• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Ðêm 9, Tháng Ba, 1945


Quân Nhật năm 1940 – có thể – là quân đội duy nhất trên thế giới hành quân bằng xe đạp. Hình năm 1940, không biết  đây là thành phố nào? Một thành phố ở Ðông Dương, hay ở Nam Dương, Phi-luật-tân, Singapore. Năm 1940 Nhật sản xuất những kiểu xe đạp khá đẹp, nhiều xe đạp Nhật hiệu Rota được đưa sang Sài Gòn, Hà Nội. Năm nay – 2011 – chắc chỉ có những Khưá Lão Việt Tám Bó mới nhớ đã từng nhìn thấy quân Nhật vào thành phố, những sĩ quan Nhật mang trường kiếm, những lính Nhật mang khẩu trang che bụi. Năm ấy người Việt lần đầu trông thấy cái gọi là “khẩu trang,” người Việt không biết tại sao lính Nhật lại mang những miếng vải trắng che mũi, che miệng.

o O o

Rừng Phong Ngày 9 Tháng Ba năm 2011, viết về Ðêm  9 Tháng Ba năm 1945 ở quê hương. Rất nhiều người Việt không biết Ðêm 9 Tháng Ba năm 1945 có sự kiên gì xẩy đến với đất nước, nhiều người Việt trên 80 tuổi không nhớ Ðêm  9 Tháng Ba 1945.

20 NĂM QUA. Tác giả Ðoàn Thêm. Trích:

1-1-1945 ( Ngày 18 Tháng 11 Giáp Thân )

Nhân dịp năm mới, Ðề đốc Jean Decoux, Toàn Quyền Ðông Dương, gửi thông điệp phát thanh cho dân chúng, quả quyết Ðông Dương vẫn sẽ thuiộc Ðế Quốc Pháp.

12- 1- 1945. Hai phi cơ Mỹ ném bom Sài Gòn, bị bắn rớt.

– Chiến hạm Lamotte-Picquet của Pháp bị phi cơ Mỹ đánh chìm.

–  Các Tri huyện mới khoá 1944, được Decoux phát bằng ở Hà Nội.(1)

20-1-1945. Những tác phẩm sau được Giải Văn Chương 1944. Giải Gia Long: Nhà Nho của Chu Thiên, Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân, Bệnh Ho Lao của Lê Văn Ngôn, Lều Chõng của Ngô Tất Tố, Ðời Sống Tinh Thần của Thiếu Sơn, Cư kỉnh của Hồ Biểu Chánh. Giải Alexadre de Rhodes: Thơ Pháp vần Nam của Phan Văn Chi, Pétain Cách ngôn, Á Ðông Triết lý của Ðặng Thúc Liêng và Hồ Ðắc Trung (cuốn này được Giải Khuyến Khích 200 $.) ( 2 )

– Quân Ðức và quân Hung đầu hàng Ðồng Minh ở Hung-gia-lợi.

7-2-1945. Nam Vang bị phi cơ Mỹ oanh tạc: 100 người chết, 300 người bị thương. Sài Gòn-Chợ Lớn cũng bị Mỹ  ném bom: 151 người chết, trong số có 31 người Âu, 54 người bị thương, trong số 6 người Âu. ( 3 )

– Quân Mỹ tiến vào Manille, kích chiến với quân Nhật trong thành phố.

10-2-1945. Dân chúng Hà Nội vẫn sửa soạn ăn Tết như thường lệ, Nhà nhiếp ảnh Võ An Ninh vẫn chụp ảnh người đẹp dưới hoa đào. Ở Huế, Nhà văn Nguyễn Tiến Lãng vừa cho tái bản lần thứ ba cuốn “Ðông Dương Lành: Indochine La Douce,” và dịch mấy bài thơ Xuân cổ ra văn Pháp đăng trong Tạp chí Indochine.

– Ðọc trong Tạp chí Tân Á số Tết, phát hành ở Sài Gòn, bài Thơ Thiệp Xuân trong có câu:

Một khi Tân Á dựng nên toà,
Mỹ Anh kình bóng, nhà nhà hoan hô.

13-2-1945. Tết Nguyên Ðán Ất Dậu.

Chưa bao giờ rét lạnh đến như thế này. Buổi trưa ở Hà Nội, hàn thử biểu xuống đến 4 độ.

28-2-1945. Họa sĩ Mạnh Quỳnh trưng bày trang bình dân tại Phòng Thông Tin Hà Nội.

1-3-1945. Nhiều người chết đói quá. Tại miền duyên hải Bắc kỳ, nhiều nơi người chết đói cả nhà, cả xóm, hay chết gần hết cả làng. Dân quê đói ăn kéo về các thành phố, mong kiếm được cái ăn. Xác người chết nằm đầy đường ở Hà Nội.

5-3-1945. Theo yêu cầu của quân Nhật, Decoux phải suy73a lại Thỏa Ước Pháp-Nhật 1941, tăng số gạo Pháp phải nộp cho Nhật năm 1945. ( 4 )

7 – 3 – 1945. Toàn quyền Decoux mở tiệc tiếp tân thân mật Ðại sứ Matsumoto và các tướng lãnh Nhật.

9 – 3 – 1945. Ðại sứ Nhật Matsumoto, lúc 18 giờ, đòi Toàn Quyền Decoux cam kết chống Ðồng Minh; nếu quân Anh Mỹ đổ bộ vào Ðông Dương, Decoux phải đặt tất cả quân đội Pháp và công sở Pháp dưới quyền chỉ huy của Tổng Tư Lệnh Quân Ðội Nhật. Ðại sứ Nhật cho Toàn quyền Decoux 2 giờ đồng hồ để trả lời yêu cầu này.

– Toàn Quyền Decoux từ chối lời yêu cầu của Nhật vào lúc 21 giờ. Quân Nhật chiếm Dinh Norodom – ( Dinh Ðộc Lập thời Quốc Gia VNCH ) – giam giữ Toàn Quyền Decoux trong Dinh.- Từ lúc – 20 giờ, quân Nhật nổ súng tấn công quân Pháp ở Sài Gòn, Hà Nội và ở khắp nơi  trên xứ Ðông Dương. Nhiều nơi quân Pháp đầu hàng ngay. Nội trong Ðêm 9 Tháng Ba, 1945, quân Nhật làm chủ toàn cõi Ðông Dương. Các viên chức cao cấp Pháp đều bị Nhật bắt giam.

10 – 3 – 1945. Nhật hạ lệnh thiết quân luật toàn cõi Ðông Dương. Bộ Tư Lệnh Quân Ðội Nhật ra thông cáo tuyên bố Nhật chỉ hạ Pháp, Nhật ủng hộ cuộc tranh đấu giành độc lập của các dân tộc Ðông Dương.

Chánh phủ Nhật ra tuyên bố : phải lật đổ chính quyền Pháp ở Ðông Dương vì chính quyền Pháp đã vi phạm các hiệp ước Nhật-Pháp. Nhật sẽ giúp Việt Nam và các xứ ở Ðông Dương thực hiện Ðộc Lập.

Tạp Chí Tân Á, Số 63, đăng bản Tuyên Bố của ông Hồ Nhựt Tân, Ðảng trưởng Ðảng Việt Nam Ái Quốc. Trong bản Tuyên Bố có đoạn:

“Trong vùng Ðại Ðông Á mênh mông bát ngát, dưới ánh sáng lãnh đạo rực rỡ, chói lọi của nước Ðại Nippon. Dân tộc Việt Nam vốn có đầy đủ năng lực nên có hy vọng kiến thiết được một quốc gia theo quy tắc công bằng và tự do.” ( 5 )

11 – 3 – 1945. Viện Cơ Mật Triều Ðình Huế tuyên bố: “Bãi bỏ Hiệp Ước Bảo Hộ 1884, Việt Nam khôi phục chủ quyền.”

17 – 3 – 1945. Vua Bảo Ðại tuyên chiếu: Vua đích thân cầm quyền theo nguyên tắc “Dân vi quý,” chính quyền sẽ chỉnh đốn lại quốc gia.

– Ðại sứ Nhật Yokoyama được cử làm Quyền Khâm Sứ, thay thế Khâm Sứ Pháp tại Huế.

18 – 3 – 1945. Biểu tình lớn tại Sài Gòn để mừng Quốc gia độc lập, cám ơn quân Nhật và đón rước di hài Nhà Cách Mạng Dương Bá Trạc đưa từ  Chiêu Nam (Singapore) về nước.

17 – 4 – 1945. Vua Bảo Ðại ủy Học giả Trần Trọng Kim lập chính phủ, cử Tổng Ðốc Phan Kế Toại làm Khâm Sai Bắc Hà, chính khách Nguyễn Văn Sâm làm Khâm Sai Nam Bộ, Bác sĩ Trần Văn Lai làm Ðốc Lý Hà Nội.

Thánh phần chính phủ Trần Trọng Kim:

Tổng Lý Nội Các  :           Trần Trọng Kim

Bộ Trưởng Ngoại Giao:    Trần Văn Chương

–       Tiếp Tế:          Nguyễn Hữu Thi

–       Thanh Niên:    Phan Anh

–       Tài Chính:      Vũ Văn Hiền

–       Nội Vụ:           Trần Ðình Nam

–       Y Tế-Cứu Trợ:   Vũ Ngọc Anhï

–        Tư Pháp:        Trịnh Ðình Thảo

–       Kinh Tế:          Hồ Tá Khanh

–       Giáo Dục:       Hoàng Xuân Hãn

–       Công Chánh:     Lưu Văn Lang.

5 – 5 – 1945: Khâm Sai Bắc Bộ Phan Kế Toại mặc áo gấm đến tựu chức ở Phủ Thống Sứ Phàp cũ ở Hà Nội, được một số dân chúng đón tiếp.( 6 )

– Tới hôm nay đồng bào Nam Bộ đã gửi ra trợ giúp đồng bào Bắc Bộ bị đói số tiền quyên là 165.150$, 11 ghe gạo tổng cộng 133 tấn gạo.

7 – 5 – 1945. Toàn Quyền Decoux bị Nhật đem giam  ở một đồn điền cao-su ở Lộc Ninh.

8 – 5 – 1945. Chính phủ Trần Trọng Kim công bố chương trình hưng quốc. “Cờ Quẻ Ly” được chính phủ chọn làm quốc kỳ, bản nhạc “Ðăng Ðàn” của triều đình Huế được chon làm quốc thiều.

24 – 5 – 1945. Minoda, Quyền Thống Ðốc Nhật  ở Nam Bộ, ký nghị định hạ tiền thuế thân: 4$50 cho người Việt vô sản, 5$50 cho người Việt hữu sản thy vì từ 7$50 trở lên, tiền thuế của Hoa kiều là 12$ thay vì 25$ như trước.

11 – 6 – 1945. Bộ Trưởng Phan Anh kêu gọi thanh niên biểu tình trước Nhà Hát Lớn Hà Nội. Mỗi đoàn mang một thứ cờ riêng. Có 14 lá cờ lớn nền vàng với một dọc đỏ khá lớn ở giữa.

20 – 6 – 1945. Vua Bảo Ðại ra Dụ phục hồi công quyền cho càc cựu chính trị phạm chưa được miễn tội danh.( 7 )

– Quyền Thống Ðốc Minoda ấn định giá lúa là 9$ một tạ 60 kí không bao, đê xay thành gạo Số 1 với 25% tấm. ( 8 )

3 – 7 – 1945. Quyền Thống Ðốc Nam Bộ Minoda thành lập một “Hội Nghị Nam Kỳ” với nhiệm vụ tư vấn. Hội viên được chỉ định: Ký giả Trần Văn Ân, Nha sĩ Nguyễn Văn Bái, Kỹ sư Lưu Văn Lang, Giáo sư Hồ Văn Ngà, Kỹ nghệ gia Kha Văn Cận.

23 – 7 – 1945. Bác sĩ Vũ Ngọc Ánh, Bộ Trưởng Bộ Y Tế, bị phi cơ Mỹ bắn chết trong xe ô-tô trên đường Hà Nội-Hải Phòng.

1 – 8 – 1945. Ðốc Lý Hà Nội Trần Văn Lai cho phá những bức tượng người Pháp dựng trong thành phố Hà Nội: Tượng Paul Bert, tượng Jean Dupuis, tượng Bà Ðầm Xoè ở Cửa Nam, Ðài Kỷ Niệm Lính Khố Xanh, Khố Ðỏ.

7 – 8 – 1945. Thủ Tướng Trần Trọng Kim từ chức nhưng được lưu xử lý thường vụ.

22 – 8 – 1945. Vua Bảo Ðại tuyên chiếu thoái vị.

Mặt Trận Việt Minh chiếm chính quyền.

Ngưng trích Hai Mươi Năm Qua.

Tượng giống Tượng Nữ Thần Tự Do – ở cửa biển New York – được người Pháp đưa đến đăït ở Hà Nội năm 1920. Thành phố Sài Gòn không có Tượng này. Chắc vì không ưa tiếng “Liberté” nên tấm ảnh carte-postale này ghi tên Tượng là “ Monument de la Justice: Tượng Công Lý.” Tượng bà Ðầm bận cái váy rộng xoè ra nên dân Hà Nội gọi là Tượng Bà Ðầm Xoè.Tượng bị phá năm 1945.

CTHàÐông:  Theo tôi có hai nhân vật dân sự có danh tiếng, chính tích và trách nhiệm nhất trong cuộc biển dâu Ðêm 9 Tháng Ba 1945 là ông Phạm Quỳnh và ông Trần Trọng Kim.

Việt Minh cướp quyền ở Huế, theo lệnh của Trùm Ðao Phủ Hồ Chí Minh, chúng bắt giam và giết ngay ông Phạm Quỳnh, Thượng Thư Bộ Lại triều đình Huế, ông Trần Trọng Kim, vị Thủ Tướng Thứ Nhất của Quốc Gia Việt Nam thoát chết. Người chứng kiến cuộc quân biến trong triều đình Huế Ðêm 9 Tháng Ba 1945 là ông Thượng Thư Phạm Quỳnh.

Năm 1945 ông Phạm Quỳnh là Thượng Thư Bộ Lại, chức vụ như Thủ Tướng, trong chính phủ Nam triều ở Huế. Tháng Ba năm 1945 Nhật đánh Pháp, nắm trọn quyền hành ở Ðông Dương, đưa ông Trần Trọng Kim từ Tân-gia-ba về nước lập chính phủ mới. Ông Bảo Ðại giải tán liền một khi toàn thể cái gọi là “nội các” của ông. Thượng Thư Phạm Quỳnh hết còn là Thượng Thư, ông không về Hà Nội, ông vẫn sống trong nhà riêng của  ông ở Huế. Tháng Tám năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền. Ông Phạm Quỳnh bị Việt Minh bắt, giam ít ngày rồi đang đêm đưa đi đập vỡ sọ chết, ông bị giết cùng với ông Ngô Ðình Khôi và người con của ông Khôi là ông Ngô Ðình Huân. Xác ba ông bị bọn Việt Minh chuyên viên giết người Việt chôn chung một hố ở một vùng giữa Huế và Quảng Trị. Mãi đến năm 1956 sau khi ông Ngô Ðình Diệm lên làm Tổng Thống, cho người tìm xác ông Ngô Ðình Khôi, mới tìm ra nơi Việt Minh chôn ông Ngô Ðình Khôi và nhân đó tìm ra xác ông Phạm Quỳnh.

Vừa cướp được chính quyền, Việt Minh giết ngay một số quan lại, chúng giết ông Ngô Ðình Khôi, ông Phạm Quỳnh ở Huế, giết ông Nguyễn Bá Trác, tác giả bài thơ Hồ Trường, ở Bình Ðịnh, giết ông Cung Ðình Vận ở Bắc kỳ. Khi ấy Việt Minh còn giết nhiều nhân vật có tiếng, có quyền nữa mà tôi không biết. Ðấy là chính sách của Việt Minh, do chính Hồ Chí Minh ra lệnh. Chúng giết những vị quan lại đó để trấn áp giới quan lại, bao nhiêu Tổng đốc, Tuần phủ, Án sát từng oai vệ một thời đến lúc đó đều im re, nín thở, không ông nào dám cục cựa, ông nào cũng chỉ mong Việt Minh nó không lôi mình ra nó xử, các ông được nó để cho sống là phúc rồi.

Ðêm 9 Tháng 3, 1945, cùng trong một giờ, quân Nhật tấn công quân Pháp ở khắp nơi trên đất Việt Nam: Sài Gòn, Huế, Hà Nội. Ở Huế súng nổ lúc 9 giò tối, khi ấy ông Phạm Quỳnh đang ở trong văn phòng Bộ Lại của ông, ông chứng kiến toàn cảnh trận quân Nhật tấn công quân Pháp ở Huế. Sau đó, khi không còn là Thượng Thư nữa, ông viết bài hồi ký dưới đây. Ðọc bài viết của ông ta sẽ thấy tình trạng cái gọi là chính quyền Nam triều của ông Bảo Ðại – đúng ra là Bại Ðảo – Tháng Ba năm 1945 tệ mạt đến như thế nào.

GIẢI OAN LẬP MỘT ÐÀN TRÀNG. Tuyển tập. Tâm Nguyện xuất bản năm 2001 ở Hoa Kỳ. CHUYỆN MỘT ÐÊM MỘT NGÀY.( Ðêm  9- Ngày 10 Tháng 3 năm 1945)

Người viết PHẠM QUỲNH. Trích:

Bấy giờ vào khoảng 9 giờ tối. Dùng cơm tối xong, tôi đang ngồi trong tư thất Bộ Lại, nói chuyện với con trai tôi là Phạm Bích. Bấy giờ nghe tiếng súng nổ lung tung. Ra sân thì trông thấy đèn chiếu lấp loáng ở bên kia sông, và tiếng nổ là tiếng súng liên thanh như tiếng pháo, khi ở phía trên, khi ở phía dưới.

Ðương phân vân chưa hiểu chuyện gì thì  thấy quan Ðề Ðốc Hộ Thành Phan Gia Trung chạy vào Bộ. Ông nói:

“Có biến to. Nghe đâu lính khố đỏ phản lại Tây, đương đánh nhau dữ. Xin cho đóng các cửa thành.”

Tôi cũng hối ông truyền cho lính đóng chặt các cửa thành, nội bất xuất, ngoại bất nhập.

Khi bấy giờ đứng ở thềm Bộ Lại, ông Ðề với tôi cùng sực nhớ Hoàng Ðế và Hoàng Hậu ngự ra Quảng Trị đã mấy bữa nay, có lẽ chiều nay hay sáng mai về kinh, nhưng chưa biết hiện giờ đã hồi loan chưa. Vì những khi các ngài ngự vi hành như thế này, thì chỉ lính canh trong Ðại Nội và viên Võ Hộ Giá Tây mới biết rõ giờ đi, giờ về mà thôi. Tôi nói với ông Ðề:

“Thôi, quan lớn cứ đốc xuất việc cấm phòng trong thành cho cẩn mật. Ðể tôi vô Nội, nếu Ngài đã hồi loan thì tôi chầu Ngài, nếu chưa thì tôi sẽ tìm Quan Ba Bon để hỏi.”

Ông Ðề cũng nói:

“Phải đấy, cụ nên vô Nội để chầu các Ngài là phải.”

Bấy giờ, trời tối đen và hơi mưa phùn, ông Ðề lại nói:

“Ðã sẵn cái xe tay kéo tôi đây, cụ lên xe mà đi cho mau.”

Tôi khoác cái “măng-tô”, rồi lên xe đi, con trai tôi và một anh lính đạp xe đạp theo sau. Ðến cửa Hòa Bình, tôi gõ cửa hỏi  Ngài đã hồi loan chưa, thì cửa đóng kín mít, không tiếng trả lời: có lẽ lính canh đứng trong xa không nghe tiếng, cũng có lẽ lính canh nghe tiếng hỏi  mà đương lúc lộn xộn  không biết ai hỏi nên không dám thưa.

Tôi liền bảo xe kéo tôi vào nhà Quan Ba Võ-hộ-giá. Bấy giờ đêm lại càng tối, không trông thấy gì cả. Vào đến  cổng nhà quan Ba thấy nhà tối mịt, không đèn lửa gì. Ðứng trong vườn rộng, con tôi và anh lính phải hết sức lên tiếng gọi bồi, hỏi quan Ba có nhà không đến mười phút, không thấy tiếng người, đã toan quay xe ra, mới thấy trong nhà bật đèn.

Chúng tôi đi vào, bồi ra mở cửa, hỏi thì nói quan Ba còn đương ngủ, để vào đánh thức. Ðợi năm phút mới thấy ông Bon chạy ra, như còn mơ ngủ, chưa hiểu chuyện gì. Hỏi có nghe tiếng súng không, thì ông nói:

“Có lẽ lại báo động giả, chứ gì!”

Sau nghe kỹ, ông mới hiểu là có chuyện biến. Tôi hỏi:

“Ông có biết bao giờ Ngài ngự về? Hiện đã dời Quảng Trị chưa? Hồi loan đêm  nay hay ngày mai?”

Ông mơ hồ không biết chi cả. Tôi dục ông phải gấp  thông tin tới Quảng Trị để biết Ngài Ngự hiện ở đâu. Bấy giờ xem ra ông cũng hơi hoảng, ông bàn với tôi nên vô Nội để sẽ liệu.

Rồi mấy người cùng đi ra, đêm càng khuya càng tối và tiếng súng vẫn lác đác bốn phương. Ông Bon thuộc đường đi trước, chúng tôi đi theo sau. Ra khỏi vườn được một  quãng  thì nghe trong đêm tối có tiếng người và tiếng gươm súng đụng chạm. Rồi có tiếng hỏi:

“Có phải Quan Ba Bon đó không?”

Thì ra có toán Hiến Binh Nhật Bản đang đi vào nhà ông Bon để tìm bắt ông. Rồi họ thấy chúng tôi đi cùng ông Bon, họ cũng giữ  chúng tôi luôn. Bấy giờ có người thông ngôn Việt Nam đi theo, nói tiếng ta với tôi :

“Hiện quân Nhật đang giải võ quân Pháp, vì có việc lôi thôi giữa quân Nhật và quan Toàn Quyền Decoux. Nhưng không việc gì đến người Việt Nam ta. Chỉ sáng mai là xong chuyện cả.”

Rồi nghe tiếng người hỏi:

“Nhà ông Vĩnh Cẩn ở đâu?”

Nhà ông Vĩnh Cẩn cũng ở gần ngay đấy, cả đoàn kéo đến. Quân Nhật xô cửa vào, mấy người tiến lên lầu, mấy người đứng bên dưới. Tôi ngồi với ông Bon ở nhà dưới. Ðược một lát thì có người hạ sĩ quan Nhật đưa cho tôi xem một tờ giấy vừa chữ ta vừa chữ Tây, đại khái cũng nói như lời người thông ngôn nói khi hồi, rồi họ mời tôi lên lầu, giao ông Bon cho lính canh ở dưới. Lên lầu tôi thấy ông bà Vĩnh Cẩn ngồi cả đấy. Một lát  ông Ðề đốc Hộ thành cũng đến. Có viên quan Nhật Bản ngồi nói chuyện. Tôi thấy mệt vào nằm nghỉ ở một gian phòng cạnh đấy, vừa chợp mắt thì thấy tiếng người: Nhìn ra thì có quan Phó Lãnh sự Ishida, tôi đã quen biết, đi với một vị võ quan nữa. Ông bắt tay chào tôi, mời ra ngoài nói chuyện, rồi giới thiệu tôi  với  quan Ðội trưởng Hiến Binh là Ðại úy Sơn Dã. Ông Ishida nói:

“Chúng tôi có vào tìm cụ, ở Bộ Lại không thấy. Có vào cả các bộ khác, để tìm các cụ, có cụ ở Bộ, cũng có cụ đi khỏi. Chúng tôi muốn nói rõ cho các cụ biết đầu đuôi việc xẩy ra như thế, và xin cứ yên tâm, quân đội sẽ bảo đảm châu đáo.”

Ông lại nói:

“Hiện khởi sự ở toàn cõi Ðông Dương, ở Sài Gòn, Hà Nội cũng cùng một giờ này, và có lẽ hiện đã xong rồi.”

Rồi ông hỏi tin tức về Hoàng Ðế. Hai ông bàn với nhau bằng tiếng Nhật hồi lâu, rồi nói lại với tôi rằng:

“Bây giờ đã khuya rồi, cụ cứ nghỉ lại đây, đừng đi về Bộ vội, vì còn tiếng súng bắn, đi đường có nguy hiểm. Sáng sớm mai, chúng tôi sẽ lại đây, rồi cụ cùng đi với chúng tôi ra Quảng Trị để rước Ngài về.”

Hai ông ra về, tôi đi nghỉ. Sáng hôm sau chủ nhật, tôi vừa khăn áo ngồi đợi, thì hai ông tới. Ông Ishida nói:

“Vừa có tin, Hoàng Ðế và Hoàng Hậu đã ở Quảng Trị về từ khi đêm. Nhưng xe Ngài hiện còn ở cửa An Hòa, mời cụ cùng chúng tôi ra rước Ngài về điện.”

Tôi  lên xe ô tô của Hiến binh Nhật, cùng với quan Ba Hiến binh và ông Phó Lãnh sự ra cửa An Hòa. Ðến nơi thì thấy xe ngự đã ở đó, chung quanh có quân quan Nhật và một khẩu đại bác đương bắn vào đồn lính Tây ở Mang Cá. Tôi đến trước xe, tâu qua tình hình rồi rước Ngài về Ðiện. Ngài ban lời rằng xe tới từ khuya mà đậu chờ đợi ở đây mãi đến giờ. Rồi Ngài ban cho tôi lên xe, cùng Chầu vô Nội. Ði trước là xe của Hiến binh, trong xe vẫn có quan Ba Hiến binh và quan Phó Lãnh sư Nhậtï. Ðến trước cửa Hòa Bình, thì xe Hiến binh tránh ra một bên, để xe ngự vào. Tôi xuống gọi cửa, lính canh nghe rõ tiếng tôi và tiếng xe ngự, liền mở cửa. Xe Hiến binh xin phép  theo vào.

Ðến trước thềm lầu Kiến Trung, Hoàng Ðế và Hoàng Hậu xuống xe. Bấy giờ hai vị quan Nhật mới đ61n trình diện, cúi đầu chào, do tôi giới thiệu, và xin phép chầu Ngài mấy phút để tâu mấy lời. Hoàng Hậu lên lầu nghỉ, Hoàng Ðế liền ngự vào phòng khách, rồi ban lệnh cho tôi cùng hai vị cùng vào. Hoàng Ðế ngự ghế giữa, quan Ba Sơn Dã, đứng bên, rất kính cẩn nói mấy câu bằng tiếng Nhật, rồi trao một tờ giấy cho ông Ishida. Ông này dịch lại lời quan Ba ra tiếng Pháp có câu xin lỗi Hoàng Ðế, đêm khuya Ngài ngự về giọc đường, quan quân không biết, có điều gì sơ xuất xin Ngài ban xá. Rồi ông đọc tờ giấy viết chữ Pháp, đây là lời Quan Tổng Tư Lệnh Quân đội Nhật ở Ðông Dương, hiện ở Sài  Gòn, thỉnh cầu Hoàng Ðế và chính phủ Việt Nam hiệp sức với quân đội Nhật, và xin Hoàng Ðế cứ ngự tại Ðai Nội, không quan ngại gì, Hoàng quân sẽ bảo toàn châu đáo. ( 8 )

Ngài ban lời cảm ơn, và giao cho tôi giao thiệp với quí quan mọi việc. Hai ông Nhật cáo từ, lui ra, tôi cũng tâu xin về nhà, xin  để Ngài nghỉ, tôi sẽ vô chầu sau.

Hai ông Nhật cùng đi ra Bộ Lại với tôi, nói chuyện chừng mười lăm phút. Khi ấy vào khoảng mười giờ sáng Ngày 10. Ðương lúc nói chuyện thì viên hạ sĩ quan vào trình việc. Hai ông nói lại với tôi là ở Huế việc đã gần xong, chỉ còn đồn Mang Cá chống lại, chưa hàng mà thôi. Hai ông khuyên tôi cứ ở Bộ, đừng ra ngoài vội, vì đương khi đánh nhau, đạn lạc tên bay, có nguy hiểm. Tôi nói tôi phải vô Ðại Nội chầu Ngài, sợ lính Nhật canh các đầu đường trong thành có cản trở chăng, Quan Ba Sơn Dã liền cấp cho tôi một tờ thông hành để đi lại trong thành. Trước khi ra về, ông Ishida có tin cho tôi biết rằng hiện có quan Ðặc sứ Yokoyama ở Huế, ngài sẽ đến thăm tôi, nhưng không nói giờ nào. Tôi nói quan Sứ Yokoyama thì tôi đã biết, đã có dịp tiếp chuyện ngài năm trước, và sẽ hân hạnh được thừa tiếp lần nữa.

Bấy giờ tiếng súng đại bác và liên thanh vẫn không ngớt bắn vào đồn Mang Cá.

Chừng bốn giờ chiều thì có tin trong nội Hoàng Ðế triệu tôi. Tôi liền khăn áo vô chầu. Bấy giờ Hoàng Ðế, Từ Cung và Hoàng Hậu đương đứng ở sân lầu Kiến Trung. Tôi chầu chuyện ba ngài hồi lâu, rồi Hoàng Ðế ban cho tôi tối phải vào ngủ trong Nội, để túc trực phòng việc cần. Bấy giờ tiếng súng đã ngớt. Chợt nghe tiếng xe ở cửa Hòa Bình, rồi thấy tên lính canh chạy vào bẩm với tôi có hai xe ô tô quan Nhật xin vô Nội. Hoàng Ðế ban tôi ra tiếp, rồi Ngài ngự lên lầu.

Tôi truyền cho lính ra mở cửa để xe các quan Nhật vào. Tôi trực ở trước cửa Ngự Tiền Văn Phòng. Hai xe tới nơi, thời ở xe trước xuống, thấy quan Ðăïc sứ Yokoyama, Võ quan Lãnh sự Ishida tôi đã biết, đi cùng với quan Lãnh sự Watamata. Xe sau là xe võ quan và quân lính hộ vệ tùy tùng.

Tôi mời các quan lên buồng giấy nói chuyện. Sau mấy câu hàn huyên, quan Ðặc sứ tỏ ý muốn chầu Hoàng Ðế để tâu việc cần. Tôi liền qua lầu Kiến Trung để tâu lại, Ngài ban lệnh mời các quan vào phòng khách nói chuyện.

Hoàng Ðế ngồi giữa, Ðặc sứ Yokoyama ngồi tay phải, còn hai bên thì hai quan Lãnh sự Watamata và Ishida, với tôi.

Buổi tiếp kiến này là một giai đoạn rất quan hệ trong lịch sử nước ta, vì là cuộc gặp cấp cao nhất nước đề cập tới vấn đề độc lập của nước Việt Nam. Sau này tôi sẽ tường thuật về sự kiện lịch sử này, để cống hiến một tài liệu cho lịch sử quốc gia, tôi không tiện biên vắn tắt ngay bây giờ.

Sau cuộc tiếp kiến ấy, liền có cuộc họp hội đồng đặc biệt Viện Cơ Mật trong căn  phòng nhỏ tại lầu Kiến Trung vào lúc 7 giờ tối. Rồi 10 giờ đêm hôm ấy, các cụ Cơ Mật lại họp ở Bộ Lại để tiếp quan Ðặc sứ Nhật và thảo tờ Tuyên bố Ðộc Lập.

Hai cuộc hội đồng đó cũng như cuộc hội kiến trên, đều là những việc quan trọng, thuộc về lịch sử, tôi được may mắn dự vào, đóng một vai chính, sau này tôi sẽ kể lại  tường tận.

Phạm Quỳnh

Lá Cờ Quốc Gia VNCH thứ nhất xuất hiện ở Hà Nội Ngày 11 Tháng Ba, 1945.Cờ vàng có một dọc đỏ ở giữa. Trước năm 1945 nước An Nam không có Quốc Kỳ.

CTHàÐông: Tôi bùi ngùi xúc động khi tôi đọc bài viết trên đây của ông Phạm Quỳnh. Tôi cám ơn ông Phạm Quỳnh, nhờ ông tôi được biết một số sự việc xẩy ra trong triều đình nước tôi trong Ðêm 9 Tháng Ba năm 1945, khi quân Nhật tấn công quân Pháp, và rồi dân nước tôi, sau một đêm ngủ dậy, bỗng nhiên thấy nước mình được “độc lập!” Năm 1945 tôi 13 tuổi, lần đầu trong đời tôi nghe nói hai tiếng “độc lập”.

Nhật tấn công Pháp. Không những chỉ giới quan chức Nam triều mù tịt không biết gì mà cả những sĩ quan Pháp, như  Capitaine Bon, Quan Ba Võ-hộ-giá Vua A Nam, cũng mù tịt không biết gì cả. Năm 1945 Quan Ba Quân Ðội Ðại Pháp – Capitaine – đâu phải là chức vụ nhỏ. Vì triều Nguyễn có những ông vua xứng đáng là vua, không chịu làm vua bồ nhìn, như Vua Hàm Nghi, bỏ kinh đô đi vào rừng để lãnh đạo cuộc đánh Pháp, nên người Pháp đặt luôn chức quan gọi là Võ-hộ-giá – sĩ quan Pháp – để giữ chân Vua ta, không cho Vua ta được đi đâu mà người Pháp không biết. Nhà sĩ quan Pháp hộ giá ở ngay gần cung Vua. Vài ngày trước Ðêm  9 Tháng Ba 1945 Vua Bảo Ðại và bà Nam Phương đi chơi Quảng Trị, Quan Ba Bon phái một sĩ quan phụ tá dưới quyền đi theo Vua nên Quan ở nhà, mới 9 giờ tối Quan đã ngáo, nôm na là mới 9 giờ tối Quan đã vào giường Quan cút-xê con tôm, tức Quan ngủ, không những Quan chỉ ngủ thôi, mới 9 giờ tối Quan còn ngủ say nữa. Rất có thể sau bữa ăn rượu nồng, dê béo, Quan vào giường với một chị đàn bà A Nam có da, có thịt. Súng nổ đì đùng trong thành phố cả tiếng đồng hồ Quan vẫn an giấc điệp Phú-lang-sa, Quan vẫn không biết có sự gì xẩy ra, được lôi ra khỏi giường Quan ú a ú ớ. Quan Ba Bon bị Nhật bắt đi tù, bị đói dài, đói dẹt, không bánh mì, ruợu vang, phó-mát, da thịt, hơi hướm đàn bà trong mấy tháng là thật đáng.

Năm 1940 quân Nhật tiến vào thành phố Hải Phòng

Tôi hỡi ơi cho tình cảnh ông Bảo Ðại! Làm vua một nước mà trong nước có những hai quân đội ngọai quốc trấn đóng, hai ngoại nhân làm chủ nước. Làm Vua mà không được tự do đi lại trong vương quốc của mình. Làm Vua mà xe ô tô của mình, trên xe có vợ mình, bị quân ngoại quốc chặn lại giữa đường cả năm, bẩy tiếng đồng hồ. Theo lời kể của ông Phạm Quỳnh thì xe ô tô chở ông Bảo Ðại và bà Nam Phương từ Quảng Trị về Huế trong đêm, bị chặn lại trên đường vào kinh đô đến tám, chín giờ sáng hôm sau, khi Phó Lãnh Sự Nhật tới, Vua với Hậu  mới được vào thành. Cứ cho là xe về đến đó – nơi gọi là cửa An Hoà – vào lúc 12 giờ đêm, trong bẩy, tám tiếng đồng hồ ngồi trong xe – không có máy nóng, máy lạnh – nếu bà Nam Phương mót đái thì bà phải làm sao? Ðàn bà là phải đái, Hoàng Hậu là đàn bà, Hoàng Hậu cũng phải đái. Có khi Hoàng Hậu còn đái nhiều hơn đàn bà thường dân. Hoàng Ðế mà mót đái giữa đường thì Hoàng Ðế, tức Ngài Ngự  vào gốc cây Ngài Ngự  đái, lúc ấy Hoàng Ðế, hay Ngài Ngự, cũng như phó thường dân; nhưng Ngài Ngự đái đường cũng dễ thôi, Hoàng Hậu mà đái đường thì có sự phiền nhiễu; bị chặn lại giữa đường Hoàng Hậu mót đái Hoàng Hậu cũng phải vào sau bụi cây bên đường. Hoàng Hậu mà phải phong trần. Kể cũng tội!

Tôi théc méc về chuyện không biết tại sao người ta, người ta đây là đám cận thần, đám người hầu cận ông Bảo Ðại, lại gọi ông bằng hai tiếng “Ngài Ngự”? Như “Ngài ngự hồi loan, Ngài ngự chủ tọa phiên họp ở Ðàlạt…”…vv…

Sự kiện tôi muốn quí vị chú ý trong bài bút ký trên đây là trong năm 1945 cái gọi là chính phủ Nam triều nghèo quá đỗi, ông Phạm Quỳnh viết đúng sự thực, nhưng đọc ông mà tôi vẫn không thể tin được triều đình nước tôi năm 1945 lại có thể nghèo đến thế. Cái nghèo này có thể nói là nghèo mạt rệp, nghèo đến con rệp cũng đói meo, cũng dzẹp lép. Quan Thượng Thư của tôi, tức ông Thủ Tướng Chính Phủ nước tôi, không có cái xe ô tô mà đi. Sự quốc biến xẩy ra, đêm tối, súng nổ trong kinh thành, Thủ Tướng của tôi phải đi bằng xe kéo, tức xe do người kéo. Và Phủ Thượng Thư Bộ Lại, tức Phủ Tể Tướng, năm 1945, không có tô-lô-phôn. Thay vì ở Phủ gọi tô-lô-phôn vào nội cung, tức vào cung vua ở trong thành, là biết ngay Vua đã về cung hay chưa, Quan Thượng Thư Phạm Quỳnh phải ngồi xe kéo do người còng lưng kéo chạy lóc cóc lách cách trong đêm tối để đến cung vua. Thảm cảnh xã hội!

Ðoạn cuối bài “Chuyện Một Ðêm, Một Ngày”, ông Phạm Quỳnh viết:

“Sau cuộc tiếp kiến ấy, liền có cuộc họp hội đồng đặc biệt Viện Cơ Mật trong căn  phòng nhỏ tại lầu Kiến Trung vào lúc 7 giờ tối. Rồi 10 giờ đêm hôm ấy, các cụ Cơ Mật lại họp ở Bộ Lại để tiếp quan Ðặc sứ Nh65t và thảo tờ Tuyên bố Ðộc Lập.

Hai cuộc hội đồng đó cũng như cuộc hội kiến trên, đều là những việc quan trọng, thuộc về lịch sử, tôi được may mắn dự vào, đóng một vai chính, sau này tôi sẽ kể lại  tường tận.”

Rất tiếc! Bọn Việt Minh đã giết ông!

o O o

Mấy câu gọi là Sấm Trạng Trình về năm Ất Dậu trở lại với tôi:

Long vĩ, xà đầu khởi chiến tranh
Can qua xứ xứ khổ đao binh.
Mã đề, dương cước anh hùng tận,
Thân, Dậu niên lai kiến thái bình!

Chân Rồng, đầu Rắn – cuối năm Thìn, đầu năm Tỵ – chiến tranh nổ ra. Các nước khổ vì nạn đao binh.

Móng Ngựa, chân Dê – cuối năm Ngọ, cuối năm Mùi – hết anh hùng.

Năm Thân, năm Dậu đến, người ta được sống yên ổn.

Tôi không biết bốn câu trên có phải là do Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm viết ra  hay đó là tác phẩm của một ông nhà nho Bắc kỳ nào đó trong những năm 1940 đặt ra và gán cho Trạng Trình, tôi cũng không biết bốn câu ấy được lưu truyền tự bao giờ, chỉ biết tôi nghe nói đến bốn câu ấy trong những năm sau 1945. Và người ta nói đó là Lời Sấm của ông Trạng Trình.

Tôi không tin bốn câu ấy là của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bốn câu ấy, nhất là câu cuối “Thân, Dậu niên lai kiến thái bình..”, đúng với tình trạng các nước Âu châu, không đúng với tình trạng đất nước và nhân dân Việt Nam. Năm Dậu đến, dân Việt Nam không những không thấy thái bình mà còn bị đẩy vào cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn dài đến ba mươi năm. Còn nếu Trạng Trình là tác giả bốn câu ấy, tôi thất vọng về ông. Ông biết đến năm Ất Dậu chiến tranh thế giới kết thúc, người thế giới được sống trong hòa bình nhưng ông không biết đến năm Ất Dậu dân tộc ông bị nạn đói chết cả triệu người, người chết đói đầy đường, ông cũng không biết đến năm Ất Dậu, người ở nước nào đâu được hưởng thái bình nhưng người nước ông bị đẩy vào cuộc chiến tranh tương tàn khủng khiếp nhất trong lịch sử dân tộc!.

Từ năm Ất Dậu 1945 đất nước Việt Nam của tôi là một biển máu và nước mắt!

CÔNG TỬ HÀ ÐÔNG

1.    Trong khoá Tri Huyện cuối cùng này có thể có ông Trần Chánh Thành. Mấy ông Tân Tri Huyện khoá này chắc không ông nào được hưởng một tháng tiền lương Tri Huyện.

2.    Năm 1942 nước ta có Giải Văn Chương Gia Long. Tác phẩm tiểu thuyết được Giải Văn Chương Gia Long năm 1942 là văn phẩm “ Ðồi Thông Hai Mộ.” Rất có thể tác phẩm “Ðồi Thông Hai Mộ” đoạt Giải Văn Chương Thứ Nhất của Quốc Gia Việt Nam  là điềm báo trước những Giải Văn Chưong sau đó đều có cảnh sắc tha ma, mộ đia.

3.    Năm xưa tôi nghe người lớn nói phi cơ Mỹ đến ném bom Hà Nội bay lên từ phi trường Côn Minh, Trùng Khánh bên Tầu. Không biết những phi cơ Mỹ đánh bom Sài Gòn bay lên từ đâu.

4.    Thủ Tướng Trần Trọng Kim thành lập chính phủ ngày 17 Tháng Tư, 1945, chính phủ tan hàng ngày 7 Tháng 8, 1945. Chỉ trong có 110 ngày, chính phủ Trần Trọng Kim làm được một số việc đáng kể, trong số có việc đưa gạo từ Nam Kỳ ra bán giá rẻ cho dân Bắc Kỳ. Sẽ có bài Viết ở Rừng Phong riêng về những việc làm của chính phủ Trần Trọng Kim.

5.    Ông Hồ Nhật Tân, năm 1945 là Ðảng Trưởng Ðảng Việt Nam Ái Quốc thân nước Ðại Nippon, chủ trương thành lập Khối Ðại Tân Á do Nhật lãnh đạo, là một chính trị gia ở chính trường Sài Gòn những năm 1960.

6.    Việt Minh giết ông Khâm sai Nam Bộ Nguyễn Văn Sâm, ông Hội đồng Tư Vấn Hồ Văn Ngà ở Sài Gòn. Ông Khâm Sai Phan Kế Toại vẫn sống ở miền Bắc.

7.    Vua Bảo Ðại ban Dụ “phục hồi công quyền” cho những người làm chính trị chống Pháp. Lời ghi này không rõ rệt. Tháng 8 năm 1945 chính phủ Trần Trọng Kim phái ông Ủy Viên Trần Tấn Phát ra Côn Ðảo cho một số tù chính trị về đất liền. Trong só tù nhân Côn Ðảo được chính phủ đón về nước tháng ấy, năm ấy, có các ông Tù Phan Khắc Sửu, ông Tù Nguyễn Bính Thinh, ông Tù NB Thinh những năm 1960 là Nhà Văn An Khê, và một số tù Công trong có Lê Duẩn, Phạm Hùng. Khi tầu chở các ông Tù Côn Ðảo này về đến bến Sài Gòn thì Việt Minh đã cướp quyền ở Sài Gòn. Bọn Tù Cộng được đồng bọn đón, đưa đi sống an toàn, những ông Tù Quốc Gia bơ vơ. Sau đó, Thực Dzân Pháp coi những ông Tù Côn Ðảo về nước Tháng 8 1945 là Tù Vượt Ngục, ra lệnh bắt lại. Lại hứa sẽ có bài viết chi tiết về sự kiện này. CTHÐ

Advertisements

10 Responses

  1. Trích:

    …”nếu bà Nam Phương mót đái thì bà phải làm sao? Ðàn bà là phải đái, Hoàng Hậu là đàn bà, Hoàng Hậu cũng phải đái. Có khi Hoàng Hậu còn đái nhiều hơn đàn bà thường dân. ”

    (ngưng trích).

    Vợ chồng tôi đang cãi nhau bực bội, tôi bèn ngồi vô máy và đọc tới đoạn văn trên thì nhịn cười không nổi nên phải cười to tiếng. Vợ hỏi: chửi nhau vui lắm sao mà cười? Tôi đọc đoạn văn trên. Ả đỏ mặt đồng ý và… cười theo!

    Hết cãi!

  2. A score number of “Trang Trinh’s prophecies” are actually a bunch of fibs (called B.S in modern language), all made up by the Chinese or cult leaders to deceive our under-educated people.

    Ask yourself two questions: How many of such “prophecies” has come true ? and, Who can authenticate them to be truly the words of Trang Trinh?

  3. Đã đành, quân Nhật tàn ác đã làm ngót hai triệu dân VN phải chết đói qua việc bắt nông dân bỏ lúa trồng đay năm Ất Dậu. Tội ác ấy khó quên và cũng khó tha, vì nước Nhật chưa bao giờ nói lên một lời xin lỗi với các dân tộc năm xưa đã bị họ giày xéo, trong đó có dân VN.

    Nhưng nói cho cùng thì họ không cùng giống nòi nên không biết xót xa trưóc cái chết của dân ta. Cho nên đó là điều dù đáng lên án đến đâu vẫn còn có lô gích của nó. Bọn phát xít, thực dân, đế quốc có một đăc điểm chung là càng chà đạp đày đọa ngoại nhân chừng nào thì họ càng bảo vệ cưu mang đồng bào họ chừng nấy.

    Trong lịch sử nhân loại, chắc chắn chỉ có các đảng cs, nhất là đảng cs VN là làm ngược lại. Hết kêu gào đồng bào hy sinh xương máu chống ngoại xâm giành lại nền độc lập tự do cho đất nước, chúng tiếp tục giết dân qua nhiều thời kỳ bằng những cuộc “đấu tranh giai cấp” rồi đến “cải tạo xã hội” bằng nhiều hình thức. Hết chính sách này đến chủ trương nọ chỉ để chống chỏi những kẻ thù tưởng tượng. … Cứ thử làm một bản liệt kê sơ khởi tổng kết những tội ác của thực dân, đế quốc so với những “công lao” của bọn ăn cướp tự xưng là đảng cs thì thấy. Quả là thực dân và đế quốc có tàn ác đến đâu cũng thua xa những thành tích giết dân hại nước của bọn ăn cướp này. Để làm gì? Để rồi sau đó chúng tọa nhiên hưởng trọn thành quả xương máu của đồng bào mình và sẵn sàng thi hành bất kỳ thủ đoạn nào để củng cố quyền lợi phe đảng của chúng.

    Chính chúng mới là thủ phạm đày đoạ, giết chóc đồng bào chúng không gớm tay, hết năm này qua năm khác.

    Riêng đối với dân tộc VN thì quả là đảng cs đã lập nên thành tích phi thường mà từ giặc tàu đô hộ dân ta một ngàn nămcho đến giặc Pháp cai trị dân ta một trăm năm vẫn không làm nổi.

    ĐÓ LÀ DÙ TÀN ÁC, THÂM ĐỘC ĐẾN ĐÂU BỌN PHONG KIẾN VÀ THỰC DÂN KHÔNG THỂ DIỆT NỔI ÓC QUẬT CƯỜNG VÀ Ý CHÍ ĐỘC LẤP, TỰ CHỦ CỦA DÂN TỘC VN. ĐẢNG CSVN LÀ NGƯỜI DUY NHẤT LÀM ĐƯỢC CHUYỆN ẤY !

    • “ĐÓ LÀ DÙ TÀN ÁC, THÂM ĐỘC ĐẾN ĐÂU BỌN PHONG KIẾN VÀ THỰC DÂN KHÔNG THỂ DIỆT NỔI ÓC QUẬT CƯỜNG VÀ Ý CHÍ ĐỘC LẤP, TỰ CHỦ CỦA DÂN TỘC VN. ĐẢNG CSVN LÀ *** lũ mặt người dạ thú*** DUY NHẤT LÀM ĐƯỢC CHUYỆN ẤY”

      Chưa chắc đâu bác P. Lê ạ ,

      Em tin rằng tộc Việt chúng ta không chịu khuất phục dễ dàng như vậy đâu.

  4. Thưa Bác HHT,
    Có phải ông Trần Chánh Thành bác nhắc đến trong phần phụ lục sau này làm Tổng Trưởng Chiêu Hồi không ạ???
    Cám ơn Bác,Kính///

    • 23/03/2011

      Thua ong Nam Tong,
      Ong Tran chanh Thanh lam Bo Truong Thong Tin duoi thoi Viet Nam Cong Hoa – De Nhat ma Tong Thong la ong Ngo dinh Diem.
      Kinh

      • Cám ơn bác Phuong Hoang,ví ngày xưa bố cháu làm dưới Quyền ông TCT mà bố cháu trước 63 làm cho bộ Thông Tin,sau 63 làm cho bộ Chiêu Hồi nên cháu hỏi vậy.
        Kính///

  5. Viet cong bi tau quanh,keu obama cuu,tau no khong thich my cuu Viet cong va dan minh.

  6. Đọc bài này, ta có cảm tưởng việc thay đổi hoặc lật đổ chính quyền ở VN thời đó sao mà dễ dàng thế!

    — Pháp chỉ cần vài ngàn quân, dăm ba tàu chiến với ít súng đạn xét ra cũng chưa đủ để trang bị cho một tiểu đoàn hiện đại. Thế mà chúng chỉ cần đánh chiếm vài tỉnh Nam bộ là đủ làm cho vua tôi nhà Nguyễn nao núng, đến nỗi chỉ sau vài năm, Tự Đức phải chịu thua và ký hoà ước Patenotre cho chúng áp đặt ách đô hộ trên toàn cõi VN..

    — Nhật đảo chánh Pháp chỉ trong một đêm, như bài này đã tường thuật.

    — Việt Minh dùng một bọn côn đồ để cưóp chính quyền một cách dễ dàng ngay trong ngày 2 tháng 9 năm 1945. Đó là thời điểm và họ Hồ và đồng bọn không có một thực lực nào trong chính phủ liên hiệp thuở ấy và đáng lẽ ngay cả hắn cũng không được lên phát biểu trong ngày hôm ấy.

    Trong khi đó, một khi cộng sản đã nắm chính quyền thì không thể hoặc rất khó mà lật đổ bọn này, là vì sao?

    Xin thưa là vì chế độ phong kiến năm xưa dù có cường hào ác bá đến đâu, phát xít Nhật có tàn nhẫn đến đâu, thực dân Pháp có lưu manh đến đâu, chính quyền tay sai của thực dân Pháp có đắc lực đến đâu, vẫn không tàn ác, côn đồ, lật lọng, thâm đôc và hiếu sát bằng bọn cướp tên gọi là đảng cs VN này. Nhà Nguyễn, thực dân Pháp, phát xít Nhật cũng như chính phủ bù nhìn Bảo Đại– Trần Trọng Kim khi thấy thế trận không thể thắng được thì đành chịu hàng chứ không để lụy đến dân quá lâu và bắt dân phải hy sinh quá nhiều.

    Ngược lại, cứ hễ chế độ của bọn ăn cướp này lâm nguy là họ hồ và đồng đảng của hắn bắt dân phải “đánh cho đến khi còn cái lai quần cũng còn đánh” (lời của cộng cái Nguyễn Thị Định). Hết đàn ông thì lùa đàn bà, hết người lớn thì lôi con nít ra, hết thanh niên thì xua đẩy cả ông già bà lão xông tới, thế hệ này chưa đủ thì bắt những thế hệ kế tiếp tục hy sinh cho chúng củng cố quyền lực.

    Nhân dân có “phấn đấu”, “khắc phục” đến đâu cho chúng củng cố chế độ thì rốt cuộc chỉ có nhân dân là phải chịu chết chóc, đói khổ, thiệt thòi, còn bọn chúng thì chẳng những đã không hề mảy may rụng một sợi lông cọng tóc nào, lại cứ sống nhăn răng và tiếp tục đè đầu cỡi cổ ngưòi dân! Thử hỏi ai có thể khuynh đảo nổi chế độ của bọn ăn cướp này?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: