau khi về nước, nhạc sĩ có làm hai shows ca nhạc mang chủ đề Ngày Bò (Trở) Về và Con Đường Mòn (Tình) Ta Đi rất thành công, hốt cả tỉ tiền hồ. Xung lên, mới năm ngoái thôi, nhạc sĩ làm một quả để đời, chi vài trăm triệu quảng cáo rầm rộ cho show ca nhạc mới, chơi đẹp trả trước tiền thuê nhà hát thành phố với sức chứa gấp chục lần hai chỗ cũ. Có lẽ thánh đãi, cả chục ngàn vé bán hết sạch trong hai ngày đầu khiến nhạc sĩ sướng mê đi!! Đúng ngày trình diễn, công an thành phố đến cho nhạc sĩ biết có hai bài hát trong chương trình ca nhạc bị ty “văn hóa” cấm không cho phổ biến, giấy phép tổ chức ca nhạc coi như vô hiệu lực, phải … giải tán!! Nhạc sĩ nghe xong rụng rời, ngất xỉu tại chỗ … bao nhiêu vốn liếng đã đổ cả vào đấy!!

    Cũng nghe đồng bào kể tiếp, bị vố đó nhạc sĩ hận mấy chú công an lắm, hận lây cả bác hồ, hận sang luôn mấy cháu gái ngoan của bác hồ. Nhạc sĩ tự thán trong đời có hai lần ngu, hồi còn bé không hiểu biết gì đã theo việt minh kháng chiến chống Tây ngu đã đành, bây giờ sắp đến tuổi về quê, đầu đã có vài cục sạn, ngu nhất là bỏ Mỹ về với việt cộng!! Gần đây, đồng bào có chuyện đi ngang nhà nhạc sĩ thường nghe từ trong nhà vọng ra tiếng đàn hát bản Ca-li (Nha Trang) Ngày Về!! Show mới nhất?

  9. Bác ơi, bác viết hay quá , dí dỏm quá . Đọc xong thấy đủ phần ” lý lịch trích ngang” của nhà đại nhạc sĩ Duy Vật .

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: